Thứ Tư, Tháng 7 1, 2026
* Email: bbt.dongnama@gmail.com *Tòa soạn: 0989011688 - 0768908888
spot_img
[gtranslate]

50 năm Thành phố Hồ Chí Minh rực rỡ tên vàng



ĐNA -

Kể từ quyết định lịch sử ngày 2/7/1976 mang tên Chủ tịch Hồ Chí Minh, thành phố đã trải qua hành trình 50 năm phát triển đầy tự hào, vươn mình từ đầu tàu kinh tế của cả nước trở thành trung tâm văn hóa, khoa học và hội nhập quốc tế năng động hàng đầu khu vực. Nửa thế kỷ nhìn lại không chỉ khẳng định bản lĩnh và sức sống của một đô thị mang tên Bác, mà còn gợi nhắc về sự tiếp nối bền bỉ từ khát vọng độc lập, thống nhất đến khát vọng xây dựng một Việt Nam phồn vinh, hạnh phúc.

Miền Nam trong trái tim Bác
Trong suốt cuộc đời cống hiến cho sự nghiệp cách mạng, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn dành cho đồng bào miền Nam ruột thịt một tình cảm thiêng liêng, son sắt và sâu nặng. Dẫu gánh trên vai trọng trách chèo lái con thuyền cách mạng Việt Nam vượt qua muôn vàn thử thách, Người vẫn không một phút nguôi ngoai nỗi nhớ thương và sự dõi theo từng bước chuyển mình của miền Nam nơi tuyến đầu chống giặc. Mỗi thắng lợi, mỗi hy sinh của quân và dân miền Nam đều khắc sâu trong trái tim Người; còn những đau thương, mất mát do chiến tranh và ách thống trị của kẻ thù gây ra luôn trở thành nỗi trăn trở khôn nguôi của vị Cha già dân tộc.

Đối với Chủ tịch Hồ Chí Minh, miền Nam không chỉ là một phần lãnh thổ thiêng liêng của Tổ quốc mà còn là máu thịt không thể chia cắt của dân tộc Việt Nam. Chính tình yêu thương vô hạn ấy đã trở thành nguồn sức mạnh tinh thần, thôi thúc Người cùng Trung ương Đảng hoạch định những quyết sách chiến lược, kiên định mục tiêu giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, đưa non sông liền một dải và mang lại cuộc sống hòa bình, độc lập, tự do cho nhân dân.

Tình cảm ấy được kết tinh trong những lời căn dặn giản dị nhưng mang giá trị trường tồn. Với niềm tin son sắt vào sức mạnh đại đoàn kết dân tộc và chân lý của độc lập, thống nhất, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Nước Việt Nam là một, dân tộc Việt Nam là một. Sông có thể cạn, núi có thể mòn, song chân lý ấy không bao giờ thay đổi.” Lời khẳng định ấy không chỉ là tuyên ngôn bất di bất dịch về chủ quyền và sự thống nhất của đất nước, mà còn trở thành điểm tựa tinh thần, tiếp thêm ý chí và niềm tin cho hàng triệu người Việt Nam trong những năm tháng kháng chiến gian khổ.

Ngay cả khi sức khỏe đã yếu, trước lúc đi xa, điều khiến Người day dứt nhất vẫn là ước nguyện được một lần vào thăm miền Nam, được gặp gỡ, ôm hôn đồng bào, chiến sĩ nơi tiền tuyến lớn sau bao năm xa cách. Ước nguyện chưa kịp thực hiện ấy càng làm sáng ngời tấm lòng bao la của Người đối với miền Nam ruột thịt. Đồng thời, lời căn dặn về quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ, giải phóng miền Nam để Bắc – Nam sum họp một nhà đã trở thành lời hiệu triệu thiêng liêng, hun đúc ý chí chiến đấu, cổ vũ toàn dân tộc vượt qua mọi hy sinh, gian khổ, đi đến thắng lợi hoàn toàn trong sự nghiệp thống nhất đất nước.

Hơn nửa thế kỷ đã trôi qua kể từ ngày Bác đi xa, nhưng tình yêu thương vô bờ bến Người dành cho miền Nam vẫn luôn là biểu tượng cao đẹp của chủ nghĩa yêu nước, của khát vọng hòa bình và thống nhất dân tộc. Mỗi lần nhắc đến miền Nam trong trái tim Bác là thêm một lần mỗi người Việt Nam hôm nay bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đối với vị lãnh tụ thiên tài đã hiến dâng trọn cuộc đời cho độc lập, tự do của dân tộc và hạnh phúc của nhân dân; đồng thời nhắc nhở các thế hệ hôm nay và mai sau tiếp tục gìn giữ, vun đắp thành quả thống nhất, xây dựng đất nước ngày càng phồn vinh, xứng đáng với niềm tin và tâm nguyện thiêng liêng của Người.

Đáp lại tình yêu thương vô bờ bến của Chủ tịch Hồ Chí Minh, đồng bào và chiến sĩ miền Nam một lòng hướng về Người bằng niềm kính yêu sâu sắc, sự thủy chung son sắt và niềm tin tuyệt đối vào thắng lợi cuối cùng của cách mạng. Giữa mưa bom bão đạn, dưới sự khủng bố, đàn áp khốc liệt của kẻ thù, hình ảnh Bác vẫn hiện diện trong trái tim mỗi người dân như một điểm tựa tinh thần thiêng liêng. Từ những mái nhà đơn sơ đến các căn hầm bí mật giữa vùng tạm chiếm, nhiều gia đình đã lập bàn thờ, gìn giữ bức ảnh của Người như gìn giữ ngọn lửa của niềm tin và khát vọng thống nhất. Mỗi lần hướng về Hà Nội, hướng về Bác là thêm một lần ý chí quật cường được bồi đắp, tiếp thêm nghị lực để quân và dân miền Nam kiên cường chiến đấu, vượt lên mọi gian lao, hy sinh vì ngày đất nước sum họp.

Sự gắn bó máu thịt giữa Chủ tịch Hồ Chí Minh với đồng bào miền Nam đã trở thành biểu tượng sáng ngời của khối đại đoàn kết toàn dân tộc, kết tinh ý chí thống nhất non sông và khát vọng độc lập, tự do của cả dân tộc Việt Nam. Đó không chỉ là sự đồng điệu giữa trái tim của vị lãnh tụ với lòng dân, mà còn là sự gặp gỡ của lý tưởng cách mạng và khát vọng hòa bình, tạo nên sức mạnh tinh thần vô cùng to lớn, quy tụ ý chí của toàn Đảng, toàn quân và toàn dân. Chính sức mạnh ấy đã giúp dân tộc Việt Nam vượt qua muôn vàn thử thách, làm thất bại mọi âm mưu chia cắt đất nước của các thế lực thù địch, đưa cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước đi đến thắng lợi hoàn toàn. Đại thắng mùa Xuân năm 1975 không chỉ khẳng định chân lý về ý chí độc lập, thống nhất của dân tộc Việt Nam, mà còn là sự hiện thực hóa tâm nguyện thiêng liêng suốt đời của Chủ tịch Hồ Chí Minh về một nước Việt Nam hòa bình, thống nhất, độc lập và phát triển.

Miền Nam anh dũng, kiên cường, đi trước, về sau
Trong lịch sử đấu tranh giải phóng dân tộc, miền Nam là nơi đi đầu trên tuyến lửa chống Mỹ, cứu nước, gánh chịu những mất mát, hy sinh lớn lao trong suốt hơn hai thập kỷ kháng chiến. Ngay từ khi đế quốc Mỹ dựng lên ngụy quyền Sài Gòn và áp đặt bộ máy thống trị hà khắc, đồng bào miền Nam đã trực tiếp đối mặt với những chiến dịch đàn áp đẫm máu và các chính sách khủng bố nhằm dập tắt phong trào cách mạng. Thế nhưng, bằng lòng yêu nước nồng nàn, ý chí quật cường và truyền thống bất khuất được hun đúc qua bao thế hệ, quân và dân miền Nam không khuất phục trước bạo lực, hiên ngang đứng lên mở đầu cuộc trường chinh giải phóng dân tộc. Chính từ mảnh đất nơi tuyến đầu Tổ quốc, ngọn lửa đấu tranh đã được thắp lên, tạo nền tảng cho sự phát triển của cách mạng cả nước và hun đúc ý chí quyết chiến, quyết thắng của dân tộc Việt Nam.

Bước ngoặt quan trọng của cách mạng miền Nam được đánh dấu bằng phong trào Đồng Khởi năm 1960, khởi nguồn từ Bến Tre rồi nhanh chóng lan rộng khắp Nam Bộ và nhiều tỉnh Nam Trung Bộ. Sức mạnh vùng dậy của quần chúng đã làm rung chuyển hệ thống kìm kẹp của ngụy quyền Sài Gòn ở nhiều địa phương, đưa cách mạng miền Nam chuyển từ thế giữ gìn lực lượng sang thế tiến công. Trên nền tảng thắng lợi ấy, Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam ra đời, quy tụ sức mạnh của các tầng lớp nhân dân, mở rộng khối đại đoàn kết dân tộc. Các phong trào đấu tranh chính trị, quân sự và binh vận phát triển mạnh mẽ, phối hợp chặt chẽ giữa nông thôn và đô thị, từng bước làm phá sản các chiến lược chiến tranh của Mỹ và ngụy quyền Sài Gòn, tạo nên những chuyển biến quan trọng trên chiến trường cũng như trên mặt trận ngoại giao.

