Thứ Năm, Tháng 4 23, 2026
* Email: bbt.dongnama@gmail.com *Tòa soạn: 0989011688 - 0768908888
spot_img
[gtranslate]

555 năm khai canh, khai khẩn, mở cõi Trà Kiệu, dựng cơ đồ Đại Việt



ĐNA -

(Đà Nẵng). Có một vùng đất, đóng vai trò quan trọng trong tiến trình mở cõi về phương Nam của tiền nhân Đại Việt, gắn liền với chính sách chiêu dân, lập ấp của vua Lê Thánh Tông. Cũng tại vùng đất ấy, sự giao thoa, tiếp biến văn hóa Chăm – Việt dần hình thành. Các bậc tiền nhân qua nhiều thế hệ đã làm nên nhiều giá trị văn hóa vật thể và phi vật thể riêng, vẽ nên nét đặc trưng, hòa quyện trong vùng văn hóa Xứ Quảng… (về địa giới hành chính, nay thuộc thành phố Đà Nẵng).

Đúng vào dịp giỗ tổ Hùng Vương năm Bính Ngọ (trong các ngày 25 và 26/4/2026), Hội đồng chư tộc (HĐCT) Ngũ xã Trà Kiệu long trọng tổ chức “Lễ hội kỷ niệm 555 năm mở cõi Trà Kiệu” – một cột mốc lớn trong lịch sử đất nước, dân tộc: Cương vực non sông bờ cõi không ngừng được mở rộng. Sau hành trình “nam tiến”, là “tây tiến” khai canh, khai khẩn, dựng cơ đồ Đại Việt.

555 năm trước, Đại Việt ta thuở ấy … Lớp lớp ông cha ông đi mở cõi
Sử sách đã ghi lại và nhiều thế hệ Sử gia sau này có cùng nhận định rằng: Sự kiện vua Lê Thánh Tông bình Chiêm mở cõi (về phía Nam) tháng 6 năm 1471, là cột mốc lịch sử quan trọng (như một dấu son). Sau thắng lợi (làm chủ kinh đô Đồ Bàn), nhà vua ban chiếu chỉ “ở lại giữ đất, khai phá”, quyết định này trực tiếp dẫn đến hình thành vùng đất Quảng Nam (đạo Thừa tuyên Quảng Nam, đạo XIII của Đại Việt lúc đó), khai mở vùng Trà Kiệu xã (từng là kinh thành Simhapura – Thành Sư Tử của vương quốc Lâm Ấp/Chăm Pa). Chủ trương đưa dân vào khai khẩn, vua Lê Thánh Tông đã biến Trà Kiệu “từ một vùng biên viễn, trở thành trung tâm định cư trù phú, đóng góp quan trọng vào sự ổn định của xứ Quảng trong nhiều thế kỷ”

Ông Nguyễn Đăng Hải (1), Cố vấn HĐCT Ngũ xã Trà Kiệu, hậu duệ đời thứ 12 tộc Nguyễn Đăng – 1 trong 12 Tộc tiền hiền, có công mở cõi, khai cơ, kiến canh lập làng, lập xã, chia sẻ:

“Trà Kiệu xã, từng là đơn vị hành chính cấp cơ sở lớn nhất Quảng Nam (xưa). Năm 1471, những nghĩa binh-dân binh đã có mặt trong đoàn quân Nam Tiến, cùng xông pha chiến trận, đã tuân theo lệnh “vượt núi băng rừng”, tiến về phương Nam; trong đó có 13 vị thuỷ tổ tiền hiền của 12 tộc {của Ngũ Xã sau này}, từ vùng đất Thanh Hoá, Nghệ An, Hà Tĩnh và một số nơi khác, đã chọn Trà Kiệu để khai sơn, phá thạch dựng làng, lập ấp tạo nên Trà Kiệu xã.

