Chủ Nhật, Tháng 4 26, 2026
* Email: bbt.dongnama@gmail.com *Tòa soạn: 0989011688 - 0768908888
spot_img
[gtranslate]

26/4/1975 – Tiến về Sài Gòn – Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử



ĐNA -

Sau khi thế trận chiến lược quanh Sài Gòn được củng cố vững chắc qua các thắng lợi liên tiếp, ta đã sẵn sàng cho trận quyết chiến cuối cùng. Quyết định mở tổng công kích ngày 26/4/1975 và đặt tên Chiến dịch Hồ Chí Minh là dấu mốc lịch sử, đánh dấu bước chuyển từ tiến công chiến lược sang giai đoạn quyết chiến cuối cùng, huy động toàn bộ sức mạnh tổng hợp tiến vào trung tâm đầu não của ngụy quyền Sài Gòn để thực hiện trọn vẹn di huấn của Bác Hồ kính yêu.

Bộ Chỉ huy Chiến dịch Hồ Chí Minh tại căn cứ Tà Thiết – Lộc Ninh (tháng 4/1975). Ảnh: TTXVN.

Mệnh lệnh lịch sử – giờ G đã đến
Quyết định mở cuộc tổng công kích vào Sài Gòn của Bộ Chính trị Trung ương Đảng không chỉ là một mệnh lệnh quân sự, mà còn là kết quả của quá trình phân tích sâu sắc tương quan lực lượng, cục diện chiến trường và thời cơ chiến lược đã chín muồi. Sau thắng lợi của các chiến dịch lớn như Tây Nguyên, Huế – Đà Nẵng đầu năm 1975, cục diện chiến tranh đã chuyển biến nhanh chóng theo hướng có lợi cho ta. Ngụy quyền Sài Gòn rơi vào khủng hoảng nghiêm trọng cả về quân sự, chính trị lẫn tinh thần, trong khi lực lượng cách mạng không ngừng lớn mạnh, làm chủ thế trận trên hầu khắp các chiến trường trọng điểm. Đây là bước ngoặt mang tính bản lề, thể hiện tầm nhìn chiến lược, sự chủ động và quyết đoán của Đảng trong thời khắc quyết định của lịch sử dân tộc.

Sự nhạy bén trong việc nắm bắt thời cơ được thể hiện qua việc kịp thời chuyển từ kế hoạch giải phóng miền Nam trong hai năm (1975–1976) sang quyết tâm hoàn thành ngay trong năm 1975. Hội nghị Bộ Chính trị tháng 3 và tháng 4/1975 đã đi đến kết luận lịch sử: phải tranh thủ thời cơ “một ngày bằng hai mươi năm”, nhanh chóng kết thúc chiến tranh trước khi đối phương có thể củng cố lại lực lượng hoặc có sự can thiệp từ bên ngoài. Quyết định này cho thấy sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa tư duy chiến lược dài hạn và khả năng chớp thời cơ cực kỳ linh hoạt.

Việc lựa chọn thời điểm tiến công phản ánh rõ quy luật của chiến tranh cách mạng: chỉ phát động tổng tiến công khi “thế” và “lực” đã hội tụ đầy đủ. Lúc này, quân ta đã hình thành thế bao vây chiến lược đối với Sài Gòn từ nhiều hướng: Quân đoàn 1 từ phía Bắc, Quân đoàn 2 từ hướng Đông, Quân đoàn 3 từ Tây Bắc, Quân đoàn 4 từ Đông Nam, Đoàn 232 cơ động qua địa hình phức tạp của Long An cắt đứt hoàn toàn tuyến lộ 4, huyết mạch nối Sài Gòn với đồng bằng sông Cửu Long, cùng với lực lượng vũ trang địa phương cùng biệt động nội đô từ bên trong. Trong khi đó, hệ thống phòng thủ của đối phương bị phá vỡ từng mảng, nhiều đơn vị tan rã hoặc mất khả năng chiến đấu. Các tuyến phòng thủ vòng ngoài như Xuân Lộc, cửa ngõ phía Đông Sài Gòn dù được địch cố gắng giữ vững nhưng cuối cùng cũng bị đánh bại, mở toang cánh cửa tiến vào trung tâm.

