Ngày 14/10/2025, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII đã công bố toàn văn dự thảo các văn kiện trình Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng để lấy ý kiến góp ý rộng rãi từ cán bộ, đảng viên và nhân dân. Nổi bật trong đó là Dự thảo Báo cáo chính trị mang tiêu đề: “Dưới lá cờ vẻ vang của Đảng, chung sức, đồng lòng thực hiện thắng lợi các mục tiêu phát triển đất nước đến năm 2030; tự chủ chiến lược, tự cường, tự tin, tiến mạnh trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc vì hoà bình, độc lập, dân chủ, giàu mạnh, phồn vinh, văn minh, hạnh phúc, vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội.” Đáng chú ý, cụm từ “phồn vinh” được nhấn mạnh như một mục tiêu quan trọng, xuyên suốt hành trình cách mạng Việt Nam trong bối cảnh phát triển mới của dân tộc.

Từ “phồn vinh” giả tạo và sự mỉa mai thâm thúy của Người về “phồn vinh” Đông Dương
Khái niệm “phồn vinh” và “hạnh phúc” từng được Nguyễn Ái Quốc, người thanh niên yêu nước sử dụng lần đầu tiên trong một bối cảnh đặc biệt: để mỉa mai và vạch trần sự giả tạo của cái gọi là “phồn vinh” mà thực dân Pháp rêu rao mang lại cho người dân An Nam. Trong “Thư ngỏ gửi ông Anbe Xarô, Bộ trưởng Bộ Thuộc địa” đăng trên báo L’Humanité ngày 25/7/1922, với bút danh Nguyễn Ái Quốc, Người viết châm biếm: “Dưới quyền cai trị của ngài, dân An Nam đã được hưởng phồn vinh thật sự và hạnh phúc thật sự… những ty rượu và ty thuốc phiện… những sự bắn giết hàng loạt, nhà tù, nền dân chủ và tất cả bộ máy tinh vi của nền văn minh hiện đại, đã làm cho người An Nam tiến bộ nhất châu Á và sung sướng nhất trần đời.” Lối hành văn sắc sảo, châm biếm sâu cay ấy không chỉ phản ánh hiện thực u ám dưới ách đô hộ thực dân, mà còn khẳng định tinh thần đấu tranh mạnh mẽ vì một nền độc lập, hạnh phúc và phồn vinh thật sự cho dân tộc.
Gần một năm sau, trong bài báo “Tinh hoa của xứ Đông Dương” đăng trên tờ Le Paria, số 13 (tháng 4/1923), Nguyễn Ái Quốc tiếp tục phơi bày sự lố bịch và tinh thần nịnh bợ của một số trí thức tay sai trong guồng máy cai trị thực dân. Với giọng văn châm biếm sâu cay, Người nhắc đến Nguyễn Khắc Vệ, một trí thức “tiến sĩ đủ ngành” đang làm việc tại Tòa biện lý Sài Gòn đã phát biểu trong đám tang của Toàn quyền Lông rằng: “…nếu có thể phát biểu thay toàn thể nhân dân Đông Dương, thì ông chắc chắn rằng, tiếng nói đó sẽ đau thương tỏ lòng tri ân Toàn quyền về tất cả những gì mà Toàn quyền đã ban cho dân tộc An Nam…”, khi Vệ long trọng tuyên bố: “Và những ai, nhờ vào những biện pháp khoan dung của ngài, ngày nay, đang cùng các vị đại diện của nước bảo hộ góp phần vào công cuộc phồn vinh ngày càng tăng tiến của xứ Đông Dương, sẽ cất lên từ đáy lòng mình lời tri ân ngài và lòng sùng kính đối với anh linh ngài…”
Cùng quan điểm tán tụng, kỹ sư Cao Văn Sen, Chủ tịch Hội những người Đông Dương còn cho rằng: “Việc ông Lông chết quá sớm là một cái tang cho toàn cõi Đông Dương.” Trước những lời tâng bốc phi lý ấy, Nguyễn Ái Quốc đau xót kết luận: “Nếu quả thực tất cả những người An Nam đều cũng luồn cúi sát đất như hai đứa con này của guồng máy cai trị thì quả thực là dân này xứng đáng với cái số phận được cho.”