Tính từ ngày tiền nhân mở cõi (1471), vùng đất Trà Kiệu “thủy tú sơn kỳ, địa linh nhân kiệt” đã tròn 555 năm. Còn danh xưng Ngũ xã Trà Kiệu đã có 121 năm (từ 1905). Tôi có mấy dòng thơ tưởng nhớ tiền nhân: “Từ thuở cha ông đi mở cõi – Đâu chỉ có giáo gươm còn có cả cuốc cày – Đem máu xương, nước mắt để dựng xây – Giang sơn cẩm tú đất này hiển linh…”.

Vào giai đoạn triều Hi Tông – Hiếu Văn Hoàng đế, tức Thụy Quận công Nguyễn Phúc Nguyên (1613 – 1635), cả 13 vị Thuỷ tổ Tiền hiền Trà Kiệu xã, đều được triều đình sắc phong:  “Trà Kiệu khai cơ Tiền hiền”, “Dực Bảo Trung Hưng” (2). Các Cụ được Triều đình ban tước Bá (trong 5 tước hiệu cao quý Công, Hầu, Bá, Tử, Nam), dành ban tặng cho hoàng thân quốc thích , khai Quốc công thần.

Trong bài viết “Văn bản Hán Nôm Trà Kiệu với Vấn đề văn hóa dòng Họ xứ Quảng”, TS. Trần Đình Hằng – Phân viện trưởng Phân viện Văn hóa Nghệ thuật quốc gia Việt Nam tại Huế, cùng các cộng sự TS. Lê Thọ Quốc và TS. Võ Vinh Quang, xác thực thêm: “Diễn trình lịch sử của vùng đất Trà Kiệu (được ghi nhận có từ niên hiệu Hồng Đức, 1470-1497), các ngài (Tiền hiền Ngũ xã) được lệnh dời đến đất Chiêm Thành, kiến lập canh tác, khai thác và lập thành xã hiệu là Trà Kiệu, thuộc huyện Hy Giang, phủ Thăng Hoa. Đến đời Quang Hưng (1578 1599), vâng mệnh Thái tôn Hoàng đế [Nguyễn Hoàng] kiến lập địa bạ. Năm Ất Tỵ (1605) đời Hoằng Định, vâng mệnh Hi Tôn Hoàng đế [Nguyễn Phúc Nguyên] cho tái tập địa bạ, kiến canh. 13 vị khai canh tiền hiền được ân điển phong tước Bá”.

 Đến năm Kỷ Hợi, niên hiệu Thịnh Đức (1659), Canh Tuất niên hiệu Cảnh Trị (1670), phụng mệnh Thái tôn hoàng đế [Nguyễn Phúc Tần] lại kiến canh. Các tiên tổ cùng con cháu của 13 vị Tiền hiền thuộc dân xã một lần nữa bắt đầu được tái lập điền bạ”.

Câu tục truyền: “Nhất Trà Kiệu, nhì La Qua, thứ ba Tú Tràng”, là hàm ý nói Trà Kiệu là 1 trong 3 làng lớn nhất Quảng Nam (đứng đầu Quảng Nam tam đại xã thời đó ). Nay, 5 làng xã xưa (Trà Kiệu Trung, Trà Kiệu Đông, Trà Kiệu Tây, Trà Kiệu Nam, Trà Kiệu Thượng), nằm trong lòng xã mới: Duy Xuyên. Xã Duy Xuyên là đơn vị hành chính được thành lập mới (2025), trước đó, là Huyện Duy Xuyên, tỉnh Quảng Nam. Điều đáng ghi nhớ, danh xưng Duy Xuyên đến nay, cũng đã có lịch sử 420 năm.

“Thể hiện lòng biết ơn, công lao khó nhọc của tiền nhân, bao đời qua, trong Văn tế Tiền hiền, chúng tôi kính cẩn kể lại buổi đầu gian nan đi mở cõi của tiền nhân: “Len lỏi chốn rừng sâu nước độc – Đem mồ hôi mà xây dựng non vàng – Xông pha nơi nắng lửa mưa dầu – Lấy nước mắt mà gầy nên bể bạc”, ông Huỳnh Văn Tâm , Chánh Văn phòng Ngũ xã Trà Kiệu, trong bồi hồi tưởng nhớ nhắc thêm.

