Thứ Bảy, Tháng 2 21, 2026
* Email: bbt.dongnama@gmail.com *Tòa soạn: 0989011688 - 0768908888
spot_img

Giữ nước từ sớm, từ xa – Quy luật lịch sử và tầm nhìn chiến lược trong ngoại giao và quốc phòng của Việt Nam



ĐNA -

Tư duy “giữ nước từ sớm, từ xa” không phải là khái niệm mới, mà là sự kết tinh từ hơn 4.000 năm lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam. Từ thời cha ông dựng nước và giữ nước đến các cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, đế quốc Mỹ, đến bảo vệ biên giới Tây Nam, phía Bắc cuối thế kỷ XX và bước vào thời kỳ hội nhập quốc tế, Việt Nam luôn chủ động phòng ngừa nguy cơ, bảo vệ độc lập, chủ quyền bằng sức mạnh tổng hợp của quốc phòng, ngoại giao và khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Nhìn lại lịch sử càng khẳng định giá trị bền vững của tư duy chiến lược của dân tộc Việt Nam trong bối cảnh thế giới nhiều biến động hiện nay.

Truyền thống lịch sử giữ nước từ sớm, từ xa
Từ buổi bình minh dựng nước, cha ông ta đã sớm nhận thức một chân lý sâu sắc: muốn giữ vững độc lập, chủ quyền thì không thể chờ “nước đến chân mới nhảy”, mà phải chủ động chuẩn bị lực lượng, thế trận và lòng dân ngay từ khi đất nước còn yên bình. Trong suốt chiều dài lịch sử, các triều đại phong kiến Việt Nam luôn đặc biệt coi trọng việc xây dựng và bảo vệ biên cương, phát triển quân đội chính quy, tinh nhuệ, củng cố khối đoàn kết toàn dân, đồng thời thực hiện chính sách bang giao mềm dẻo, linh hoạt với các nước láng giềng. Chính sự chủ động, nhìn xa trông rộng ấy đã giúp dân tộc ta nhiều lần vượt qua những thử thách sinh tử, giữ vững chủ quyền trong bối cảnh tương quan lực lượng thường xuyên bất lợi.

Thời nhà Lý là một minh chứng tiêu biểu, sinh động cho tư duy giữ nước từ sớm, từ xa. Trước nguy cơ xâm lược, danh tướng Lý Thường Kiệt đã lựa chọn chiến lược “tiên phát chế nhân”, chủ động tiến công trước để phá thế chiến lược của đối phương, làm suy giảm ý chí và tiềm lực chiến tranh ngay từ đầu. Song song với đó, ông cho xây dựng phòng tuyến sông Như Nguyệt kiên cố, kết hợp chặt chẽ giữa thế trận quân sự và thế trận lòng dân. Đây không chỉ là đỉnh cao của nghệ thuật quân sự thời bấy giờ mà còn thể hiện tầm nhìn chiến lược sâu rộng: bảo vệ đất nước từ xa, không để chiến tranh lan sâu vào nội địa, hạn chế tối đa tổn thất cho nhân dân, bảo toàn lực lượng cho lâu dài.

Đến thời nhà Trần, tư duy giữ nước được nâng lên một tầm cao mới, toàn diện hơn cả về chiều sâu chiến lược lẫn quy mô tổ chức thực hiện. Ba lần kháng chiến chống quân Nguyên – Mông giành thắng lợi vang dội không chỉ bắt nguồn từ tài thao lược quân sự kiệt xuất của các tướng lĩnh, tiêu biểu là Trần Hưng Đạo, mà còn là kết quả của một quá trình chuẩn bị công phu, bài bản và lâu dài. Chính sách “khoan thư sức dân” được thực thi nhất quán, coi dân là gốc của quốc gia, lấy việc bồi dưỡng sức dân làm nền tảng cho sức mạnh quốc phòng. Từ việc xây dựng lực lượng, củng cố tinh thần yêu nước và ý chí quyết chiến qua “Hịch tướng sĩ” của Hưng Đạo Vương, đến tích trữ lương thảo, chuẩn bị căn cứ chiến lược, rèn luyện thủy binh, bộ binh từ sớm, tất cả đã tạo nên một thế trận vững chắc cả về vật chất lẫn tinh thần. Nhờ sự chuẩn bị chủ động và toàn diện ấy, dân tộc ta đã đánh bại một trong những đế chế hùng mạnh nhất thế giới đương thời, khẳng định bản lĩnh, trí tuệ và tầm vóc Việt Nam trước những thử thách khốc liệt của lịch sử.