Trong suốt chặng đường đầy gian khổ ấy, tiền tuyến lớn miền Nam luôn nhận được sự chi viện to lớn, liên tục và toàn diện từ hậu phương lớn miền Bắc xã hội chủ nghĩa. Bất chấp mưa bom bão đạn và sự đánh phá ác liệt của không quân, hải quân Mỹ, tuyến vận tải chiến lược Trường Sơn – đường Hồ Chí Minh cùng tuyến đường Hồ Chí Minh trên biển vẫn bền bỉ nối liền hai miền đất nước, trở thành mạch nguồn của ý chí thống nhất non sông. Hàng triệu lượt cán bộ, chiến sĩ, thanh niên xung phong cùng khối lượng lớn vũ khí, lương thực, thuốc men và các nguồn lực thiết yếu đã vượt qua muôn vàn gian nguy để đến với chiến trường miền Nam. Tinh thần “tất cả vì miền Nam ruột thịt” cùng sự hy sinh thầm lặng của đồng bào miền Bắc đã tạo nên hậu phương vững chắc, tiếp thêm sức mạnh để quân và dân miền Nam kiên cường chiến đấu, từng bước giành thắng lợi trên mọi mặt trận.

Để làm nên ngày toàn thắng, quân và dân miền Nam đã phải trải qua những năm tháng chiến đấu vô cùng gian khổ với biết bao hy sinh, mất mát. Hàng triệu người con ưu tú đã ngã xuống trên mảnh đất thành đồng; hàng vạn cán bộ, chiến sĩ bị giam cầm, tra tấn dã man trong các nhà tù như Côn Đảo, Phú Quốc. Nhiều làng quê bị bom đạn tàn phá, chất độc hóa học hủy hoại môi trường và cuộc sống của biết bao thế hệ. Hình ảnh những Bà mẹ Việt Nam Anh hùng lặng lẽ tiễn con ra trận, những người vợ, người chị bền bỉ giữ gìn hậu phương, những em nhỏ sớm tham gia cách mạng đã trở thành biểu tượng cao đẹp của chủ nghĩa anh hùng cách mạng và ý chí bất khuất của nhân dân miền Nam.

Trên nền tảng của sức mạnh ấy, nhiều chiến dịch quân sự mang tầm chiến lược đã liên tiếp diễn ra, từng bước làm thay đổi cục diện chiến trường. Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân năm 1968 đã tạo nên bước ngoặt quan trọng, buộc Mỹ phải xuống thang chiến tranh và chấp nhận ngồi vào bàn đàm phán. Tiếp đó, chiến thắng Đường 9 – Nam Lào năm 1971 và cuộc tiến công chiến lược năm 1972 tiếp tục làm suy yếu lực lượng đối phương, tạo nên thế và lực mới cho cách mạng Việt Nam. Những thắng lợi nối tiếp ấy đã mở ra thời cơ chiến lược để quân và dân ta tiến tới trận quyết chiến cuối cùng.

Mùa Xuân năm 1975, dưới sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng, quân và dân ta tiến hành cuộc Tổng tiến công và nổi dậy với đỉnh cao là Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử. Với khí thế thần tốc, táo bạo, bất ngờ và chắc thắng, các binh đoàn chủ lực đã đồng loạt tiến công, nhanh chóng phá vỡ hệ thống phòng thủ của đối phương, thẳng tiến vào trung tâm Sài Gòn. Sự phối hợp chặt chẽ giữa các lực lượng vũ trang với phong trào nổi dậy của quần chúng đã làm tan rã hoàn toàn bộ máy chính quyền Sài Gòn. Trưa ngày 30/4/1975, lá cờ cách mạng tung bay trên nóc Dinh Độc Lập, đánh dấu sự toàn thắng của Chiến dịch Hồ Chí Minh, kết thúc thắng lợi cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, thu non sông về một mối.