Trà Kiệu – đợt khai quật năm 2013. Ảnh: Hồ Xuân Tịnh.

Quá trình giao thoa-tiếp biến văn hóa Chăm-Việt
Nhà nghiên cứu Hồ Xuân Tịnh – Nguyên Phó Giám đốc Sở VH-TT&DL tỉnh Quảng Nam, trong nỗ lực phân tích, làm rõ: “ Lịch sử hơn 2.000 năm của một vùng “Đất thiêng”, vẫn còn nhiều điều chưa thể giải mã hết. Trà Kiệu là vùng đất có vai trò quan trọng trong tiến trình mở cõi về phương Nam của nhiều thế hệ tiền nhân Đại Việt”, cho biết :

“Vào giai đoạn cuối của văn hóa Sa Huỳnh, với sự du nhập của văn minh Trung Hoa và Ấn Độ, đã hình thành những nhà nước sơ khai ở miền Trung Việt Nam. GS. Lâm Thị Mỹ Dung (Nguyên Giám đốc Bảo tàng Nhân học – Chủ nhiệm (Trưởng) Bộ môn Khảo cổ học, trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn – Đại học Quốc gia Hà Nội), từng nêu quan điểm rằng : “Từ sau thời Sơ sử, với sự có mặt của chính quyền nhà Hán ở một số vùng, đặc biệt là lưu vực sông Thu Bồn, chắc chắn đã có những chuyển biến đáng kể trong cấu trúc chính trị-kinh tế của các xã hội đã đạt tới mức độ của các lãnh địa phức hợp”, trong đó vùng đất Trà Kiệu đã từng là một trong những trung tâm kinh tế, chính trị quan trọng của nước Lâm Ấp vào khoảng thể kỷ II đến thế kỷ VI, và sau đó là vương quốc Champa từ thế kỷ VII đến thế kỷ XV.

Từ lúc xuất hiện văn hóa Sa Huỳnh cho đến khi hình thành trung tâm kinh tế, chính trị của vương quốc Champa- kinh thành Simhapura, những cư dân cổ ở đây đã có một nền kinh tế nông nghiệp vững chắc, họ biết một số nghề thủ công và hoạt động thương mại khá phát triển. Đó là điều kiện thuận lợi cho những người Việt đầu tiên đến dựng làng lập ấp trên vùng đất này. Sự giao thoa, tiếp biến văn hóa Chăm – Việt đã hình thành những giá trị văn hóa vật thể và phi vật thể, làm nên những nét đặc trưng của “đất thiêng Trà Kiệu” trong vùng văn hóa Xứ Quảng… “.

Các TS. Trần Đình Hằng, TS. Lê Thọ Quốc và TS. Võ Vinh Quang cũng phân tích thêm những giá trị của quá trình tiếp biến, dẫn dắt đến bản sắc riêng có ấy: “Trong bối cảnh đi về phương Nam, sức ảnh hưởng của di sản văn hóa bản địa tiền Việt là rất lớn, buộc người Việt phải có quá trình thích nghi, tiếp biến một cách phù hợp trước di sản “của Người”, để từng bước có sự chuyển hóa phù hợp thành cái “của Ta”. Chính phương thức này đã tạo nên di sản văn hóa làng xã Quảng Nam có nhiều nét đặc trưng, với hệ giá trị đặc hữu trong tương quan so sánh với di sản văn hóa làng xã vùng Bắc Hải Vân hay Nam Trung Bộ.

