Thứ Bảy, Tháng 8 30, 2025
* Email: bbt.dongnama@gmail.com *Tòa soạn: 0989011688 - 0768908888
spot_img

Trung tướng Nguyễn Bình: Sống trọn vẹn cho mảnh đất Thành đồng Tổ quốc

Bài viết kỷ niệm 74 năm, ngày Trung tướng Nguyễn Bình hy sinh trong khi làm nhiệm vụ (29/9/1951 – 29/9/2025)

ĐNA -

Một Nguyễn Bình giang hồ ngang dọc để hành nghĩa, một con mắt mất đi vì bị Quốc dân đảng kết tội phản đảng, nhưng Nguyễn Bình đã chọn con đường của “Ông Nguyễn yêu nước” để cứu dân, cứu nước. Tin tưởng ở ông, Chủ tịch Hồ Chí Minh giao trọng trách làm phái viên quân sự tại Nam Bộ, thống nhất các lực lượng vũ trang thành Giải phóng quân Nam Bộ trong thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp quay lại xâm lược lần thứ hai.

Tướng Nguyễn Bình (thứ ba, trái sang) cùng các đồng đội của ông, Lê Duẩn, Huỳnh Văn Nghệ, Dương Quốc Chính tại chiến khu D. (Ảnh tư liệu)

Đúng với tính cách “giang hồ” của Nguyễn Bình (tên thật Nguyễn Phương Thảo): Từ thuở thiếu niên sống dưới ách thống trị hà khắc của thực dân Pháp, ông đã sớm bộc lộ lòng yêu nước nồng nàn. Mới 16 tuổi đã tham gia phong trào cách mạng, đến năm 1928, khi tròn 20 tuổi, ông vào Sài Gòn hoạt động, gia nhập Quốc dân đảng yêu nước do Nguyễn Thái Học lãnh đạo. Chỉ một năm sau, Nguyễn Bình bị thực dân bắt, đày ra Côn Đảo.

Trong chốn lao tù đế quốc, ông được những người cộng sản giác ngộ, quyết tâm rời bỏ con đường Quốc dân đảng để đi theo lý tưởng cộng sản. Chính sự lựa chọn này đã khiến kẻ thù trả thù dã man, móc mất một con mắt. Năm 1935, ra tù, ông tiếp tục hoạt động cách mạng và liên tiếp bị bắt giam, nhiều lần nếm trải cảnh tù đày khắc nghiệt từ 1938 đến 1942, nhưng ý chí vẫn không hề lay chuyển.

Từ năm 1943, Nguyễn Bình được Trung ương giao phụ trách công tác mua sắm vũ khí cho cách mạng ở khu vực Hà Nội – Hải Phòng. Nhà sử học Trần Huy Liệu, người từng cùng ông chịu cảnh tù đày ở Côn Đảo và là người giác ngộ Nguyễn Bình, đã nhận xét: “Thảo có can đảm, vũ dũng hơn người và trung hậu với bạn, trung thành với đoàn thể. Trước Cách mạng Tháng Tám, Thảo lập chiến khu Đông Triều một cách tự động…”

Tháng 3/1945, Nguyễn Bình lãnh đạo nhiều trận đánh táo bạo: cướp tàu địch ở Hạ Lý – Hải Phòng, hạ đồn Đông Triều, diệt đồn Bí Chợ, tiến công chiếm thị xã Uông Bí. Đặc biệt, tháng 7/1945, ông chỉ huy lực lượng giải phóng thị xã Quảng Yên, trở thành tỉnh lỵ duy nhất ở miền Bắc được giải phóng trước Cách mạng Tháng Tám.

Nhà cách mạng lão thành Trần Cung, người tham gia lập chiến khu Đông Triều  kể lại: “Nguyễn Bình dẫn gần 100 nghĩa quân tiến theo lá cờ đỏ sao vàng trên đường 18 hướng tới Đông Triều. Cả đoàn chỉ có một khẩu súng trường, còn lại toàn giáo mác. Cánh tay phải mỗi người đeo băng đỏ có sao vàng, riêng Nguyễn Bình đeo trên ngực miếng vải đỏ có chữ TCH, tức Tổng chỉ huy…”

Từ chiến khu Đông Triều, ông chỉ huy lực lượng phối hợp với nhân dân dưới sự lãnh đạo của Đảng, tổ chức giành chính quyền ở Hải Phòng, Kiến An, Hải Dương. Với cương vị Khu trưởng Khu duyên hải Bắc Bộ, Nguyễn Bình đã có công lao to lớn trong việc bảo vệ chính quyền cách mạng còn non trẻ.

Thống nhất các lực lượng quân sự Nam bộ
Khi thực dân Pháp quay lại xâm lược, Nam Bộ rơi vào tình trạng rối ren, phức tạp. Các đảng phái chính trị và lực lượng vũ trang tự phát mọc lên như nấm, trong đó nhiều tổ chức bị thao túng, lợi dụng, trở thành phản động. Song song với việc dựng lên chính phủ Nam kỳ tự trị do Lê Văn Hoạch đứng đầu, Pháp ra sức mua chuộc, lôi kéo những phần tử phản động trong Cao Đài, Hòa Hảo, Bình Xuyên, cũng như một số người Khmer, người Hoa theo Quốc dân Đảng.

Theo sách “Lịch sử Nam Bộ kháng chiến (1945 – 1975)”, riêng ở Sài Gòn – Chợ Lớn khi đó có hàng loạt tổ chức phản động như Thanh niên Bảo quốc đoàn, Liên hiệp Thanh niên nghĩa dõng, Đại Việt Quốc dân Đảng, Mặt trận Nhân dân Nam phần, Tân Việt Nam, nhóm Tinh thần, Xã hội Công giáo, Thanh niên Ái quốc đoàn, Việt đoàn… Cùng lúc, thực dân Pháp tăng cường bắt lính người Việt, thực hiện âm mưu “dùng người Việt đánh người Việt”.

Trước tình hình rối ren ở Nam Bộ, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã triệu Nguyễn Bình về Hà Nội và giao trọng trách thống nhất các lực lượng vũ trang khi ông chưa phải là Đảng viên. Tháng 10/1945, ông vào Nam theo đường Tây Nguyên, đến thị xã Thủ Dầu Một và ở nhà ông giáo Chương. Tại đây, nhờ sự giúp đỡ của ông Võ Bá Nhạc, con rể ông Chương, Nguyễn Bình có được sở cao su Bến Vịnh để lập tổng hành dinh. Ông Nhạc từ đó trở thành Chánh văn phòng của “anh Ba” (bí danh của Nguyễn Bình) và gắn bó với ông cho đến ngày ông hy sinh 29/9/1951, khi mới 43 tuổi.

Chỉ sau hai năm vào Nam, Nguyễn Bình đã thu phục được nhiều tướng lĩnh giang hồ như Bảy Viễn (Lê Văn Viễn), Mười Trí, Bá Dương, Tám Mạnh, Năm Hà…, đưa lực lượng Bình Xuyên đứng vào hàng ngũ Quân đội quốc gia Việt Nam, cùng tham gia kháng chiến chống Pháp.

Tết năm 1948, từ Việt Bắc, Chủ tịch Hồ Chí Minh nhận được thư chúc Tết của Bảy Viễn, Mười Trí, những thủ lĩnh Bình Xuyên. Bác không chỉ hồi đáp mà còn gửi lời thăm hỏi tới Bá Dương và viết riêng thư cho Nguyễn Bình. Trong thư, Bác căn dặn: “Chú mọi việc phải rất cẩn thận, bàn bạc với anh em Ủy ban kháng chiến hành chính và các đồng chí phụ trách quân sự để giữ đúng nguyên tắc tối cao của chính quyền dân chủ ta, mọi việc đều đặt quyền lợi của Tổ quốc lên trên…”

Ngày 10/12/1945, Hội nghị Xứ ủy Nam Bộ mở rộng quyết định thành lập các khu. Trong đó, Khu 7 ra đời, bao gồm thành phố Sài Gòn và các tỉnh Gia Định, Chợ Lớn, Biên Hòa, Bà Rịa, Thủ Dầu Một, Tây Ninh. Bộ Chỉ huy Khu 7 do Nguyễn Bình làm Khu bộ trưởng, Trần Xuân Độ giữ chức Chủ nhiệm Chính trị bộ và Dương Văn Dương làm Khu bộ phó.

Chỉ sau ba tháng đặt chân vào Nam, từ tháng 1/1946, Nguyễn Bình đã nhanh chóng tập hợp các chi đội, phân đội, các tổ vũ trang tự lập rải rác khắp Sài Gòn – Gia Định, tổ chức thành một lực lượng thống nhất mang tên Ban Công tác thành, Tự vệ thành. Dưới sự chỉ huy của ông, những trận tập kích táo bạo vào Tổng hành dinh Bộ chỉ huy tối cao Pháp, các căn cứ quân sự, cơ quan đầu não của địch ngay giữa lòng Sài Gòn đã làm nức lòng quân dân Nam Bộ, đồng thời gieo rắc nỗi kinh hoàng cho kẻ thù. Sự xuất hiện của vị “tướng quân huyền thoại” khiến thực dân Pháp phải treo thưởng lớn cho ai bắt hoặc giết được Nguyễn Bình.

Trong ba năm từ 1945 đến 1948, những chủ trương và chỉ đạo của Nguyễn Bình đã đem lại nhiều kết quả quan trọng. Chiến khu được giữ vững, các ban công tác liên tiếp lập chiến công vang dội ngay trong lòng nội thành: đánh thẳng vào các cơ sở có sĩ quan, nhân viên cao cấp của Lục quân, Hải quân, Không quân Pháp; tập kích kho đạn, phá hủy phương tiện quân sự của địch. Ông còn vận động thành công một bộ phận Bình Xuyên đi theo kháng chiến.

Không chỉ dừng ở việc xây dựng lực lượng vũ trang, Nguyễn Bình còn quy tụ được nhiều trí thức tham gia cách mạng bằng chính tài năng và nhân cách của mình trong bối cảnh vô cùng phức tạp. Ông tổ chức xây dựng lực lượng quân y ngay từ những ngày đầu gian khó, đồng thời chú trọng lập nên những công binh xưởng đầu tiên ở Nam Bộ. Với ông, phải có vũ khí trong tay thì những người lính yêu nước mới đủ sức hoàn thành nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc.

Hai năm 1947 – 1948 đánh dấu bước phát triển mạnh mẽ của phong trào kháng chiến ở Nam Bộ. Lực lượng vũ trang được tổ chức, chỉ huy thống nhất và ngày càng quy củ. Chế độ chính trị viên được thiết lập đến tận cấp trung đội; tổ chức Đảng được xây dựng đến cấp đại đội, trung đội, bảo đảm sự lãnh đạo tuyệt đối của Đảng. Công tác giáo dục chính trị, huấn luyện quân sự và rèn luyện kỷ luật quân đội được đặc biệt coi trọng, góp phần nâng cao sức chiến đấu của toàn lực lượng. Cũng trong năm 1947, ông được kết nạp vào Đảng Cộng sản Đông Dương (tiền thân của Đảng Cộng sản Việt Nam).

Năm 1948, Nguyễn Bình được bổ nhiệm làm Phó Chủ tịch Ủy ban Hành chính Kháng chiến Nam Bộ kiêm Ủy viên Quân sự Nam Bộ. Từ 1948 đến 1951, trên cương vị Khu trưởng Khu 7 rồi Tư lệnh Miền, ông đã cùng tập thể Xứ ủy, Khu ủy đưa ra nhiều quyết sách đúng đắn, giải quyết những vấn đề cốt lõi, xây dựng lực lượng vũ trang ngày càng lớn mạnh. Cuộc chiến tranh du kích ở Sài Gòn – Chợ Lớn nói riêng và toàn Nam Bộ nói chung đều in đậm dấu ấn chỉ huy của ông.

Trung tướng Nguyễn Bình từng khẳng định: “Khi ở trong chiến khu, rừng che chở cho ta; khi ở nội thành thì sức mạnh chính là ở lòng dân.” Với tư tưởng ấy, ông đã đề ra nhiều quyết sách quan trọng trong việc chỉnh đốn chính quyền và củng cố khối đại đoàn kết toàn dân ở Nam Bộ.

Ngày 29/9/1951, trên đường hành quân từ Nam ra Bắc nhận nhiệm vụ mới, Nguyễn Bình bị phục kích và anh dũng hy sinh trên đất Campuchia. Ông cũng là vị Tướng liệt sĩ đầu tiên đã hy sinh trong khi làm nhiệm vụ. Tháng 9/2000, được sự giúp đỡ tận tình của chính phủ Campuchia, đội công tác Bộ Quốc phòng đã tìm thấy hài cốt Trung tướng Nguyễn Bình đưa về nước. Lễ truy điệu và an táng hài cốt liệt sĩ, Trung tướng Nguyễn Bình được tổ chức trọng thể tại nghĩa trang liệt sĩ TP Hồ Chí Minh.

Với những cống hiến to lớn, ông được truy tặng Huân chương Quân công hạng Nhất, Huân chương Hồ Chí Minh và danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân. Chỉ trong vỏn vẹn sáu năm ở miền Nam, vị tướng quân huyền thoại đã hoàn thành xuất sắc trọng trách lịch sử mà Chủ tịch Hồ Chí Minh tin cậy giao phó. Ông đã giữ trọn lời thề sinh tử với Nam Bộ, mảnh đất Thành đồng của Tổ quốc.

Tháng 3/2000, Đại tướng Phạm Văn Trà, nguyên Bộ trưởng Bộ Quốc phòng khẳng định, “Đồng chí Nguyễn Bình là một người Cộng sản kiên trung, một tướng lĩnh quả cảm, nghĩa hiệp giàu đức hy sinh, lòng dũng cảm và tài thao lược. Đồng chí đã có những cống hiến to lớn đối với sự nghiệp giải phóng dân tộc dưới sự lãnh đạo của Đảng. Tên tuổi Nguyễn Bình luôn luôn gắn liền với chiến khu Đông Triều, chiến khu vùng Duyên hải Bắc bộ, với Sài Gòn – Chợ Lớn, Đông Nam bộ và Nam bộ. Cuộc đời và sự nghiệp của đồng chí là một tấm gương sáng cho các thế hệ cán bộ, chiến sĩ Quân đội nhân dân Việt Nam học tập noi theo. Công lao và tên tuổi của đồng chí mãi mãi sáng trên Đài Tổ quốc ghi công…

Trung tướng Nguyễn Bình, tên thật là Nguyễn Phương Thảo, sinh năm 1908 tại làng An Phú, xã Giai Phạm, huyện Yên Mỹ, tỉnh Hưng Yên. Tháng 9/1945, khi đang giữ cương vị Tư lệnh Chiến khu Trần Hưng Đạo (Hải Phòng), ông được Chủ tịch Hồ Chí Minh tin tưởng cử làm phái viên quân sự của Chính phủ vào Nam Bộ, thống nhất các lực lượng vũ trang tự lập thành Giải phóng quân Nam Bộ trong những ngày đầu kháng chiến chống thực dân Pháp quay lại xâm lược.

Ngày 20/1/1948, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh số 115/SL phong quân hàm Trung tướng cho Nguyễn Bình, Khu trưởng Khu 7, kiêm Ủy viên Quân sự Nam Bộ. Ông trở thành vị Trung tướng đầu tiên trong lịch sử Quân đội nhân dân Việt Nam.

74 năm đã trôi qua kể từ ngày Trung tướng, Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân Nguyễn Bình anh dũng hy sinh (29/9/1951 – 29/9/2025), nhưng dấu ấn và tấm gương sáng ngời của ông vẫn còn nguyên giá trị trong lịch sử dân tộc. Vị tướng quân huyền thoại, người con ưu tú của đất Hưng Yên đã hiến dâng trọn vẹn trí tuệ, bản lĩnh và cả cuộc đời cho sự nghiệp giải phóng dân tộc. Sáu năm ở Nam Bộ, ông đã xây dựng lực lượng, gây dựng lòng dân, chỉ huy những chiến công vang dội, để lại nền móng vững chắc cho cuộc kháng chiến lâu dài của dân tộc.

Sự hy sinh oanh liệt của Trung tướng Nguyễn Bình là nỗi tiếc thương vô hạn nhưng cũng là niềm tự hào lớn lao. Tên tuổi ông mãi mãi bất tử trong lòng Nhân dân, trong lịch sử Quân đội nhân dân Việt Nam và trong khối đại đoàn kết toàn dân tộc.

Thế Nguyễn