Với lối viết sắc bén, Nguyễn Ái Quốc không chỉ bóc trần bản chất giả tạo của cái gọi là “phồn vinh” dưới ách đô hộ, mà còn đặt ra một câu hỏi đầy ám ảnh về phẩm giá, về tinh thần độc lập tự cường của cả một dân tộc trong thời kỳ nô lệ.
Và trong tác phẩm “Bản án chế độ thực dân Pháp”, được Nguyễn Ái Quốc viết trong khoảng năm 1921–1925 và xuất bản lần đầu tại Paris vào năm 1925, Người đã viết: “Trong lúc ở Mácxây người ta trưng bày sự phồn vinh giả tạo của xứ Đông Dương, thì ở Trung Kỳ dân đang chết đói. Ở đây, người ta ca ngợi lòng trung thành, thì ở bên kia, người ta đang giết người!”. Như vậy, thứ “phồn vinh” được thực dân Pháp tô vẽ, trưng bày và rêu rao chẳng qua là sự phồn vinh giả tạo, được xây dựng trên xương máu, nước mắt và sự bóc lột tàn bạo của nhân dân các nước thuộc địa. Đó là thứ “phồn vinh” do ăn cướp mà có, là sản phẩm của liên minh giữa thực dân, phong kiến và tư sản mại bản, hoàn toàn trái ngược với lý tưởng độc lập, tự do và hạnh phúc mà cách mạng Việt Nam hướng tới.
Sự phồn vinh giả tạo ấy tiếp tục được duy trì và tô hồng dưới thời Mỹ – ngụy, với cái tên “Sài Gòn – Hòn ngọc Viễn Đông” mà bè lũ cướp nước và bán nước không ngừng rêu rao. Và ngày nay, một số kẻ “theo đóm ăn tàn” lại tiếp tục tự huyễn hoặc hoặc ngộ nhận về một thời kỳ hào nhoáng vốn chỉ là thứ “phồn vinh” được tô vẽ bởi những đồng đô-la của Mỹ, đồng minh và chư hầu, trút vào miền Nam Việt Nam nhằm duy trì một chế độ tay sai lệ thuộc và phản dân tộc.

Đến “phồn vinh” thực sự của nhà nước công nông đầu tiên ở Đông Nam Á
Ngay sau thắng lợi vĩ đại của Cách mạng Tháng Tám năm 1945, một dấu mốc chói lọi trong lịch sử dân tộc Việt Nam, dưới sự lãnh đạo của Đảng mà đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh, đã đập tan xiềng xích nô lệ gần một thế kỷ của thực dân Pháp, đánh đuổi quân phát xít Nhật, đồng thời xóa bỏ chế độ phong kiến tồn tại hàng nghìn năm.
Trên nền tảng đó, Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, nhà nước công nông đầu tiên ở Đông Nam Á chính thức ra đời, mở ra kỷ nguyên độc lập, tự do cho dân tộc. Từ đây, mục tiêu “phồn vinh” không còn là khẩu hiệu mị dân như dưới ách đô hộ, mà trở thành khát vọng thực tế, được thể hiện rõ ràng trong đường lối đối nội, đối ngoại của nước Việt Nam mới. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã sử dụng cụm từ này phổ biến trong các sự kiện ngoại giao trọng đại và các bức điện chúc mừng Quốc khánh gửi tới bạn bè, đối tác quốc tế như một thông điệp của một dân tộc đang vươn mình vì hòa bình, thịnh vượng và hạnh phúc thực sự.
Trong “Điện văn gửi Tổng thống Hoa Kỳ H. Tơruman” ngày 17/10/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định rõ quan điểm và khát vọng của Việt Nam độc lập trong bối cảnh thế giới sau chiến tranh. Người viết: “Về nguyên tắc, nhân dân Việt Nam hoàn toàn ủng hộ việc thành lập Ủy ban tư vấn đối với khu vực Viễn Đông. Trước hết, xét đến tầm quan trọng về chiến lược và kinh tế của Việt Nam, thứ đến là mong muốn tha thiết mà Việt Nam cảm nhận sâu sắc và đã chứng tỏ một cách nhất trí, được hợp tác với những nền dân chủ khác trong việc tạo lập và củng cố nền hòa bình và phồn vinh trên thế giới”. Câu chữ vừa ngắn gọn vừa hàm chứa chiều sâu chiến lược và khát vọng dân tộc: Việt Nam không chỉ giành độc lập cho riêng mình, mà còn chủ động thể hiện tinh thần trách nhiệm và hội nhập với thế giới dân chủ tiến bộ. Việc Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh đến “nền hòa bình và phồn vinh trên thế giới” cho thấy “phồn vinh” giờ đây không còn là cái vỏ rỗng của một nền đô hộ giả tạo, mà trở thành lý tưởng cao đẹp gắn liền với hòa bình, hợp tác và phát triển bền vững, điều mà Việt Nam độc lập mong muốn đóng góp một cách chủ động, bình đẳng và có trách nhiệm.
