Thứ Bảy, Tháng 1 31, 2026
* Email: bbt.dongnama@gmail.com *Tòa soạn: 0989011688 - 0768908888
spot_img

Từ thời khắc lịch sử 1930 đến tầm nhìn Đại hội XIV

Bài viết nhân kỷ niệm 96 năm thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam

ĐNA -

Ngày 3/2/1930 đánh dấu sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam, bước ngoặt vĩ đại trong lịch sử dân tộc. Từ thời khắc ấy, cách mạng Việt Nam đã có một lực lượng lãnh đạo thống nhất, dưới sự dẫn dắt của Chủ tịch Hồ Chí Minh, kiên định con đường cách mạng khoa học, gắn kết chặt chẽ độc lập dân tộc với chủ nghĩa xã hội, đưa dân tộc Việt Nam bước vào quỹ đạo phát triển của thời đại.

Ngày 3/2/1930, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đã chủ trì việc hợp nhất ba tổ chức cộng sản, chính thức thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam, chấm dứt tình trạng phân tán về tư tưởng và tổ chức trong phong trào cách mạng. Sự kiện này đã mở ra một bước ngoặt lớn, khơi dậy phong trào cách mạng sâu rộng trên cả nước. Dưới sự lãnh đạo của Người, Đảng đã xây dựng được đường lối cách mạng đúng đắn, thống nhất các lực lượng yêu nước, giương cao ngọn cờ độc lập dân tộc, từng bước đưa nhân dân Việt Nam thoát khỏi ách áp bức, tiến tới giành lại nền độc lập, tự do cho Tổ quốc.

Nhìn lại hành trình 96 năm xây dựng và phát triển, có thể khẳng định: sự ra đời của Đảng là kết quả hội tụ của bốn yếu tố quyết định: Thời – Thế – Lực – Mưu. Đây chính là nền tảng đã tạo nên thắng lợi vẻ vang của cách mạng Việt Nam trong thế kỷ XX và tiếp tục định hình tư duy chiến lược của Đảng trong thế kỷ XXI, thể hiện rõ nét trong tầm nhìn phát triển đến năm 2030 và 2045 tại Đại hội XIV.

Ngày 3/2/1930, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đã chủ trì việc hợp nhất ba tổ chức cộng sản, chính thức thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam, chấm dứt tình trạng phân tán về tư tưởng và tổ chức trong phong trào cách mạng.

Thời – Từ khủng hoảng đường lối đến thời đại chuyển đổi
Đầu thế kỷ XX, thế giới bước vào giai đoạn biến động sâu sắc: chủ nghĩa tư bản chuyển sang giai đoạn đế quốc chủ nghĩa, mâu thuẫn giữa các cường quốc gia tăng, chiến tranh và khủng hoảng lan rộng. Cách mạng Tháng Mười Nga năm 1917 đã mở ra một thời đại mới, thời đại quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội, tạo xung lực mạnh mẽ cho phong trào giải phóng dân tộc toàn cầu.

Tại Việt Nam, các phong trào yêu nước theo khuynh hướng phong kiến, nông dân, trí thức và tư sản lần lượt thất bại, đẩy đất nước vào cuộc khủng hoảng đường lối sâu sắc. Trong bối cảnh đó, yêu cầu lịch sử đặt ra là phải tìm được con đường cách mạng mới, phù hợp với xu thế thời đại và thực tiễn dân tộc. Sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam vì thế không phải ngẫu nhiên, mà là tất yếu, là sự đáp lời của thời đại trước đòi hỏi cấp bách của lịch sử dân tộc.

Sang thế kỷ XXI, bối cảnh toàn cầu tiếp tục chuyển động mạnh mẽ: chuyển dịch quyền lực, cạnh tranh chiến lược, cách mạng công nghiệp mới và toàn cầu hóa sâu rộng. Trong bối cảnh đó, Đại hội XIV của Đảng trở thành mốc son định vị tư duy chiến lược mới, đưa đất nước vượt qua tư duy phòng thủ, hướng đến sứ mệnh kiến tạo vị thế quốc gia trong trật tự thế giới đang tái định hình.

Phất cờ quyết thắng trên nóc hầm De Casteris ngày 7/5/1954.

Thế – Từ lựa chọn con đường cách mạng đến định vị chiến lược quốc gia
Sau Cách mạng Tháng Mười Nga, chủ nghĩa Mác – Lênin trở thành nền tảng tư tưởng của phong trào cách mạng thế giới. Từ thực tiễn hoạt động cách mạng quốc tế, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đã tìm thấy trong học thuyết ấy con đường giải phóng dân tộc Việt Nam – chuyển phong trào yêu nước từ tự phát sang tự giác, từ cảm tính sang khoa học, từ mục tiêu độc lập sang chương trình hành động chiến lược.