Đại thắng mùa Xuân năm 1975 là kết tinh rực rỡ của sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, của sự gắn bó máu thịt giữa hậu phương lớn và tiền tuyến lớn, giữa ý chí độc lập của cả dân tộc với khát vọng thống nhất non sông. Đó là thắng lợi của nghệ thuật kết hợp chặt chẽ giữa đấu tranh quân sự, chính trị và ngoại giao; của sự đồng lòng từ công nhân, nông dân, trí thức, văn nghệ sĩ, học sinh, sinh viên đến đồng bào các dân tộc, tôn giáo và kiều bào ở nước ngoài. Thắng lợi ấy không chỉ chấm dứt ách thống trị của chủ nghĩa thực dân mới, hoàn thành sự nghiệp giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, mà còn trở thành nguồn cổ vũ mạnh mẽ đối với phong trào đấu tranh vì độc lập dân tộc trên thế giới. Miền Nam đã đi trước trong những năm tháng cam go nhất của cuộc kháng chiến và trở về sau cùng trong ngày non sông thống nhất. Chân lý “Miền Nam anh dũng, kiên cường, đi trước, về sau” vì thế đã trở thành biểu tượng bất diệt của lòng yêu nước, ý chí quật cường và khát vọng hòa bình, thống nhất của dân tộc Việt Nam, mãi mãi được khắc ghi trong lịch sử.

Sài Gòn ngày 30/4/1975 – như có Bác trong ngày vui đại thắng
Vào thời khắc lịch sử trưa ngày 30/4/1975, cả Sài Gòn rung chuyển trong niềm hạnh phúc vỡ òa của ngày hội toàn thắng. Đúng 11 giờ 30 phút, chiếc xe tăng mang số hiệu 390 của quân giải phóng đã húc đổ cánh cổng sắt của Dinh Độc Lập, sào huyệt cuối cùng của ngụy quyền Sài Gòn. Toàn bộ ban lãnh đạo cấp cao của đối phương đã phải tuyên bố đầu hàng không điều kiện trước quân đội cách mạng. Đường phố Sài Gòn rợp bóng cờ hoa, hàng triệu người dân ùa ra đường chào đón những người chiến sĩ giải phóng trong niềm vui nghẹn ngào, đánh dấu sự chấm dứt vĩnh viễn của cuộc chiến tranh.

Đại thắng mùa Xuân năm 1975 không chỉ là thắng lợi riêng của dân tộc Việt Nam mà còn mang ý nghĩa thời đại sâu sắc đối với phong trào tiến bộ thế giới. Thắng lợi này đã khẳng định một chân lý thời đại: một dân tộc dù đất không rộng, người không đông nhưng nếu đoàn kết chặt chẽ, có đường lối cách mạng đúng đắn thì hoàn toàn có thể đánh bại mọi thế lực bạo tàn. Chiến thắng lịch sử đã mở ra thời kỳ mới cho đất nước, thời kỳ cả nước cùng đi lên xây dựng chủ nghĩa xã hội, đồng thời là nguồn cổ vũ lớn lao cho các dân tộc trên thế giới đang đấu tranh vì hòa bình, độc lập và tiến bộ xã hội.

Quyết định lịch sử ngày 2/7/1976
Đại thắng mùa Xuân năm 1975 đã khép lại cuộc kháng chiến trường kỳ chống Mỹ, cứu nước, mở ra kỷ nguyên độc lập, thống nhất và xây dựng đất nước. Tuy nhiên, hòa bình lập lại cũng đặt dân tộc Việt Nam trước những nhiệm vụ hết sức nặng nề. Hậu quả chiến tranh để lại vô cùng sâu sắc; nền kinh tế kiệt quệ, cơ sở hạ tầng bị tàn phá nghiêm trọng, đời sống nhân dân còn nhiều khó khăn, trong khi đất nước vẫn phải đối mặt với sự bao vây, cấm vận từ bên ngoài. Ở miền Nam, việc nhanh chóng ổn định tình hình chính trị, khôi phục sản xuất, hàn gắn vết thương chiến tranh và thống nhất hệ thống quản lý nhà nước trở thành yêu cầu cấp thiết, đánh dấu bước chuyển từ thời chiến sang thời kỳ kiến thiết và phát triển.

Trong bối cảnh ấy, từ ngày 24/6 đến ngày 3/7/1976, Quốc hội khóa VI của nước Việt Nam thống nhất đã họp kỳ họp đầu tiên tại Thủ đô Hà Nội để quyết định những vấn đề có ý nghĩa lịch sử đối với vận mệnh quốc gia. Ngày 2/7/1976, Quốc hội chính thức thông qua nghị quyết đổi tên thành phố Sài Gòn – Gia Định thành Thành phố Hồ Chí Minh. Đây không chỉ là một quyết định về địa giới hành chính, mà còn là sự kiện mang ý nghĩa chính trị, lịch sử và tinh thần đặc biệt, thể hiện lòng biết ơn sâu sắc của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân đối với Chủ tịch Hồ Chí Minh, vị lãnh tụ thiên tài, Anh hùng giải phóng dân tộc, Danh nhân văn hóa thế giới; đồng thời đáp ứng nguyện vọng tha thiết của đồng bào miền Nam và nhân dân cả nước sau ngày đất nước thống nhất.