Công tác chuẩn bị cho chiến dịch được triển khai toàn diện và khẩn trương ở mức cao nhất. Hệ thống hậu cần chiến lược được bảo đảm thông suốt với việc mở rộng và nâng cấp tuyến đường Trường Sơn, cho phép vận chuyển khối lượng lớn vũ khí, đạn dược và lực lượng vào chiến trường miền Nam. Hàng chục vạn bộ đội chủ lực, cùng lực lượng dân quân, du kích và quần chúng cách mạng được huy động, tạo nên sức mạnh tổng hợp chưa từng có. Tinh thần chiến đấu của bộ đội và nhân dân được nâng cao mạnh mẽ, với niềm tin chắc thắng sau những chiến thắng dồn dập trước đó.

Sự kết hợp giữa chuẩn bị lâu dài và chớp thời cơ chính xác đã khiến quyết định tổng công kích trở thành tất yếu lịch sử. Đây không phải là hành động mang tính mạo hiểm, mà là kết quả của một quá trình tính toán chiến lược kỹ lưỡng, dựa trên thực tiễn chiến trường và quy luật vận động của chiến tranh cách mạng. Bộ Chỉ huy chiến dịch đã xây dựng kế hoạch tác chiến khoa học, với phương châm “thần tốc, táo bạo, bất ngờ, chắc thắng”, đảm bảo các mũi tiến công hiệp đồng chặt chẽ, đánh thẳng vào các mục tiêu then chốt như Bộ Tổng tham mưu, sân bay Tân Sơn Nhất, Dinh Độc Lập và các cơ quan đầu não của ngụy quyền Sài Gòn.

Trong toàn bộ quá trình đó, sự thống nhất cao độ giữa ý chí lãnh đạo của Đảng và hành động của toàn quân, toàn dân đã tạo nên một sức mạnh đặc biệt. Mỗi đơn vị, mỗi chiến sĩ đều nhận thức rõ trách nhiệm lịch sử của mình, biến quyết tâm chính trị thành hành động cụ thể trên chiến trường. Đồng thời, phong trào nổi dậy của quần chúng trong nội đô và các vùng ven đã phối hợp chặt chẽ với các mũi tiến công quân sự, tạo nên thế trận “trong đánh ra, ngoài đánh vào”, làm tan rã nhanh chóng bộ máy chính quyền đối phương.

Mệnh lệnh tiến công vì vậy không chỉ mở ra một chiến dịch quân sự quy mô lớn, mà còn đánh dấu giai đoạn kết thúc của cuộc chiến tranh kéo dài hơn hai thập kỷ. Khi tiếng súng tổng công kích đồng loạt nổ ra vào giờ G ngày 26/4/1975, đó cũng là lúc cục diện chiến tranh bước sang chương cuối.

Giờ G ngày 26/4 vì thế trở thành một cột mốc chói lọi trong lịch sử dân tộc, thời điểm hội tụ của ý chí độc lập, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân và nghệ thuật quân sự Việt Nam. Từ thời khắc ấy, niềm tin về một Việt Nam thống nhất, hòa bình không còn là khát vọng xa vời, mà đã trở thành hiện thực đang đến rất gần.

Bộ đội lên máy bay vận tải vào miền Nam tham gia chiến dịch Hồ Chí Minh, giải phóng Sài Gòn (tháng 4/1975). (Ảnh: TTXVN)

Năm cánh quân – thế trận hợp vây hoàn chỉnh
Việc tổ chức năm cánh quân tiến công vào Sài Gòn không chỉ là sự phân chia lực lượng theo hướng chiến dịch, mà còn là đỉnh cao của nghệ thuật tổ chức và sử dụng lực lượng trong chiến tranh nhân dân Việt Nam. Đây là kết quả của quá trình tích lũy kinh nghiệm qua nhiều năm chiến đấu, đặc biệt từ các chiến dịch hiệp đồng quy mô lớn trước đó. Thế trận được xây dựng nhằm tạo ra vòng vây khép kín, cô lập hoàn toàn trung tâm đầu não của đối phương, đồng thời triệt tiêu mọi khả năng cơ động chiến lược, ứng cứu lẫn nhau giữa các lực lượng địch.

Cách bố trí lực lượng thể hiện rõ tư duy “đánh điểm, diệt viện”, kết hợp giữa tiến công chính diện và thọc sâu, chia cắt chiến lược với bao vây chiến thuật. Các quân đoàn chủ lực được triển khai trên những hướng then chốt, đan xen với lực lượng địa phương và biệt động, tạo nên một mạng lưới tác chiến nhiều tầng, nhiều lớp. Không chỉ kiểm soát các trục giao thông huyết mạch, thế trận này còn khống chế các khu vực trọng yếu như sân bay Tân Sơn Nhất, Bộ Tổng tham mưu, các căn cứ quân sự và hệ thống chỉ huy của đối phương.

Mỗi hướng tiến công được xác định rõ vai trò và mục tiêu cụ thể, bảo đảm tính hiệp đồng chặt chẽ trong toàn chiến dịch. Quân đoàn 4 từ hướng Đông đảm nhiệm đột phá mạnh vào tuyến phòng thủ quan trọng, mở cửa ngõ tiến vào nội đô. Quân đoàn 2 từ Đông Nam thực hiện các mũi thọc sâu, nhanh chóng áp sát các mục tiêu chiến lược. Quân đoàn 3 từ Tây Bắc có nhiệm vụ chia cắt, ngăn chặn khả năng cơ động và tổ chức lại lực lượng của địch. Quân đoàn 1 từ phía Bắc siết chặt vòng vây, khống chế các tuyến đường quan trọng. Trong khi đó, Đoàn 232 hoạt động ở hướng Tây và Tây Nam, cắt đứt hoàn toàn đường rút lui và tiếp viện, đặc biệt là về đồng bằng sông Cửu Long.

Sự phối hợp giữa các cánh quân không chỉ dừng lại ở cấp độ chiến thuật mà đạt tới trình độ hiệp đồng chiến dịch, chiến lược. Các mũi tiến công được triển khai đồng loạt theo nguyên tắc “đánh nhanh, thắng nhanh”, tạo nên sức ép liên tục và toàn diện. Khi một hướng phát triển thuận lợi sẽ hỗ trợ, kéo giãn và làm suy yếu các hướng còn lại của đối phương. Ngược lại, nếu gặp kháng cự, các hướng khác sẽ gia tăng áp lực, buộc địch không thể tập trung lực lượng đối phó. Chính sự linh hoạt này đã khiến hệ thống phòng thủ của đối phương nhanh chóng rơi vào thế bị động, rối loạn.

Thế trận năm cánh quân còn thể hiện rõ sự kết hợp giữa tiến công quân sự và nổi dậy của quần chúng. Lực lượng biệt động và cơ sở cách mạng trong nội đô đóng vai trò dẫn đường, đánh chiếm các mục tiêu then chốt, hỗ trợ các đơn vị chủ lực khi tiến vào thành phố. Điều này tạo nên thế trận “trong – ngoài phối hợp”, khiến đối phương bị đánh từ nhiều phía, cả về không gian lẫn tâm lý. Các trung tâm chỉ huy, kho tàng, tuyến liên lạc của địch bị tê liệt nhanh chóng, làm suy giảm nghiêm trọng khả năng chỉ huy và điều hành chiến đấu.

Khi các hướng tiến công đồng loạt phát huy hiệu quả, không gian chiến lược của đối phương bị thu hẹp với tốc độ rất nhanh. Các sân bay, cảng biển, vốn là những điểm then chốt để tiếp viện hoặc rút lui đều nằm trong tầm kiểm soát hoặc hỏa lực của ta. Địch bị cô lập hoàn toàn, không còn khả năng nhận hỗ trợ từ bên ngoài, đồng thời cũng không thể tổ chức một cuộc phản công có ý nghĩa. Áp lực quân sự kết hợp với khủng hoảng tinh thần đã khiến hệ thống phòng ngự sụp đổ nhanh chóng.