Bước sang thời cận đại và hiện đại, tư duy giữ nước từ sớm, từ xa tiếp tục được kế thừa, bổ sung và phát triển sáng tạo trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc. Trước Cách mạng Tháng Tám năm 1945, từ việc Chủ tịch Hồ Chí Minh thống nhất các tổ chức cộng sản thành một đảng duy nhất, xây dựng đường lối cách mạng rõ ràng, đến việc phát triển lực lượng chính trị rộng khắp, hình thành các đội vũ trang tuyên truyền và gây dựng cơ sở cách mạng trong quần chúng nhân dân, tất cả đều thể hiện sự chuẩn bị chủ động, bài bản và toàn diện. Chính sự chuẩn bị ấy đã tạo tiền đề để cách mạng nắm bắt thời cơ, giành thắng lợi nhanh chóng khi thời cơ lịch sử xuất hiện.

Trong các cuộc kháng chiến sau đó, đặc biệt trong thời đại Hồ Chí Minh, tư duy giữ nước từ sớm tiếp tục được thể hiện ở việc xây dựng căn cứ địa cách mạng vững chắc, củng cố hậu phương kháng chiến, phát triển lực lượng vũ trang ba thứ quân, đồng thời mở rộng mặt trận ngoại giao, tranh thủ tối đa sự ủng hộ của bạn bè quốc tế. Đó là tầm nhìn chiến lược lâu dài, toàn diện, kết hợp chặt chẽ giữa chuẩn bị quân sự, chính trị và ngoại giao, gắn với việc xây dựng, củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Chính sức mạnh tổng hợp ấy đã tạo nên nền tảng vững chắc để bảo vệ Tổ quốc và đưa sự nghiệp cách mạng đi đến thắng lợi trong những hoàn cảnh cam go nhất.

Qua từng thời kỳ lịch sử, truyền thống giữ nước từ sớm, từ xa vì thế không chỉ dừng lại ở một bài học kinh nghiệm quý báu, mà đã trở thành một quy luật phát triển, một bản lĩnh chính trị và một giá trị cốt lõi trong tư duy chiến lược của dân tộc Việt Nam, nền tảng tư tưởng bền vững cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong mọi thời đại.

Đội Du kích Bắc Sơn 14/2/1941.

Bài học từ các cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc trong thế kỷ XX
Các cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc sau năm 1945 là minh chứng sinh động, giàu sức thuyết phục cho giá trị thực tiễn của tư duy giữ nước từ sớm, từ xa trong điều kiện lịch sử mới. Trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và cuộc chiến tranh xâm lược của đế quốc Mỹ ở Việt Nam, sự chủ động chuẩn bị lực lượng chính trị và quân sự từ trước đã tạo thế và lực để đất nước không rơi vào thế bị động, bất ngờ về chiến lược. Ngay từ những năm đầu cách mạng, việc xây dựng căn cứ địa cách mạng, phát triển lực lượng vũ trang ba thứ quân, hình thành hệ thống chính quyền cách mạng ở cơ sở đã đặt nền móng vững chắc cho cuộc kháng chiến lâu dài. Hậu phương lớn được củng cố không ngừng, cùng với sự ủng hộ ngày càng rộng rãi của bạn bè quốc tế, đã tạo nên sức mạnh tổng hợp to lớn, đưa sự nghiệp giải phóng dân tộc đến thắng lợi vẻ vang.

Cuộc chiến đấu bảo vệ biên giới phía Bắc cuối thập niên 1970 tiếp tục khẳng định yêu cầu thường trực về cảnh giác chiến lược và chuẩn bị quốc phòng trong mọi hoàn cảnh. Khi đất nước vừa thống nhất, còn bộn bề khó khăn về kinh tế – xã hội, tinh thần yêu nước, ý chí độc lập và khối đại đoàn kết toàn dân tộc vẫn được phát huy mạnh mẽ. Nhân dân cả nước một lần nữa thể hiện bản lĩnh kiên cường trong bảo vệ từng tấc đất thiêng liêng của Tổ quốc. Thực tiễn ấy đặt ra yêu cầu lâu dài về xây dựng nền quốc phòng toàn dân vững chắc, gắn kết chặt chẽ giữa phát triển kinh tế với tăng cường quốc phòng – an ninh, không để đất nước rơi vào thế bị động trước mọi nguy cơ.

Song song với sức mạnh quân sự, mặt trận ngoại giao luôn giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong sự nghiệp giữ nước. Những mốc son ngoại giao như Hiệp định Giơ-ne-vơ năm 1954 và Hiệp định Paris năm 1973 đã thể hiện nghệ thuật kết hợp nhuần nhuyễn giữa đấu tranh trên chiến trường và đấu tranh trên bàn đàm phán. Thắng lợi ngoại giao không tách rời thắng lợi quân sự, mà là kết quả của sự phối hợp đồng bộ, linh hoạt giữa các mặt trận. Đây chính là nét đặc sắc trong đường lối cách mạng Việt Nam: kết hợp chặt chẽ đấu tranh quân sự với đấu tranh chính trị và ngoại giao, tạo thế chủ động chiến lược và mở ra những bước ngoặt có ý nghĩa quyết định đối với vận mệnh dân tộc.

Từ thực tiễn lịch sử có thể khẳng định rằng, giữ nước không chỉ là nhiệm vụ riêng của lực lượng vũ trang mà là sự nghiệp thiêng liêng của toàn dân tộc. Sức mạnh bảo vệ Tổ quốc được hình thành từ sự kết hợp hài hòa giữa kinh tế vững mạnh, chính trị ổn định, văn hóa giàu bản sắc, ngoại giao linh hoạt và quốc phòng – an ninh vững chắc. Chính sức mạnh tổng hợp quốc gia ấy là nền tảng bảo đảm cho độc lập, chủ quyền và sự phát triển bền vững của đất nước trong suốt thế kỷ XX cũng như trong chặng đường tương lai.

Chủ tịch nước Lương Cường phát biểu tại Liên Hiệp Quốc, tái khẳng định lập trường nhất quán của Việt Nam ủng hộ Cuba và kêu gọi chấm dứt các biện pháp cấm vận đơn phương.

Ngoại giao độc lập, tự chủ và yêu cầu cảnh giác chiến lược trong bối cảnh quốc tế phức tạp
Trong lịch sử quan hệ quốc tế, thực tế cho thấy các quốc gia nhỏ và đang phát triển thường phải đối mặt với sức ép cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn. Việc kiềm chế, gây ảnh hưởng hoặc chi phối sự phát triển của các nước nhỏ là xu hướng đã từng xuất hiện trong cục diện quyền lực toàn cầu. Vì vậy, đối với Việt Nam, một quốc gia từng trải qua nhiều cuộc chiến tranh bảo vệ độc lập cần giữ vững bản lĩnh, tỉnh táo và độc lập trong đối ngoại luôn có ý nghĩa sống còn.

Sau chiến tranh, Việt Nam từng phải đối mặt với bao vây, cấm vận và nhiều sức ép quốc tế trong bối cảnh trật tự thế giới biến động sâu sắc. Tuy nhiên, bằng đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, đa phương hóa và đa dạng hóa quan hệ quốc tế, Việt Nam từng bước phá thế cô lập, mở rộng hợp tác và hội nhập sâu rộng vào đời sống quốc tế. Quá trình bình thường hóa quan hệ với nhiều quốc gia, tham gia các tổ chức khu vực và toàn cầu đã tạo dựng môi trường hòa bình, ổn định, điều kiện tiên quyết để phát triển đất nước.

Gia nhập ASEAN năm 1995 là một bước ngoặt chiến lược, đưa Việt Nam trở thành thành viên tích cực, có trách nhiệm trong khu vực. Không chỉ tham gia, Việt Nam còn nhiều lần đảm nhiệm vai trò Chủ tịch ASEAN, tham gia sâu rộng vào các cơ chế hợp tác đa phương, góp phần thúc đẩy đối thoại, hòa bình và ổn định ở Đông Nam Á. Điều đó phản ánh vị thế quốc tế ngày càng được nâng cao, đồng thời cho thấy năng lực chủ động, linh hoạt trong ngoại giao khu vực và toàn cầu.

Đến nay, Việt Nam đã thiết lập quan hệ ngoại giao với 193 quốc gia thành viên Liên hợp quốc, xây dựng mạng lưới đối tác chiến lược và đối tác chiến lược toàn diện ngày càng mở rộng, trong đó có 14 nước và Liên minh châu Âu là đối tác chiến lược toàn diện. Mạng lưới quan hệ đan xen lợi ích này không chỉ tạo điều kiện thuận lợi cho hợp tác kinh tế, thương mại, khoa học – công nghệ mà còn góp phần giảm thiểu nguy cơ xung đột, củng cố môi trường hòa bình, ổn định cho phát triển lâu dài.

Tuy nhiên, trong quá trình hội nhập quốc tế sâu rộng, yêu cầu giữ vững cảnh giác chiến lược luôn phải được đặt lên hàng đầu. Thực tiễn lịch sử thế giới cho thấy, những biến động nội tại về tư tưởng, chính trị và văn hóa, nếu không được định hướng và kiểm soát hiệu quả, có thể tác động sâu sắc đến sự ổn định và tồn vong của một quốc gia. Sự tan rã của Liên Xô dưới tác động của Mỹ thông qua trùm tuyên giáo Yakolev, một kẻ đã nhận học bổng từ Mỹ qua chương trình học bổng của Fulbright là một bài học lớn về những thách thức đan xen từ bên trong và bên ngoài trong bối cảnh cạnh tranh chiến lược toàn cầu gay gắt. Những yếu tố cải tổ nóng vội, cùng với tác động phức tạp từ môi trường quốc tế, đã làm suy giảm nền tảng tư tưởng, chính trị và niềm tin xã hội, dẫn đến tan rã thành trì của xã hội chủ nghĩa.

Đối với Việt Nam, bài học ấy đặt ra yêu cầu phải kiên định giữ vững nền tảng tư tưởng, tăng cường xây dựng, chỉnh đốn hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh; củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc; đồng thời chủ động nhận diện, phòng ngừa và đấu tranh với các biểu hiện “diễn biến hòa bình”, lợi dụng hợp tác, giao lưu để can thiệp, gây ảnh hưởng hoặc tạo sự lệ thuộc. Hội nhập phải đi đôi với giữ vững bản lĩnh, mở rộng hợp tác nhưng không đánh đổi độc lập, tự chủ và lợi ích cốt lõi của quốc gia – dân tộc.

Giữ vững độc lập, tự chủ trong đối ngoại không đồng nghĩa với khép mình hay đối đầu, mà là kiên định nguyên tắc, linh hoạt trong sách lược. Việt Nam cần tránh rơi vào sự lệ thuộc vào bất kỳ quốc gia nào, đồng thời cũng không để các nước từng là bạn bè, đối tác truyền thống bị xa lánh. Đường lối đối ngoại phải bảo đảm hài hòa lợi ích quốc gia – dân tộc với trách nhiệm quốc tế, tận dụng tối đa cơ hội hợp tác nhưng luôn giữ thế chủ động chiến lược.

Hình ảnh “ngoại giao cây tre” với gốc vững, thân chắc, cành uyển chuyển đã khái quát sinh động bản sắc đối ngoại Việt Nam trong thời kỳ mới. Gốc vững là nền tảng độc lập, tự chủ; thân chắc là bản lĩnh, kiên định trước mọi sức ép; cành uyển chuyển là sự linh hoạt, mềm dẻo trong ứng xử quốc tế. Tư duy giữ nước từ sớm, từ xa vì thế không chỉ thể hiện ở xây dựng quốc phòng vững mạnh mà còn ở việc chủ động kiến tạo môi trường quốc tế thuận lợi thông qua ngoại giao hòa bình, hợp tác và phát triển – để đất nước vừa hội nhập sâu rộng, vừa giữ vững chủ quyền và định hướng phát triển của mình.