Nếu trong thế kỷ XX, “thế” của cách mạng là kết hợp độc lập dân tộc với chủ nghĩa xã hội, thì trong thế kỷ XXI, “thế” tiếp tục được mở rộng: định vị chiến lược quốc gia trong một thế giới đa cực, hội nhập sâu rộng, song vẫn giữ vững độc lập, tự chủ. Đại hội XIV thể hiện tinh thần đó qua việc xác lập tầm nhìn đến năm 2030 và 2045, gắn mục tiêu phát triển với bảo đảm chủ quyền, lợi ích quốc gia và bản sắc văn hóa dân tộc.

Sáng 10/10/1954, các cánh quân của Quân đội nhân dân Việt Nam từ các cửa ô tiến vào tiếp quản Thủ đô được giải phóng trong rừng cờ hoa đón chào của 20 vạn người dân Hà Nội. (Ảnh: Tư liệu TTXVN)

Lực – Từ phong trào Cách mạng đến tiềm lực Quốc gia
Sự ra đời của Đảng là kết quả của sự trưởng thành của giai cấp công nhân và phong trào yêu nước. Giai cấp công nhân Việt Nam đã chuyển từ đấu tranh kinh tế sang đấu tranh chính trị, từng bước trở thành lực lượng xã hội nòng cốt. Việc hợp nhất các tổ chức cộng sản đầu năm 1930 phản ánh yêu cầu lịch sử về một tổ chức lãnh đạo thống nhất.

Trải qua các thời kỳ: đấu tranh giành chính quyền, kháng chiến bảo vệ Tổ quốc, đổi mới và hội nhập, lực lượng cách mạng Việt Nam không ngừng được tôi luyện. Gần 40 năm đổi mới đã giúp đất nước tích lũy tiềm lực kinh tế, chính trị, quốc phòng, ngoại giao và văn hóa đáng kể. Từ một quốc gia nghèo nàn, Việt Nam đang vươn mình trở thành nền kinh tế có độ mở cao, có vị thế ngày càng gia tăng trên trường quốc tế.

Chính tiềm lực ấy tạo nên “lực” phát triển mới, nền tảng cho tầm nhìn chiến lược của Đại hội XIV. “Lực” không chỉ là sức mạnh vật chất, mà còn là sự kết tinh của ý chí dân tộc, bản lĩnh chính trị và năng lực tổ chức của Đảng.

Đoàn xe tăng tiến vào khuôn viên Dinh Độc lập trưa ngày 30/4/1975. Ảnh: TL.

Mưu – Từ thiên tài chiến lược của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đến tư duy kiến tạo phát triển
Năm 1930, vai trò của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc mang ý nghĩa quyết định: chuẩn bị đầy đủ về tư tưởng, tổ chức và cán bộ cho sự ra đời của Đảng. Người chủ trì Hội nghị hợp nhất các tổ chức cộng sản, soạn thảo Cương lĩnh chính trị đầu tiên, thể hiện thiên tài kết hợp giữa học thuyết Mác – Lênin và thực tiễn cách mạng Việt Nam.

Nếu năm 1930, “mưu” là nghệ thuật mở đường cứu nước, thì tại Đại hội XIV, “mưu” là tư duy lãnh đạo phát triển. Đảng không chỉ hoạch định con đường bảo vệ độc lập, mà còn vạch ra lộ trình xây dựng một quốc gia hùng cường, phát triển bền vững và có vai trò chủ động trong thế giới hiện đại.

Xuyên suốt từ 1930 đến nay, “mưu” là biểu hiện của bản lĩnh tư duy, khả năng thích ứng và đổi mới sáng tạo của Đảng – giữ vai trò hạt nhân kiến tạo vận mệnh dân tộc.

Chủ tịch nước Lương Cường phát biểu yêu cầu Mỹ dỡ bỏ cấm vận Cuba tại phiên thảo luận chung cấp cao Đại hội đồng Liên Hợp Quốc ngày 23/9/2025.

Từ lịch sử đến tầm nhìn 2030 – 2045
Nhìn từ Đại hội XIV, ý nghĩa lịch sử của ngày 3/2/1930 hiện lên rõ ràng hơn bao giờ hết. Nếu 96 năm trước, Đảng ra đời để dẫn dắt dân tộc giành lại độc lập, thì hôm nay, Đảng tiếp tục sứ mệnh lịch sử – đưa đất nước trở thành một quốc gia phát triển, hùng cường và có vị thế.

Giữa hai dấu mốc ấy là một hành trình liên tục, trong đó Đảng không chỉ là sản phẩm của lịch sử, mà còn là chủ thể kiến tạo lịch sử. Sự ra đời của Đảng năm 1930 không chỉ là điểm mở đầu của một chính đảng, mà còn đặt nền móng cho hành trình kiến tạo tương lai. Trong thế kỷ XXI, Đảng tiếp tục là lực lượng lãnh đạo cách mạng và là chủ thể hoạch định con đường phát triển toàn diện, bền vững cho đất nước.

Chặng đường 95 năm qua của Đảng Cộng sản Việt Nam từ mùa Xuân lịch sử 1930

Thế Nguyễn – Minh Văn