Năm cánh quân vì vậy đã tạo nên một vòng vây chiến lược hoàn chỉnh, biến Sài Gòn thành một mục tiêu bị cô lập tuyệt đối. Sức mạnh từ các hướng hội tụ về trung tâm như một thế “hợp điểm”, tạo ra ưu thế áp đảo trong thời gian ngắn. Đây là minh chứng rõ nét cho sự trưởng thành vượt bậc của Quân đội nhân dân Việt Nam trong nghệ thuật tác chiến hiệp đồng quân binh chủng quy mô lớn.

Thế trận này không chỉ bảo đảm thắng lợi nhanh chóng mà còn góp phần hạn chế tối đa thiệt hại cho thành phố và dân thường. Việc đánh thẳng vào các mục tiêu đầu não, làm tê liệt hệ thống chỉ huy thay vì kéo dài giao tranh đã thể hiện tính nhân văn và tính toán chiến lược sâu sắc. Có thể nói, năm cánh quân không chỉ là một phương án tác chiến, mà là lời giải tối ưu cho bài toán kết thúc chiến tranh một cách nhanh gọn, hiệu quả và ít tổn thất nhất.

Xe tăng của Quân đoàn 1 vượt sông, chuẩn bị tham gia Chiến dịch Hồ Chí Minh, ngày 2/4/1975. Ảnh: Tư liệu/TTXVN.

Đòn đánh mở cửa – hệ thống phòng thủ tan rã
Đòn tiến công mở cửa trong Chiến dịch Hồ Chí Minh không chỉ nhằm phá vỡ một tuyến phòng ngự cụ thể, mà còn mang ý nghĩa chiến lược khi đánh trúng vào mắt xích then chốt của toàn bộ hệ thống phòng thủ của ngụy quyền Sài Gòn. Trọng điểm của đòn đánh là khu vực Xuân Lộc, vị trí được đối phương coi là “cánh cửa thép” bảo vệ hướng Đông, cửa ngõ trực tiếp dẫn vào Sài Gòn. Sau khi mất Tây Nguyên và miền Trung, đối phương dồn lực lượng tinh nhuệ còn lại, đặc biệt là Sư đoàn 18 cùng nhiều đơn vị tăng cường, để cố giữ bằng được khu vực này như một nỗ lực cuối cùng nhằm chặn bước tiến của quân ta.

Trận chiến tại Xuân Lộc (từ ngày 9 đến 21/4/1975) diễn ra vô cùng ác liệt, với cường độ hỏa lực lớn và sự giằng co quyết liệt giữa hai bên. Địch sử dụng pháo binh, không quân và xe tăng nhằm giữ vững phòng tuyến, trong khi quân ta triển khai thế tiến công hiệp đồng, từng bước chia cắt, bao vây và làm suy yếu lực lượng phòng thủ. Với quyết tâm cao và cách đánh linh hoạt, quân ta đã buộc đối phương phải rút bỏ vị trí then chốt này, đánh dấu sự sụp đổ của tuyến phòng ngự mạnh nhất ở cửa ngõ phía Đông Sài Gòn.

Khi Xuân Lộc thất thủ, không chỉ một cứ điểm bị đánh mất mà toàn bộ hệ thống phòng thủ chiến lược của đối phương bị rung chuyển từ gốc. Đây là mắt xích quan trọng liên kết các tuyến phòng thủ vòng ngoài, nên khi bị phá vỡ đã kéo theo sự đổ vỡ dây chuyền của các khu vực lân cận. Ý đồ xây dựng một tuyến phòng thủ kéo dài để cầm chân quân ta hoàn toàn phá sản. Sự kiện này cũng phơi bày rõ sự suy yếu về tinh thần và năng lực chiến đấu của các đơn vị chủ lực đối phương, khiến nhiều vị trí phòng thủ khác rơi vào trạng thái hoang mang, rối loạn chỉ huy.