Cũng bởi sự chi phối mạnh mẽ, bền chặt, trên nhiều phương diện như vậy mà nhu cầu khẳng định, tôn vinh yếu tố Việt từ cội nguồn đất Bắc trở nên cấp thiết. Xu hướng nêu bật yếu tố cội nguồn gia tộc từ Thanh – Nghệ, hay các tỉnh miền Bắc khác gắn liền các mốc son lịch sử từ thời Hồng Đức triều Lê, cho tới thời Trấn Quận công Bùi Tá Hán, thời chúa Tiên Nguyễn Hoàng … có thể coi là một biểu hiện cụ thể, rõ nét cho vấn đề Việt hóa đặc trưng này”,

Năm 2005, Nhà thờ Ngũ xã Trà Kiệu được công nhận là di tích lịch sử cấp Quốc gia. Ảnh tư liệu.

“Ngày 15/3/2026 vừa qua, xã Duy Xuyên (ngày nay), tự hào được công nhận là xã “An toàn khu” (theo Quyết định số 916/QĐ-UBND) của Ủy ban nhân dân thành phố Đà Nẵng.

Trong hai cuộc kháng chiến cứu nước, Trà Kiệu – Duy Xuyên giữ vai trò là căn cứ cách mạng quan trọng của Khu Trung Trung Bộ và Đặc khu Quảng Đà, nơi Đặc Khu ủy Quảng Đà thiết lập căn cứ địa tại Hòn Tàu, để chỉ đạo phong trào cách mạng cả Đặc khu. Các xã Duy Sơn, Duy Trung, Duy Trinh (xã Duy Xuyên) sau này được phong tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng Vũ trang Nhân dân.

Toàn xã chúng tôi có đến 1.258 liệt sỹ, 248 Mẹ Việt Nam anh hùng, nhiều tập thể và cá nhân được phong tặng danh hiệu Anh hùng cao quý. Thời bình sau 1975, Hợp tác xã Duy Sơn và Hợp tác xã Dệt Duy Trinh (lúc đó thuộc Duy Xuyên, tỉnh Quảng Nam) được phong danh hiệu Anh hùng Lao động. Trong đó, Hợp tác xã Duy Sơn II từng là điểm sáng cả nước với mô hình thủy điện nhỏ, do Anh hùng Lao động Lưu Ban tiên phong xây dựng, góp phần mang lại điện, việc làm và thịnh vượng cho vùng bán sơn địa (nay có khu du lịch sinh thái của Thủy điện nhỏ này).

Những minh chứng vừa kể, cho thấy vùng đất Trà Kiệu di sản, xiết bao hào khí năm xưa -truyền thống vẫn luôn được kế thừa, trở thành mạch nguồn để quê hương phát triển mạnh mẽ trong thời đại mới, kỷ nguyên mới”, ông Nguyễn Đăng Hải tự hào, khẳng định.

Nhà thờ Ngũ xã Trà Kiệu thời kỳ 1927-1928. Ảnh tư liệu của Hội đồng chư tộc Ngũ xã Trà Kiệu.

Trên 345 năm, nguyên vẹn giá trị di sản lớn: Nhà thờ Ngũ xã Trà Kiệu
Vào khoảng năm Chính Hòa (1680-1705), người dân trong xã bắt đầu lập đình, chùa phụng sự cho tín ngưỡng ào việc thờ cúng.

Nhà thờ Ngũ xã Trà Kiệu nằm ở xứ Bửu Châu Non Trượt, xóm Hoàn Châu, thôn Trà Châu, xã Duy Sơn, huyện Duy Xuyên, tỉnh Quảng Nam trước đây, được công nhận Di tích Quốc gia vào năm 2005 (Quyết định số 68/2005/QĐ-BVHTT, ngày 16/11/2005). “Đến năm 2025, nhà thờ Ngũ xã Trà Kiệu, trong đó, ngôi tiền đường nhà thờ có lý lịch trên 345 năm, tính từ năm 1680 đến năm 2025), là nơi thờ cúng 70 vị Tổ của 64 tộc đã có công mở cõi, khai cơ, kiến canh lập làng, lập xã” – ông Nguyễn Thanh Tài, Chủ tịch HĐCT Ngũ xã Trà Kiệu cho biết.

“Quyết định số 68/2005/QĐ-BVHTT, không chỉ khẳng định các giá trị đặc sắc vốn có của di tích mà còn tạo nền tảng cho sự phát huy nhiều giá trị khác từ di tích trong tương lai. Có thể dẫn chứng một mẫu mực của Nhà thờ Ngũ xã Trà Kiệu, đó là khâu bố trí thờ phụng thể hiện sự lớp lang, chuẩn mực, có nguyên tắc từ thấp đến cao, từ cũ đến mới, từ Tiền Hiền khai khẩn đến Hậu Hiền khai cơ.

Đúng như quan niệm về chân lý của cộng đồng cư dân Việt, đặc biệt tuân thủ theo bộ “Khâm Định Đại Nam Hội Điển Sự Lệ” thời Nguyễn. Nhà Thờ Ngũ Xã Trà Kiệu là nơi thể hiện triết lý Nho giáo có tính chất chỉn chu, chuẩn mực”. Bà Nguyễn Thị Tuyết (Nguyên Cán bộ Phòng VHTT huyện Duy Xuyên, tỉnh Quảng Nam cũ) chia sẻ trong bài viết của mình.

Trong số các nhân vật lịch sử gắn với vùng đất, được tôn kính, thờ cùng các vị tiền hiền tại Nhà thờ Ngũ Xã Trà Kiệu, có Thống Binh Thái Phó Mạc Cảnh Huống (1542- 1617) – 1 trong 3 vị khai quốc công thần thời chúa Nguyễn. Vua Duy Tân năm thứ nhất (1907) đã ban sắc phong “Khai quốc công thần Tráng Vũ tướng quân, Đô thống phủ Chưởng phủ sự, húy Trung Trinh”, cho Thống Binh Thái Phó Mạc Cảnh Huống – Bậc đại thần, có công lớn trong củng cố và phát triển chính quyền Đàng Trong.

Một trong những điều đã hiện hữu, là di tích Nhà thờ Ngũ xã Trà Kiệu đã – đang tạo nền tảng để phát huy nhiều giá trị khác của di tích trong tương lai.

Nhiều năm qua, Nhà thờ Ngũ xã Trà Kiệu đã là điểm kết nối du lịch hấp dẫn, với hệ thống các di tích cấp quốc gia xung quanh như Thành Nam Trà Kiệu, lăng mộ Hiếu Chiêu hoàng hậu Đoàn Quý Phi, lăng mộ Hiếu Văn hoàng hậu Mạc Thị Giai, lăng mộ Thống thủ Mạc Cảnh Huống, khu căn cứ lịch sử Hòn Tàu, và các thắng cảnh đầm sen Trà Lý, khu du lịch sinh thái Thủy điện Duy Sơn…Tất cả hợp thành một không gian di sản đặc sắc, vừa mang giá trị lịch sử – văn hóa, vừa có tiềm năng phát triển du lịch bền vững.

“Những điều trên cũng góp phần giải thích, vì sao bao đời nay, người dân xã Duy Trung, một phần của xã Duy Sơn và các xã Duy Trinh, Duy Châu huyện Duy Xuyên (thuộc Ngũ xã Trà Kiệu) đã và đang sinh sống, luôn gìn giữ, nâng niu mối liên hệ với mảnh đất vô cùng thiêng liêng, mảnh đất mà lịch sử hình thành, phát triển của nó còn chứa đựng biết bao bí ẩn của một Vương quốc, của một Dân tộc với nhiều huyền thoại ly kỳ….” – Ông Nguyễn Đăng Hải, Cố vấn HĐCT Ngũ xã Trà Kiệu, phân tích.