Việc thành phố mang tên Chủ tịch Hồ Chí Minh còn là sự tiếp nối đầy ý nghĩa của hành trình lịch sử dân tộc. Chính từ mảnh đất này, ngày 5/6/1911, người thanh niên Nguyễn Tất Thành đã ra đi tìm đường cứu nước với khát vọng giành độc lập cho dân tộc và tự do cho nhân dân. Sáu mươi lăm năm sau, cũng trên mảnh đất ấy, thành phố vinh dự được mang tên Người như một biểu tượng thiêng liêng của thắng lợi cách mạng, của khát vọng độc lập, hòa bình và thống nhất non sông đã trở thành hiện thực.

Tên gọi Thành phố Hồ Chí Minh vì thế vượt lên ý nghĩa của một đơn vị hành chính để trở thành biểu tượng của lịch sử, của niềm tin và khát vọng phát triển. Đó là lời nhắc nhở về đạo lý “uống nước nhớ nguồn”, về trách nhiệm gìn giữ và phát huy những giá trị mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã cống hiến trọn đời cho dân tộc. Mang tên Bác cũng đồng nghĩa với việc mang trên mình niềm vinh dự lớn lao cùng trách nhiệm không ngừng đổi mới, sáng tạo, xây dựng thành phố xứng đáng với tình cảm và kỳ vọng Người gửi gắm đối với đồng bào miền Nam.

Nửa thế kỷ đã đi qua kể từ ngày thành phố vinh dự mang tên Chủ tịch Hồ Chí Minh, nhưng những giá trị lịch sử, tinh thần và nhân văn mà tên gọi ấy gửi gắm vẫn luôn tỏa sáng cùng từng bước phát triển của thành phố. Đó không chỉ là niềm tự hào của người dân Thành phố Hồ Chí Minh, mà còn là biểu tượng của khát vọng độc lập, hòa bình, thống nhất và phát triển của cả dân tộc Việt Nam. Mỗi công trình được dựng xây, mỗi thành tựu đạt được, mỗi đổi thay trong diện mạo đô thị đều là minh chứng cho sức sống bền bỉ của một thành phố luôn biết kế thừa truyền thống, không ngừng đổi mới và vươn lên.

Bước vào giai đoạn phát triển mới với khát vọng đến năm 2045 trở thành trung tâm kinh tế, tài chính, khoa học – công nghệ hàng đầu châu Á, Thành phố Hồ Chí Minh đang tiếp tục phát huy vai trò đầu tàu, tiên phong trong chuyển đổi số, đổi mới sáng tạo, phát triển xanh và hội nhập quốc tế. Trên hành trình ấy, thành phố mang tên Bác không chỉ hướng tới những mục tiêu tăng trưởng về kinh tế, mà còn kiên định xây dựng một đô thị văn minh, hiện đại, nghĩa tình, lấy con người làm trung tâm của mọi chính sách phát triển, để mỗi người dân đều được thụ hưởng thành quả của hòa bình, đổi mới và phát triển.

Nhìn lại chặng đường đã qua càng thêm thấm thía ý nghĩa của quyết định lịch sử ngày 2/7/1976. Đó không đơn thuần là việc đặt tên cho một đô thị, mà là sự gửi gắm niềm tin của Đảng, Nhà nước và nhân dân vào một thành phố sẽ tiếp tục đi đầu trên con đường dựng xây đất nước, xứng đáng với tên gọi thiêng liêng mang tên Chủ tịch Hồ Chí Minh. Hành trình 50 năm đã chứng minh niềm tin ấy là hoàn toàn đúng đắn; và trên chặng đường phía trước, khát vọng mang tên Bác sẽ tiếp tục được viết tiếp bằng trí tuệ, bản lĩnh, tinh thần sáng tạo và khối đại đoàn kết của các thế hệ hôm nay, để Thành phố Hồ Chí Minh luôn là niềm tự hào của cả nước, là nơi hội tụ khát vọng phát triển phồn vinh, hạnh phúc và là điểm sáng của Việt Nam trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.

Thế Nguyễn – Minh Văn