Hiệu ứng dây chuyền nhanh chóng lan rộng ra toàn chiến trường. Các khu vực trọng yếu như Biên Hòa, Long Bình, nơi có căn cứ quân sự và hậu cần lớn cùng các hướng Bình Dương, Tây Ninh lần lượt bị chia cắt. Hệ thống chỉ huy, tiếp vận của đối phương bị tê liệt nghiêm trọng, khiến các đơn vị không còn khả năng phối hợp tác chiến. Trong bối cảnh đó, quân địch buộc phải co cụm về nội đô Sài Gòn trong thế bị động, đánh mất hoàn toàn quyền chủ động chiến lược.

Cùng với đó, nhiều kho tàng, căn cứ hậu cần quan trọng rơi vào tay quân ta, làm suy giảm nhanh chóng tiềm lực chiến tranh của đối phương. Tuyến phòng thủ từ xa bị xóa bỏ, các trục tiến công vào Sài Gòn được khai thông, tạo điều kiện thuận lợi cho các binh đoàn chủ lực cơ động nhanh chóng, áp sát mục tiêu. Đường vào nội đô từ phía Đông, hướng quan trọng nhất giờ đây đã rộng mở, tạo bàn đạp trực tiếp cho giai đoạn tổng công kích.

Đòn đánh mở cửa vì vậy mang ý nghĩa quyết định về mặt chiến lược. Nó không chỉ tạo ra bước đột phá về quân sự mà còn làm thay đổi căn bản cục diện chiến tranh trong thời gian rất ngắn. Giống như một “cú đấm thép”, chiến thắng tại Xuân Lộc đã xé toang lớp phòng thủ cuối cùng, đẩy đối phương vào thế sụp đổ không thể cứu vãn. Đồng thời, chiến thắng này khẳng định sự đúng đắn trong nghệ thuật lựa chọn hướng và điểm đột phá của Bộ Chỉ huy chiến dịch.

Từ sau Xuân Lộc, nhịp độ tiến công của quân ta được đẩy lên mức cao nhất với phương châm “thần tốc, táo bạo, bất ngờ”. Các binh đoàn chủ lực nhanh chóng tiến về Sài Gòn, không cho đối phương bất kỳ thời gian nào để củng cố lực lượng hay tái lập phòng tuyến. Sự sụp đổ của hệ thống phòng thủ không chỉ là thất bại quân sự, mà còn là dấu hiệu rõ ràng cho thấy sự tan rã toàn diện của ngụy quyền Sài Gòn. Từ thời điểm này, hồi kết của cuộc chiến gần như đã được định đoạt, và ngày toàn thắng chỉ còn tính bằng ngày.

Sư đoàn 312, Quân đoàn 1 đánh chiếm sân bay Ông Lĩnh – Bình Chuẩn, ngày 27/4/1975. Ảnh: Tư liệu/TTXVN.

Ngụy quyền Sài Gòn – sự sụp đổ không thể cứu vãn
Sự sụp đổ của ngụy quyền Sài Gòn trong những ngày cuối tháng 4/1975 không chỉ là kết quả trực tiếp của các đòn tiến công quân sự dồn dập, mà còn là hệ quả tất yếu của một quá trình khủng hoảng kéo dài về chính trị, quân sự và xã hội. Sau Hiệp định Paris năm 1973, khi lực lượng Mỹ rút quân, ngụy quyền dần mất đi chỗ dựa chiến lược quan trọng nhất. Dù vẫn nhận được một phần viện trợ, nhưng quy mô và hiệu quả đều suy giảm rõ rệt, không đủ để duy trì một guồng máy chiến tranh vốn đã phụ thuộc nặng nề vào ngoại lực. Điều này khiến nền tảng tồn tại của chế độ ngày càng lung lay.

Khi chiến dịch bước vào giai đoạn quyết định, những yếu kém tích tụ từ trước đồng loạt bộc lộ. Những kỳ vọng về sự can thiệp trở lại của Mỹ nhanh chóng tan biến trong bối cảnh dư luận và Quốc hội Mỹ không còn ủng hộ việc tiếp tục dính líu quân sự tại Việt Nam. Các kế hoạch cầu viện trở nên vô vọng, đẩy giới lãnh đạo Sài Gòn vào trạng thái hoang mang và bế tắc. Tinh thần phụ thuộc kéo dài trước đó khiến họ không thể tự xoay xở khi tình thế chuyển biến nhanh chóng ngoài tầm kiểm soát.

Biến động chính trị nội bộ càng làm tình hình thêm rối ren. Sau khi Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu từ chức ngày 21/4/1975, quyền lực được chuyển giao trong vội vã và thiếu ổn định. Các nhân vật kế nhiệm như Trần Văn Hương rồi Dương Văn Minh đều không đủ thời gian và thực lực để kiểm soát tình hình. Sự chia rẽ trong nội bộ, cùng với các phe phái tranh giành ảnh hưởng trong thời khắc quyết định, đã khiến bộ máy lãnh đạo rơi vào tình trạng tê liệt. Nhiều quan chức cấp cao tìm cách di tản ra nước ngoài, góp phần làm tan rã thêm hệ thống hành chính và chỉ huy.

Trên thực địa, quân ngụyi Sài Gòn suy sụp nhanh chóng cả về tổ chức lẫn tinh thần chiến đấu. Sau những thất bại liên tiếp ở Tây Nguyên, Huế, Đà Nẵng và đặc biệt là Xuân Lộc, niềm tin vào khả năng cầm cự gần như không còn. Nhiều đơn vị mất liên lạc với cấp trên, không nhận được mệnh lệnh rõ ràng, dẫn đến tình trạng tự tan rã hoặc rút chạy hỗn loạn. Hiện tượng binh lính bỏ ngũ, vứt bỏ vũ khí, cải trang để lẩn trốn diễn ra phổ biến, cho thấy sự khủng hoảng toàn diện của một quân đội mất ý chí chiến đấu.

Hệ thống chỉ huy, điều hành gần như tê liệt khi các tuyến thông tin bị gián đoạn và các trung tâm chỉ huy liên tục bị uy hiếp. Những nỗ lực tổ chức phòng thủ Sài Gòn trở nên rời rạc, thiếu phối hợp và không còn hiệu quả. Trong khi đó, áp lực tiến công từ nhiều hướng của quân giải phóng ngày càng gia tăng, khiến mọi phương án chống đỡ đều nhanh chóng bị phá vỡ. Thành phố rơi vào trạng thái hỗn loạn, với dòng người di tản, tâm lý hoang mang lan rộng và niềm tin vào chính quyền suy giảm nghiêm trọng.

Sự sụp đổ của ngụy quyền Sài Gòn vì thế là kết quả của sự cộng hưởng giữa khủng hoảng nội tại và sức ép quân sự từ bên ngoài. Một thể chế được xây dựng dựa trên sự bảo trợ của ngoại bang đã không thể đứng vững khi chỗ dựa đó không còn. Đồng thời, việc không nhận được sự ủng hộ rộng rãi từ nhân dân cũng khiến chế độ này thiếu đi nền tảng xã hội cần thiết để tồn tại trong thời điểm thử thách.

Tất cả những yếu tố đó đã đẩy ngụy quyền Sài Gòn đến một kết cục không thể đảo ngược. Sự sụp đổ không diễn ra đột ngột, mà là điểm kết của một quá trình suy yếu kéo dài, được thúc đẩy nhanh chóng bởi các đòn tiến công chiến lược của quân giải phóng. Đây cũng là minh chứng rõ ràng cho thất bại của mô hình thực dân mới tại Việt Nam, khi một chính quyền không có tính độc lập thực sự và không gắn bó với lợi ích dân tộc thì khó có thể tồn tại bền vững trước những biến động lớn của lịch sử.

Ngày 9/4/1975, quân ta tiến công thị trấn Xuân Lộc, căn cứ phòng thủ trọng yếu của địch bảo vệ Sài Gòn từ phía Đông Bắc.

Những đòn tiến công vũ bão – bước chuyển không thể đảo ngược
Điểm nổi bật của cuộc tiến công bắt đầu từ ngày 26/4/1975 không chỉ nằm ở quy mô lực lượng lớn chưa từng có, mà còn ở nhịp độ tiến công dồn dập, liên tục và mang tính áp đảo. Đây là biểu hiện rõ nét của phương châm tác chiến “thần tốc, táo bạo, bất ngờ, chắc thắng” được quán triệt trong toàn chiến dịch. Thay vì tiến công theo lối đánh tiêu hao kéo dài, các binh đoàn chủ lực của ta triển khai các mũi thọc sâu với tốc độ cao, tận dụng tối đa yếu tố bất ngờ để làm tê liệt khả năng phản ứng của đối phương ngay từ những giờ đầu.

Lực lượng xe tăng, thiết giáp, pháo binh và bộ binh cơ giới được hiệp đồng chặt chẽ, tạo thành các mũi tiến công có sức đột phá mạnh. Lần đầu tiên trong chiến tranh, ta sử dụng quy mô lớn các đơn vị cơ giới hóa để tiến công vào một đô thị lớn, cho thấy bước phát triển vượt bậc về trình độ tác chiến. Các trục đường chiến lược như quốc lộ 1, quốc lộ 13, quốc lộ 22… nhanh chóng được kiểm soát, tạo điều kiện cho lực lượng tiến sâu vào nội đô với tốc độ nhanh chưa từng có. Chỉ trong thời gian ngắn, khoảng cách từ tuyến xuất phát đến trung tâm Sài Gòn được rút ngắn đáng kể.

Khác với những chiến dịch trước, các cánh quân trong Chiến dịch Hồ Chí Minh không dừng lại để củng cố sau mỗi bước tiến, mà liên tục gia tăng sức ép trên toàn bộ chiến trường. Nhịp độ tiến công trở thành một “vũ khí chiến lược”, đánh trực tiếp vào tâm lý vốn đã dao động của đối phương. Việc không cho địch có thời gian tái tổ chức lực lượng hay thiết lập tuyến phòng thủ mới đã khiến mọi nỗ lực chống đỡ trở nên vô nghĩa. Đây chính là yếu tố làm nên sự khác biệt và quyết định tốc độ sụp đổ của hệ thống phòng thủ Sài Gòn.

Bên cạnh đó, sự linh hoạt trong cách đánh cũng đóng vai trò quan trọng. Các đơn vị chủ lực áp dụng nhiều hình thức tác chiến khác nhau, từ tiến công chính diện, vu hồi, thọc sâu đến kết hợp với hoạt động của lực lượng biệt động và phong trào nổi dậy của quần chúng trong nội đô. Những đòn đánh từ bên trong phối hợp với áp lực từ bên ngoài đã làm rối loạn hoàn toàn hệ thống phòng ngự, khiến đối phương không thể xác định được hướng chủ yếu để tập trung đối phó.

Hỏa lực pháo binh tầm xa và pháo phản lực được sử dụng hiệu quả để chế áp các mục tiêu chiến lược như sân bay Tân Sơn Nhất, Bộ Tổng tham mưu và các căn cứ quân sự lớn. Điều này không chỉ làm suy giảm khả năng chiến đấu mà còn cắt đứt hệ thống chỉ huy, liên lạc của đối phương. Khi các trung tâm đầu não bị uy hiếp trực tiếp, khả năng điều hành chiến trường của địch gần như tê liệt hoàn toàn. Trong hoàn cảnh đó, nhiều đơn vị không còn lựa chọn nào ngoài việc rút chạy hoặc buông súng đầu hàng.

Sự phối hợp nhịp nhàng giữa các hướng tiến công đã tạo ra một sức ép tổng hợp vượt xa khả năng chịu đựng của hệ thống phòng thủ đối phương. Khi một hướng đột phá thành công, các hướng khác lập tức tận dụng để phát triển, khiến thế trận của địch nhanh chóng bị xé lẻ và sụp đổ từng mảng. Toàn bộ hạ tầng quân sự, từ căn cứ, kho tàng đến tuyến phòng thủ – lần lượt bị vô hiệu hóa trong thời gian rất ngắn.

Những đòn tiến công vũ bão này đã chuyển hóa ưu thế chiến lược của ta thành thế áp đảo tuyệt đối trên chiến trường. Chỉ sau vài ngày, cục diện chiến tranh đã bước sang giai đoạn không thể đảo ngược. Đối phương không còn khả năng xoay chuyển tình thế, trong khi quân ta tiến gần đến các mục tiêu quyết định với khí thế mạnh mẽ chưa từng có.

Thắng lợi từ ngày 26/4 đã tạo ra một lực đẩy quyết định, mở đường cho cao trào tiến công culminate vào ngày 30/4/1975. Đó không chỉ là kết quả của sức mạnh quân sự, mà còn là sự kết tinh của ý chí, trí tuệ và tinh thần quyết chiến quyết thắng của cả dân tộc. Những đòn tiến công ấy đã khẳng định một chân lý: khi hội tụ đủ thời cơ, thế trận và lòng người, không một lực lượng nào có thể ngăn cản bước tiến của lịch sử.

Sư đoàn 5 chặn đánh địch trên Quốc lộ 4 Bến Lức – Long An, mở đường cho quân ta tiến vào giải phóng Sài Gòn, ngày 29/4/1975. Ảnh: Tư liệu/TTXVN.

Cơn bão lịch sử bắt đầu hình thành
Từ ngày 26/4/1975, cục diện chiến tranh đã chuyển sang một quỹ đạo không thể đảo ngược, khi mọi yếu tố quyết định thế trận, lực lượng và thời cơ đồng loạt hội tụ. Những đòn tiến công liên tiếp, dồn dập không chỉ làm rung chuyển hệ thống phòng thủ của đối phương mà còn khẳng định sự trưởng thành toàn diện của nghệ thuật quân sự Việt Nam. Đây không còn là một chiến dịch riêng lẻ, mà là sự vận động tổng lực của cả dân tộc hướng tới mục tiêu tối thượng: giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước.

Cơn bão lịch sử hình thành từ ý chí độc lập, từ sự hy sinh bền bỉ suốt nhiều năm tháng và từ niềm tin sắt đá vào thắng lợi cuối cùng. Khi các cánh quân đồng loạt tiến về Sài Gòn, đó cũng là lúc lịch sử bước vào thời khắc quyết định, nơi mọi nỗ lực của quá khứ được kết tinh thành hành động dứt khoát của hiện tại. Không một thế lực nào có thể ngăn cản dòng chảy ấy.

Quan trọng hơn, thắng lợi đang hình thành không chỉ mang ý nghĩa quân sự, mà còn mở ra bước ngoặt lớn về chính trị và xã hội. Một trật tự mới sắp được xác lập trên toàn cõi Việt Nam, trật tự của độc lập dân tộc, thống nhất lãnh thổ và quyền làm chủ của nhân dân. Những hy sinh to lớn của nhiều thế hệ đã hội tụ trong khoảnh khắc lịch sử này, biến khát vọng hòa bình và thống nhất thành hiện thực tất yếu.

Ngày 26/4 vì thế không chỉ là điểm khởi đầu của cao trào tổng công kích, mà còn là lời khẳng định hùng hồn về sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Từ cột mốc này, con đường đi tới ngày 30/4 lịch sử đã được mở rộng, dẫn tới thắng lợi trọn vẹn. Cơn bão đã hình thành và cũng chính nó đã quét sạch mọi trở lực, khép lại một thời kỳ chiến tranh gian khổ, mở ra kỷ nguyên mới của hòa bình, thống nhất và phát triển bền vững cho đất nước. Ngày 26/4 mãi mãi là một dấu ấn khó phai, nhắc nhở chúng ta về tinh thần đoàn kết và sức mạnh của một dân tộc khi thời cơ lịch sử đã đến. Chiến thắng đã ở trong tầm tay, và bình minh của tự do đang dần hé rạng.

Thế Nguyễn – Minh Văn