Đoàn xe tăng tiến vào khuôn viên Dinh Độc lập trưa ngày 30/4/1975. Ảnh: TL.

Tư duy quốc phòng hòa bình trong bối cảnh mới
Trong điều kiện thế giới đang biến động nhanh chóng, cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn ngày càng gay gắt và các thách thức an ninh truyền thống, phi truyền thống đan xen phức tạp, Việt Nam kiên định xây dựng nền quốc phòng toàn dân mang tính chất hòa bình và tự vệ. Tư duy quốc phòng hiện nay được thể hiện tập trung ở chính sách “bốn không”: không tham gia liên minh quân sự; không liên kết với nước này để chống nước kia; không cho nước ngoài đặt căn cứ quân sự hoặc sử dụng lãnh thổ Việt Nam chống lại nước khác; không sử dụng hoặc đe dọa sử dụng vũ lực trong quan hệ quốc tế. Đây không chỉ là tuyên bố chính sách mà còn là thông điệp nhất quán về bản lĩnh độc lập, tự chủ và định hướng hòa bình của Việt Nam trước cộng đồng quốc tế.

Chính sách “bốn không” không phải là biểu hiện của sự thụ động hay né tránh trách nhiệm, mà là một lựa chọn chiến lược được cân nhắc kỹ lưỡng nhằm giữ thế cân bằng trong quan hệ quốc tế, tránh bị cuốn vào vòng xoáy đối đầu giữa các nước lớn, đồng thời bảo đảm tối đa lợi ích quốc gia – dân tộc. Trên nền tảng đó, Việt Nam vẫn chủ động xây dựng lực lượng vũ trang cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại; củng cố thế trận quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân; nâng cao năng lực dự báo, sẵn sàng ứng phó hiệu quả với mọi tình huống, bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ.

Song song với việc tăng cường tiềm lực quốc phòng trong nước, Việt Nam đẩy mạnh hội nhập quốc phòng quốc tế một cách chủ động, tích cực và có trách nhiệm. Việc cử lực lượng tham gia các Phái bộ gìn giữ hòa bình của Liên hợp quốc tại Nam Sudan, Cộng hòa Trung Phi và một số địa bàn khác là minh chứng sinh động cho tư duy giữ nước từ sớm, từ xa bằng biện pháp hòa bình. Thông qua các hoạt động này, Việt Nam không chỉ góp phần vào nỗ lực chung vì hòa bình, ổn định toàn cầu mà còn tích lũy kinh nghiệm thực tiễn, nâng cao trình độ tổ chức, phối hợp và khẳng định uy tín, vị thế quốc tế ngày càng được củng cố.

Giữ nước từ sớm trong bối cảnh hiện nay còn bao hàm cả việc chủ động phòng ngừa và ứng phó hiệu quả với các thách thức an ninh phi truyền thống. Những vấn đề như an ninh kinh tế, an ninh năng lượng, an ninh môi trường, biến đổi khí hậu, an ninh mạng, an ninh con người… ngày càng tác động trực tiếp đến sự ổn định và phát triển của đất nước. Vì vậy, cách tiếp cận bảo vệ Tổ quốc phải toàn diện, liên ngành, kết hợp chặt chẽ giữa quốc phòng, an ninh, đối ngoại với phát triển bền vững. Chính sự kết hợp hài hòa giữa sức mạnh cứng và sức mạnh mềm, giữa nội lực và ngoại lực, giữa phòng ngừa từ sớm với xử lý linh hoạt các tình huống phát sinh, sẽ giúp Việt Nam chủ động thích ứng với những biến động của thời đại toàn cầu hóa, giữ vững môi trường hòa bình để phát triển lâu dài.

Nhận diện luận điệu xuyên tạc việc bảo đảm quyền con người ở Việt Nam của các thế lực thù địch, phản động.