Ông Nguyễn Trường Mười (bìa trái), cố Phó Chủ tịch HĐCT Ngũ xã ; hậu duệ ngài Mạc Cảnh Huống ; ông Nguyễn Đăng Hải (bìa phải ảnh) – Cố vấn HĐCT Ngũ xã Trà Kiệu, cùng các nhà nghiên cứu từ Hà Nội và TP.Hồ Chí Minh viếng mộ Ngài Mạc Cảnh Huống. Ảnh tư liệu.

“Trong đó, Nhà thờ Ngũ xã Trà Kiệu, với vị trí là Di tích cấp Quốc gia đã đón tiếp nhiều đoàn khách, thuộc các chư tộc phái của nhiều địa phương, đến tham quan học hỏi kinh nghiệm bảo tồn, phát huy giá trị di sản – di tích, với mong muốn làm bài học cho các thế hệ mai sau của mình. Đặc biệt, di tích còn thường xuyên cung cấp dữ liệu lịch sử, văn hóa, khoa học cho hàng trăm sinh viên, các nhà nghiên cứu khoa học để thực hiện các khóa luận tốt nghiệp và các đề tài khoa học khác”, bà Nguyễn Thị Tuyết chia sẻ bổ sung thêm.

Nằm giữa hai Di sản Thế giới – Khu đền tháp Mỹ Sơn và Đô thị cổ Hội An, Trà Kiệu – Duy Xuyên đang dần trở thành điểm đến hấp dẫn trong không gian du lịch Đà Nẵng nói riêng, miền Trung Việt Nam nói chung.

Từ chiều này 25/4/2025, “Lễ hội kỷ niệm 555 năm mở cõi Trà Kiệu” đã bắt đầu với các nghi thức “cỗ Lễ”. Mỗi làng (Trà Kiệu Đông, Trà Kiệu Trung, Trà Kiệu Nam, Trà Kiệu Tây, Trà Kiệu Thượng) sẽ thành kính dâng lễ vật cúng tổ tiên của 5 làng xã. Mỗi làng đều có bài trình tường ý nghĩa về vật lễ tiến dâng Tổ tiên; báo cáo vắn tắt đặc điểm tự nhiên của làng, về hoạt động của làng và của các tộc họ trong làng, đã góp phần thực hiện chủ trương của Đảng, Nhà nước trong xây dựng Nông thôn mới, tộc họ văn hóa, văn minh. Nghi thức Giỗ Tổ tại nhà thờ Ngũ xã Trà Kiệu được cử hành đúng theo nghi thức truyền thống. Nghiêm cẩm trong hành lễ từ ban nhạc cỗ lễ, chiêng, trống; đến các Chánh tế, vai tả/vai hữu phân hiến, vai dâng lễ, vai xướng tế; Vai đọc văn tế, …

Các Nghi thức Tân lễ diễn ra sáng ngày 26/4/2026. Dịp này, Ban tổ chức sẽ chiếu phim tài liệu 555 NĂM Ngũ xã Trà Kiệu – Vùng đất thiêng; giới thiệu (video clip) tập sách “Lược sử Ngũ xã Trà Kiệu” và “Diễn ca Lịch sử Ngũ Xã Trà Kiệu”. Đặc biệt, tại Lễ hội có riêng một không gian trưng bày giá trị văn hóa, lịch sử (vật thể, phi vật thể) của vùng đất Trà Kiệu nổi tiếng xưa và nay./.

Trần Ngọc

Tài liệu tham khảo
 tập sách “Lược sử Ngũ Xã Trà Kiệu” (sách được NXB Đà Nẵng ấn bản – phát hành), cùng tư liệu-thông tin do đại diện Hội đồng chư tộc Ngũ xã Trà Kiệu chia sẻ, cung cấp.
(1): Nguyên là Phó Chủ tịch thường trực, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam thành phố Đà Nẵng (cũ), hiện là Ủy viên Ban chấp hành Hội Di sản Văn hóa thành phố Đà Nẵng (mới) 
(2) Có nghĩa là: Nhờ (các vị giúp đỡ, gánh vác), nên từ suy, nay {triều Nguyễn} hưng (thịnh) trở lại.