Đặc biệt, trong “Trả lời phỏng vấn của ông E.A. Đơ La Vinhơri, Chủ nhiệm Tạp chí Sự kiện (Pháp)”, đăng trên Báo Nhân Dân, số 4589, ngày 31/10/1966, khi được hỏi: “Sau chiến tranh, triển vọng tương lai của nhân dân Việt Nam thống nhất như thế nào?”, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã trả lời dứt khoát, khẳng định rõ mục tiêu chiến lược và tầm nhìn dài hạn của cách mạng Việt Nam: “Hoà bình được lập lại, nhân dân Việt Nam sẽ đem hết sức mình xây dựng lại Tổ quốc để biến nó thành một nước thống nhất, hoà bình, độc lập, dân chủ, phồn vinh, có quan hệ hữu nghị với tất cả các dân tộc hoà bình trên thế giới.”
Câu trả lời không chỉ thể hiện tầm nhìn vượt thời đại của một nhà lãnh đạo cách mạng, mà còn phản ánh đầy đủ khát vọng sâu sắc và bền bỉ của dân tộc Việt Nam về một đất nước thực sự phồn vinh, một sự phồn vinh gắn liền với độc lập, dân chủ và hòa bình bền vững. Điều đặc biệt quan trọng là “phồn vinh” ở đây không tách rời mà hòa quyện với các giá trị cốt lõi của chủ nghĩa xã hội mà Việt Nam theo đuổi: đoàn kết dân tộc, quyền làm chủ của nhân dân, và vị thế quốc gia trong cộng đồng thế giới. Trong bối cảnh chiến tranh khốc liệt năm 1966, lời khẳng định ấy không chỉ là tuyên ngôn của niềm tin mà còn là lời hứa về tương lai, một tương lai mà “phồn vinh” không còn là giấc mộng xa xôi, mà là thành quả của sự hy sinh, đoàn kết và ý chí độc lập vươn lên của toàn dân tộc.

“Phồn vinh”, mục tiêu xuyên suốt trong tư tưởng Hồ Chí Minh và đường lối cách mạng Việt Nam
Kiên trì tư tưởng, khát vọng về một nước Việt Nam phồn vinh mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ấp ủ và theo đuổi suốt cuộc đời, trong Lễ truy điệu Người ngày 9/9/1969 tại Quảng trường Ba Đình, Điếu văn của Ban Chấp hành Trung ương Đảng Lao động Việt Nam do Bí thư thứ nhất Ban Chấp hành Trung ương Đảng Lê Duẩn đã trang trọng tuyên thệ: “Vĩnh biệt Người, chúng ta thề: Đem hết sức mình tiếp tục phấn đấu thực hiện lý tưởng xã hội chủ nghĩa và cộng sản chủ nghĩa cao đẹp mà Người đã vạch ra cho giai cấp công nhân và nhân dân ta, đem lại phồn vinh cho đất nước, hạnh phúc cho đồng bào.” Lời thề ấy là minh chứng thiêng liêng cho sự kế tục trung thành tư tưởng Hồ Chí Minh, đồng thời cũng đánh dấu sự hiện diện chính thức và xuyên suốt của mục tiêu “phồn vinh” trong đường lối cách mạng của Đảng ta.
Đặc biệt, trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (năm 1991), lần đầu tiên Đảng ta đã đưa trực tiếp khái niệm “phồn vinh” vào văn kiện nền tảng, khẳng định: “Cương lĩnh này là ngọn cờ chiến đấu vì thắng lợi của sự nghiệp xây dựng đất nước Việt Nam từng bước quá độ lên chủ nghĩa xã hội, định hướng cho mọi hoạt động của Đảng hiện nay và trong những thập kỷ tới. Thực hiện thắng lợi Cương lĩnh này, nước nhà nhất định trở thành một nước xã hội chủ nghĩa phồn vinh.”