Vận dụng bài học lịch sử trong giai đoạn hiện nay
Nhìn lại chặng đường lịch sử hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước, có thể khẳng định rằng tư duy “giữ nước từ sớm, từ xa” không chỉ là một kinh nghiệm nhất thời mà đã trở thành quy luật tồn tại và phát triển của dân tộc Việt Nam. Từ những cuộc kháng chiến bảo vệ Tổ quốc trong quá khứ đến công cuộc xây dựng và bảo vệ đất nước trong thời bình, bài học về chủ động chuẩn bị thế và lực, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại luôn mang ý nghĩa chiến lược lâu dài. Vận dụng bài học ấy trong giai đoạn hiện nay đòi hỏi phải gắn kết chặt chẽ giữa quốc phòng, đối ngoại và phát triển kinh tế – xã hội, tạo nên sức mạnh tổng hợp để đất nước không rơi vào thế bị động trước bất kỳ biến động nào của môi trường an ninh khu vực và thế giới.

Đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ quốc tế đã và đang tạo nền tảng vững chắc cho việc giữ nước từ xa bằng biện pháp hòa bình. Việt Nam đã thiết lập quan hệ ngoại giao với 193 quốc gia và vùng lãnh thổ, xây dựng mạng lưới 15 đối tác chiến lược toàn diện, trong đó có Liên minh châu Âu, cùng nhiều đối tác chiến lược và đối tác toàn diện khác. Mạng lưới quan hệ rộng mở, đan xen lợi ích này không chỉ thúc đẩy hợp tác phát triển mà còn góp phần củng cố môi trường hòa bình, ngăn ngừa nguy cơ xung đột ngay từ sớm, từ xa thông qua đối thoại và hợp tác.

Đối với các nước bạn bè truyền thống đã từng gắn bó, đồng hành cùng Việt Nam trong những giai đoạn lịch sử đầy khó khăn, việc tiếp tục củng cố và làm sâu sắc hơn quan hệ hợp tác toàn diện trên các lĩnh vực chính trị, kinh tế, quốc phòng, khoa học – công nghệ và giao lưu nhân dân vừa là sự tri ân lịch sử, vừa là lựa chọn chiến lược cho tương lai. Giữ gìn và vun đắp tình hữu nghị truyền thống không chỉ thể hiện sự thủy chung, trước sau như một trong chính sách đối ngoại mà còn tạo nền tảng bền vững cho ổn định lâu dài.

Đối với các quốc gia khác, kể cả những nước còn tồn tại khác biệt về lợi ích, Việt Nam kiên trì tăng cường hiểu biết lẫn nhau, thúc đẩy đối thoại, mở rộng hợp tác trên cơ sở tôn trọng độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ và luật pháp quốc tế. Việc chủ động xây dựng lòng tin chiến lược, xử lý bất đồng bằng biện pháp hòa bình, thúc đẩy hợp tác cùng có lợi chính là biểu hiện sinh động của tư duy giữ nước từ xa trong điều kiện mới, giữ hòa bình để phát triển, phát triển để củng cố hòa bình.

Hình ảnh “ngoại giao cây tre” với gốc vững, thân chắc, cành uyển chuyển là sự kết tinh hài hòa giữa bản lĩnh nguyên tắc và sự linh hoạt sách lược. Trên nền tảng đó, ngoại giao quốc phòng được triển khai hiệu quả thông qua các cơ chế đối thoại chiến lược, hợp tác đào tạo, trao đổi kinh nghiệm, tham gia các cơ chế an ninh khu vực và quốc tế, qua đó góp phần xây dựng môi trường hòa bình, ổn định lâu dài cho đất nước.

Giữ nước từ sớm, từ xa vì vậy không chỉ là chiến lượcngoại giao, quốc phòng thuần túy mà là chiến lược phát triển tổng thể của quốc gia trong thế kỷ XXI. Đó là sự kết hợp hài hòa giữa truyền thống lịch sử với tư duy hiện đại; giữa sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại; giữa nội lực quốc gia với mạng lưới quan hệ quốc tế rộng mở. Trên nền tảng ấy, Việt Nam có thể tiếp tục phát triển ổn định, hội nhập sâu rộng và kiên định bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ trong mọi hoàn cảnh.

Thế Nguyễn – Minh Văn