Tiếp nối tinh thần đó, trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011), Đảng ta tiếp tục nhấn mạnh và mở rộng nội hàm của mục tiêu ấy: “Cương lĩnh của Đảng là ngọn cờ chiến đấu vì thắng lợi của sự nghiệp xây dựng đất nước Việt Nam từng bước quá độ lên chủ nghĩa xã hội, định hướng cho mọi hoạt động của Đảng, Nhà nước, của cả hệ thống chính trị và nhân dân ta trong những thập kỷ tới. Thực hiện thắng lợi Cương lĩnh này, nước nhà nhất định trở thành một nước xã hội chủ nghĩa phồn vinh, hạnh phúc.”
Từ tư tưởng Hồ Chí Minh đến những định hướng chiến lược của Đảng, “phồn vinh” không chỉ là một khát vọng, mà là mục tiêu thực tiễn, là sợi chỉ đỏ xuyên suốt hành trình cách mạng Việt Nam hiện đại, gắn liền với độc lập dân tộc, chủ nghĩa xã hội và hạnh phúc của nhân dân.
Như vậy, đối chiếu với hệ mục tiêu, cũng là chủ đề trọng tâm của Đại hội được thể hiện trong Dự thảo Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII trình tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, có thể khẳng định: cùng với các mục tiêu chiến lược khác, “phồn vinh” không chỉ là một đích đến phát triển, mà còn là sự kế thừa trọn vẹn và khẳng định rõ nét tư tưởng Hồ Chí Minh; đồng thời, là sự tiếp nối kiên định những định hướng lớn của Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội mà Đảng ta đã xác lập.
Trong kỷ nguyên phát triển mới của dân tộc, bắt đầu từ Đại hội XIV, “phồn vinh” không còn dừng lại ở khát vọng, mà đã thực sự trở thành một sứ mệnh lịch sử, sứ mệnh gắn với mục tiêu xây dựng một đất nước hùng cường, hạnh phúc, hội nhập sâu rộng và phát triển bền vững.
Sau 96 năm kể từ khi Chủ tịch Hồ Chí Minh lần đầu mỉa mai thứ “phồn vinh giả tạo” trong ách thực dân, đặc biệt là sau 40 năm thực hiện công cuộc đổi mới dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, mục tiêu về một đất nước phồn vinh đã dần được hiện thực hóa rõ nét. Những thành tựu vĩ đại trong phát triển kinh tế, nâng cao đời sống nhân dân, giữ vững độc lập, chủ quyền quốc gia, cùng với vị thế ngày càng cao của Việt Nam trên trường quốc tế, là minh chứng sống động cho tầm nhìn chiến lược đúng đắn và sự kiên trì theo đuổi mục tiêu phồn vinh.
Đảng ta đã tổng kết sâu sắc: “Nhìn lại 40 năm thực hiện công cuộc đổi mới, dưới sự lãnh đạo của Đảng, đất nước ta đã đạt được những thành tựu to lớn có ý nghĩa lịch sử…” với những bước tiến mạnh mẽ về kinh tế – xã hội, quốc phòng – an ninh, đối ngoại và hội nhập quốc tế. Đặc biệt, uy tín, vai trò lãnh đạo của Đảng tiếp tục được khẳng định, niềm tin của Nhân dân đối với chế độ xã hội chủ nghĩa không ngừng được củng cố.
Những thành quả đó không chỉ chứng minh năng lực lãnh đạo, mà còn là minh chứng rõ ràng cho tư tưởng nhất quán, sự kiên định và khát vọng phồn vinh của Đảng, của Chủ tịch Hồ Chí Minh và của toàn dân tộc Việt Nam. Chính điều đó làm nên tính hoàn bị của hệ mục tiêu cách mạng trong kỷ nguyên mới, một Việt Nam phồn vinh, hạnh phúc, có vị thế xứng đáng trong cộng đồng quốc tế, vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội.
Thượng tá, TS Hà Sơn Thái/Phó Trưởng phòng Khoa học Quân sự, Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam


