Sự tham gia chủ động, thực chất và có ý nghĩa của người dân ngày càng được thừa nhận như một trụ cột nền tảng của quản trị môi trường hiệu quả và năng lực thích ứng với biến đổi khí hậu, đặc biệt trong bối cảnh các quốc gia đang phát triển như Việt Nam đang đối mặt với nhiều thách thức kép về tăng trưởng và bền vững. Tuy nhiên, mức độ, hình thức cũng như chiều sâu tham gia của người dân trong quá trình hoạch định và thực thi chính sách môi trường vẫn còn tồn tại nhiều khoảng trống đáng kể về bằng chứng thực nghiệm xã hội, đòi hỏi những nghiên cứu chuyên sâu và hệ thống hơn.

Bài báo phân tích nhận thức và mức độ tham gia của người dân trong hoạch định và thực thi chính sách bảo vệ môi trường và thích ứng với biến đổi khí hậu tại bốn địa phương: Bắc Ninh, Quảng Ninh, Tây Ninh và thành phố Cần Thơ. Nghiên cứu sử dụng phương pháp khảo sát định lượng với 1.636 người dân. Kết quả cho thấy người dân chủ yếu tham gia vào các hoạt động mang tính thực thi và vận động cộng đồng, trong khi sự tham gia ở khâu phản biện và góp ý chính sách còn hạn chế. Mức độ tham gia có sự khác biệt đáng kể giữa các địa phương, chịu ảnh hưởng bởi mức độ tác động của biến đổi khí hậu và sự tham gia vào các tổ chức chính trị – xã hội. Trên cơ sở đó, bài báo đề xuất một số nhóm giải pháp nhằm thúc đẩy sự tham gia thực chất của người dân, góp phần nâng cao hiệu quả quản trị môi trường và năng lực thích ứng với biến đổi khí hậu tại Việt Nam.
Trong những thập niên gần đây, Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng về phát triển kinh tế – xã hội, với tốc độ tăng trưởng tương đối cao và quá trình công nghiệp hóa, đô thị hóa diễn ra mạnh mẽ. Tuy nhiên, mô hình phát triển này cũng đặt ra nhiều thách thức môi trường nghiêm trọng, bao gồm ô nhiễm không khí và nguồn nước, suy thoái tài nguyên thiên nhiên, gia tăng chất thải rắn và các rủi ro ngày càng gia tăng do biến đổi khí hậu. Việt Nam được đánh giá là một trong những quốc gia chịu ảnh hưởng nặng nề và dễ bị tổn thương trước tác động của biến đổi khí hậu, với các biểu hiện ngày càng rõ nét như nước biển dâng, xâm nhập mặn, thiên tai cực đoan và suy giảm sinh kế ở nhiều vùng.
Trước bối cảnh đó, Đảng Cộng sản Việt Nam và Nhà nước đã xác định bảo vệ môi trường và chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu là yêu cầu xuyên suốt của quá trình phát triển bền vững. Nghị quyết số 24-NQ/TW năm 2013 của Ban Chấp hành Trung ương về chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu, tăng cường quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường đã đề ra các định hướng chiến lược quan trọng, nhấn mạnh quan điểm “bảo vệ môi trường vừa là mục tiêu, vừa là một nội dung cơ bản của phát triển bền vững”. Tại Đại hội XIII (2021), yếu tố bảo vệ môi trường tiếp tục được bổ sung và nhấn mạnh trong mối quan hệ hài hòa giữa tăng trưởng kinh tế, phát triển văn hóa, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội.
Quan điểm này được thể chế hóa thông qua hệ thống chính sách và pháp luật ngày càng hoàn thiện, tiêu biểu như Luật Bảo vệ môi trường năm 2020 với nhiều đổi mới về công cụ quản lý, phân cấp, trách nhiệm giải trình và thúc đẩy sự tham gia của cộng đồng; cùng với đó là Chiến lược quốc gia về biến đổi khí hậu giai đoạn 2021–2030, tầm nhìn 2050, định hướng phát triển kinh tế xanh và phát thải thấp. Các chủ trương và văn bản quy phạm pháp luật đều nhất quán khẳng định bảo vệ môi trường và ứng phó với biến đổi khí hậu là sự nghiệp chung của toàn xã hội, dựa trên nguyên tắc “lấy người dân làm trung tâm”, thúc đẩy quản trị môi trường theo hướng minh bạch, có sự tham gia và trách nhiệm giải trình.
Tuy nhiên, khoảng cách giữa định hướng chính sách ở tầm vĩ mô và thực tiễn triển khai tại địa phương vẫn còn đáng kể, đặc biệt trong việc thiết lập và vận hành các cơ chế bảo đảm sự tham gia thực chất của người dân trong hoạch định và thực thi chính sách môi trường. Đây là vấn đề đặt ra yêu cầu nghiên cứu sâu hơn nhằm đánh giá mức độ hiện thực hóa nguyên tắc “lấy người dân làm trung tâm” trong quản trị môi trường và thích ứng với biến đổi khí hậu tại Việt Nam.
Hiện nay, bảo vệ môi trường và thích ứng với biến đổi khí hậu không còn là vấn đề thuần túy kỹ thuật hay quản lý hành chính, mà đã trở thành một lĩnh vực chính sách công mang tính liên ngành, liên cấp và đa chủ thể. Trong bối cảnh đó, sự tham gia của người dân được xem là điều kiện quan trọng nhằm nâng cao tính hợp pháp, hiệu quả và tính bền vững của chính sách môi trường và khí hậu (Arnstein, 1969; Pretty, 1995; Reed, 2008). Tham gia không chỉ giúp chính sách phản ánh tốt hơn nhu cầu và tri thức bản địa của cộng đồng, mà còn củng cố sự đồng thuận xã hội, tăng cường giám sát và thúc đẩy trách nhiệm giải trình trong quá trình thực thi.
Tuy nhiên, xét từ góc độ nghiên cứu, các công trình trong nước về môi trường và biến đổi khí hậu phần lớn vẫn tập trung vào phân tích thể chế, quản lý nhà nước hoặc khía cạnh kỹ thuật – công nghệ. Các nghiên cứu định lượng về mức độ tham gia thực chất của người dân trong toàn bộ chu trình chính sách (từ xây dựng đến thực thi), đặc biệt dưới góc nhìn so sánh liên vùng và dựa trên bằng chứng thực nghiệm quy mô tương đối lớn, còn khá hạn chế. Khoảng trống này dẫn đến thiếu hụt cơ sở dữ liệu và luận cứ khoa học để đánh giá mức độ hiện thực hóa nguyên tắc “lấy người dân làm trung tâm” trong quản trị môi trường và thích ứng với biến đổi khí hậu ở Việt Nam.
Trên cơ sở đó, bài viết tập trung phân tích mức độ tham gia của người dân trong quá trình xây dựng và thực thi chính sách bảo vệ môi trường và thích ứng với biến đổi khí hậu thông qua khảo sát thực địa tại bốn địa phương gồm Bắc Ninh, Quảng Ninh, Tây Ninh và Thành phố Cần Thơ. Việc lựa chọn các địa phương có đặc điểm kinh tế – xã hội, mô hình phát triển và mức độ thách thức môi trường khác nhau cho phép nghiên cứu không chỉ đo lường mức độ tham gia, mà còn so sánh, nhận diện các yếu tố ảnh hưởng và rút ra hàm ý chính sách có giá trị khái quát cao hơn.
Phương pháp nghiên cứu
Bài viết này chủ yếu sử dụng dữ liệu định lượng từ kết quả khảo sát xã hội học với tổng quy mô mẫu 1.636 người dân tại bốn địa phương. Trong đó, Quảng Ninh có 430 phiếu, Bắc Ninh 420 phiếu, Tây Ninh 406 phiếu và Thành phố Cần Thơ 380 phiếu. Mẫu được chọn theo phương pháp chọn mẫu nhiều giai đoạn, bảo đảm sự cân đối tương đối về giới tính, độ tuổi, nghề nghiệp và khu vực cư trú (đô thị – nông thôn) và các yếu tố khác có ảnh hưởng đáng kể đến mức độ tham gia của người dân trong hoạch định, thực thi chính sách bảo vệ môi trường và thích ứng với biến đổi khí hậu. Dữ liệu được xử lý và phân tích bằng các kỹ thuật thống kê mô tả và phân tích so sánh, sử dụng phần mềm SPSS, phiên bản 29.0 nhằm làm rõ mức độ tham gia, hình thức tham gia và sự khác biệt giữa các nhóm xã hội và địa phương.
Ngoài ra, bài viết này còn sử dụng phương pháp tổng thuật tài liệu, bao gồm phân tích các văn bản chính sách, văn kiện chính trị cũng như các công trình khoa học trong và ngoài nước có liên quan nhằm phân tích sâu sắc, đa chiều các phát hiện định lượng.
Nhận thức của vai trò của người dân đối với bảo vệ môi trường và thích ứng với biến đổi khí hậu
Trong số 1636 người dân được khảo sát, có đến 85,2% đồng ý với quan điểm: “Họ có vai trò quan trọng trong việc soạn thảo, ban hành và thực hiện quy định về bảo vệ môi trường, thích ứng với biến đổi khí hậu tại địa phương”. Đáng chú ý, kiểm định thống kê cho thấy, thực tế này cũng đúng với mỗi tỉnh, thành phố được chọn nghiên cứu (Bắc Ninh: 81.9%, Quảng Ninh: 87.0%, Tây Ninh: 88.7% và Cần Thơ: 83.2%). Tỷ lệ “đồng ý” với quan điểm trên ở 4 tỉnh cao, đặc biệt tương đối đồng đều, không quá khác biệt nhau (mức ý nghĩa nghiên cứu
P = 0.022). Như vậy, nhìn chung, người dân có nhận thức tốt, khá rõ ràng về quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm đối với việc giải quyết các vấn đề môi sinh, ít nhất ở ngay tại địa phương, địa bàn họ cư trú. Đây là cơ sở quan trọng để xem xét hành vi tham gia sâu hơn vào chu trình chính bảo vệ môi trường và thích ứng với biến đổi khí hậu của họ.
Sư tham gia của người dân trong bảo vệ môi trường và thích ứng với biến đổi khí hậu
Trong nghiên cứu này, từ lý thuyết về chính sách công, quản lý công hiện đại và bám sát thực tiễn vấn đề này tại Việt Nam, nhóm nghiên cứu đã đưa ra 9 tiêu chí phản ánh các khâu/hoạt động cơ bản ở giai đoạn hoạch định, thực thi chính sách bảo vệ môi trường và thích ứng với biến đổi khí hậu để xem xét sự tham gia của người dân (bao gồm tần suất). Kết quả khảo sát tại 4 tỉnh, thành phố ở Hình 1 cho thấy:
Một là, người dân sự tham gia vào các khâu/công đoạn của quá trình hoạch định, thực thi chính sách bảo vệ môi trường và thích ứng với biến đổi khí hậu có tỷ lệ khá cao, phổ biến từ 85.4% đến 98.1% nhưng có sự khác biệt rõ rệt giữa các khâu ở mỗi giai đoạn và giữa chúng với nhau trong chu trình chính sách. Trong giai đoạn hoạch định chính sách, người dân chủ yếu góp ý kiến khi được mời (97.1%) trong khi chủ động hiến kế, đề xuất ý tưởng và giải pháp khả dĩ với chính quyền địa phương, cơ quan chức năng có tỷ lệ thấp hơn (90.3%). Sự sẵn sàng, chủ động tham gia vào các khâu của giai đoạn hoạch định là điều đáng quan tâm. Đối với giai đoạn thực thi chính sách, các hoạt động mang tính thực hành, tuyên truyền và hỗ trợ cộng đồng có mức độ phổ biến cao nhất. Cụ thể, hoạt động tuyên truyền, vận động người thân thực hiện quy định (98.4%), cùng cộng đồng và chính quyền khắc phục thiên tai (98,1%). Điều này phản ánh vai trò nổi bật của người dân trong các khâu/công đoạn của chu trình chính sách mang tính xã hội hóa, dựa trên tinh thần cộng đồng và trách nhiệm công dân.

Ngược lại, việc tham gia sâu hơn vào các khâu/công đoạn mang tính phản biện chính sách, sự chủ động, sẵn sàng hơn trong thực thi có tỷ lệ thấp đáng kể. Kết quả khảo sát ở Bảng 1 cho thấy, phản biện các quy định về bảo vệ môi trường và thích ứng với biến đổi khí hậu sau khi được ban hành chỉ đạt 85.4%, thấp nhất trong các hình thức được khảo sát. Tương tự, việc lập ra các mô hình, câu lạc bộ hoặc đội nhóm tự quản về môi trường và thích ứng với biến đổi khí hậu cũng chỉ đạt 86,0%. Những con số này cho thấy sự tham gia của người dân vẫn chủ yếu tập trung ở mức đồng hành, hỗ trợ “vòng ngoài” hoặc được quy động trong khi vai trò đồng kiến tạo và giám sát chính sách còn hạn chế. Điều này cho thấy, việc hiện thực hoá chủ trương phát huy dân chủ xã hội theo phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, giám sát và dân thụ hưởng” vẫn còn nhiều thách thức. Kết quả này phù hợp với nhiều nghiên cứu quốc tế và trong nước, theo đó sự tham gia của người dân tại các quốc gia đang phát triển thường dừng lại ở các nấc thấp và trung bình trong “thang tham gia” của Arnstein (1969), chủ yếu ở mức độ thông tin, tham vấn và được huy động thay vì đồng quyết định hay giám sát, kiểm tra.
Hai là, tiếp đến, chúng tôi xem xét mức độ tham gia của người dân đối với bảo vệ môi trường và thích ứng với biến đổi khí hậu tại địa phương (xem Bảng 1). Qua kiểm định độ tin cậy trên thang đo Likert 5 mức độ, về mặt thống kê, 9 khâu/công đoạn được đề xuất đảm bảo độ tin cậy cao, chặt chẽ và phù hợp để xem xét, phân tích mức độ tham gia của người dân 4 tỉnh, thành phố trong hoạch định và thực thi chính sách bảo vệ môi trường, thích ứng với biến đổi khí hậu (hệ số Cronbach Alpha = 0.936).
Bảng 1: Mức độ tham gia của người dân vào hoạch định, thực thi chính sách bảo vệ môi trường và thích ứng với biến đổi khí hậu tại địa phương.

Bảng 1 cho thấy mức cho thấy mức độ tham gia người dân nhìn chung ở mức trung bình trở lên (tần suất “thỉnh thoảng”, “thường xuyên”), song không mức độ không hoàn toàn đồng đều giữa ở các khâu. Người dân “thường xuyên” tham gia nhất là tuyên truyền, vận động người thân thực hiện quy định (M = 3.75) và cùng cộng đồng, chính quyền khắc phục thiên tai (M = 3.65). Trong khi đó, mức độ tham gia các hoạt động còn lại của người dân chỉ ở mức “thỉnh thoảng”. Điển hình là các hoạt động mang tính phản biện và đóng góp chính sách có giá trị trung bình thấp nhất (M = 2.93), chủ động hiến kế, ý tưởng, giải pháp
(M = 2.94) nhưng khi được mời góp ý kiến thì giá trị trung bình cao hơn (M = 3.21). Trong khi việc lập ra các mô hình, câu lạc bộ hoặc đội nhóm về môi trường cũng chỉ đạt điểm trung bình (M = 2.93). Đáng chú ý, người dân cũng ít khi tham gia sâu hơn để bàn bạc với chính quyền để giải quyết các vấn đề bảo vệ môi trường, thích ứng với biến đổi khí hậu (M = 2.99). Rõ ràng, dường như người dân vẫn thiếu tính củ động trong thực hiện quyền và tham gia vào chu trình chính sách. Sự dè dặt khi tham gia, ngại tham gia đối với các khâu của chu trình chính sách đòi hỏi làm việc, liên quan trực tiếp, trực diện giữa họ và chính quyền, các cơ quan chức năng thể hiện khá rõ nét qua nghiên cứu này dù biết chúng hữu ích với các vấn đề mà họ cũng quan tâm.
Ở một chiều cạnh khác, hoạt động đóng góp tiền, đất đai, công sức và thời gian cho các hoạt động bảo vệ môi trường và thích ứng với biến đổi khí hậu có điểm trung bình tương đối cao (M = 3.28). Điều này cho thấy người dân sẵn sàng tham gia bằng nguồn lực vật chất và công sức, đặc biệt trong các hoạt động cụ thể, dễ nhìn thấy kết quả. Tuy nhiên, sự sẵn sàng này chưa được chuyển hóa tương xứng thành sự tham gia sâu hơn vào các khâu hoạch định, thực thi chính sách bảo vệ môi trường và thích ứng với biến đổi khí hậu, nhất là khâu khó, phức tạp và đòi hỏi tính chủ động, tự giác cao.
Để phân tích sâu hơn, đặc biệt xem xét mối tương quan giữa mức độ tham gia vào khâu/hoạt động – “Phản biện các quy định về bảo vệ môi trường, thích ứng biến đổi khí hậu được ban hành” vốn có giá trị trung bình thấp nhất ở Bảng 1 với một số đặc điểm nhân khẩu học, chúng tôi tiến hành kiểm định mối quan hệ này. Kết quả ở Bảng 2 cho thấy, các yếu tố nhân khẩu học của người dân như địa phương sinh sống, giới tính, tham gia tổ chức chính trị – xã hội cũng như chịu tác động trực tiếp bởi biến đổi khí hậu/thảm hoạ môi trường có mối liên quan chặt chẽ về mặt thống kê với mức độ tham gia “Phản biện các quy định về bảo vệ môi trường, thích ứng BĐKH được ban hành” (P < 0.05).
Bảng 2: Mức độ tham gia của người dân vào hoạch định, thực thi chính sách BVMT và thích ứng với BĐKH xét theo một số đặc điểm nhân khẩu học

Do phản biện chính sách là khâu/công đoạn khó, phức tạp và qua nghiên cứu này có mức độ tham gia thấp nhất trong chu trình chính sách bảo vệ môi trường và thích ứng với biến đổi khí hậu nên chúng tôi tập trung phân tích sự khác biệt này theo các chiều cạnh nhân khẩu. Một số phát hiện đáng chú ý khi xem xét tỷ lệ “chưa bao giờ” và “hiếm khi” tham gia khâu này theo các chiều cạnh nhân khẩu học như sau:
Xét theo giới tính: Có đến 39.1% nam giới “thường xuyên”, “rất thường xuyên” tham gia phản biện chính sách, trong khi tỷ lệ này ở nhóm nữ chỉ 33.1%. Ngược lại, tỷ lệ nữ “chưa bao giờ” tham gia hoạt động này (20.7%), cao hơn đáng kể so với tỷ lệ này ở nhóm nam (13.7%). Điều này cho thấy, trong các khâu phức tạp nhất của chu trình chính sách bảo vệ môi trường và thích ứng với biến đổi khí hậu, quyền tham gia thực chất vẫn chưa được phân bổ đồng đều giữa hai giới. Bất bình đẳng giới trong tiếp cận và thực hiện quyền tham gia tiếp tục là một thách thức đáng kể. Trong bối cảnh Việt Nam, nghiên cứu của Nguyễn Thị Thu Hà (2020) chỉ ra rằng, sự khác biệt này bắt nguồn chủ yếu từ hạn chế năng lực tham gia, các chuẩn mực văn hoá truyền thống, gánh nặng “kép” giữa lao động sản xuất và tái sản xuất cũng như sự bất cân bình đẳng trong khả trong khả năng tiếp cận nguồn lực xã hội của nữ giới so với nam giới.
Xét theo tỉnh, thành phố cư trú: Thành phố Cần Thơ và tỉnh Tây Ninh có tỷ lệ người dân “thường xuyên”, “rất thường xuyên” tham gia phản biện chính sách lần lượt là 42.0% và 39.7%. Tỷ lệ này cao hơn nhiều so với tỉnh Bắc Ninh (32.6%) và tỉnh Quảng Ninh (32.0%). Đáng chú ý, tỉnh Bắc Ninh và Quảng Ninh có tỷ lệ người dân “chưa bao giờ” tham gia phản biện chính sách cao hơn so với hai tỉnh còn lại. Có lẽ sự khác biệt giữa các địa phương không chỉ bắt nguồn từ mức độ rủi ro môi trường, mà có thể phụ thuộc vào cấu trúc thể chế và chất lượng các kênh tham gia chính sách tại chỗ. Theo đó, không phải chỉ từ sức ép, rủi ro do ô nhiễm hay biến đổi khí hậu mà còn cả từ phương thức, hiệu quả vận hành mô hình quản trị môi trường cùng cơ hội tham gia của người dân. Tất cả góp phần tạo nên sự khác biệt đáng kể không chỉ ở nhận thức, quan điểm (đã được phân tích ở các phần trên) mà còn ở mức độ tham gia thực chất vào các giai đoạn, khâu của chu trình chính sách này.
Xét theo nghề nghiệp: Nhóm cán bộ công nhân viên chức có tỷ lệ “thường xuyên”, “rất thường xuyên” tham gia phản biện chính sách cao nhất (40.5%) so với người dân ở các ngành nghề khác. Ở Việt Nam, khoảng 60% dân số sống ở nông thôn và khoảng 42% làm nông nghiệp (4). Người dân làm nông nghiệp (trồng trọt, chăn nuôi, đánh bắt thuỷ hải sản, v.v.) thường dễ chịu các tác động, rủi ro bởi các vấn đề môi trường, thiên tai. Tuy nhiên, kết quả nghiên cứu cho thấy, họ cũng là nhóm có tỷ lệ “rất thường xuyên” tham gia phản biện chính sách thấp nhất (2.8%) và “chưa bao giờ tham gia” thuộc nhóm có tỷ lệ cao (18.1%). Rõ ràng, so với nhóm làm nông nghiệp hay người dân ở các ngành nghề khác, nhóm cán bộ công nhân viên chức có lợi thế rõ rệt về thông tin, mạng lưới xã hội và sự quen thuộc với quy trình chính sách. Từ đó các điều kiện thuận lợi này có lẽ giúp họ dễ dàng tham gia phản biện chính sách hơn so với các nhóm lao động khác dù có thể chưa hẳn là nhóm nghề chịu tác động mạnh nhất của ô nhiễm môi trường và biến đổi khí hậu tại nơi cư trú.
Xét theo việc tham gia tổ chức chính trị – xã hội tại địa phương: Có sự khác biệt đáng kể về mặt thống kê giữa nhóm tham gia tổ chức chính trị – xã hội với mức độ phản biện chính sách. Theo đó, nhóm đang là thành viên, hội viên của các tổ chức chính trị – xã hội có tỷ lệ “thường xuyên”, “rất thường xuyên” tham gia phản biện chính sách cao hơn đáng kể (41.5%) so với nhóm không tham gia các tổ chức này (27.5%). Bên cạnh đó, nhóm tham gia tổ chức chính trị – xã hội cũng có tỷ lệ “chưa bao giờ” tham gia phản biện chính sách (13.2%), thấp hơn nhiều so với nhóm không tham gia các tổ chức này (23.5%). Rõ ràng, việc tham gia tổ chức chính trị – xã hội đã tạo sự tự tin và các điều kiện thuận lợi để thành viên, hội viên của các tổ chức này tham gia vào các khâu của chu trình chính sách và hoạt động phản biện chính sách. Điều này gián tiếp phản ánh vai trò trung gian quan trọng của các đoàn thể chính trị – xã hội trong việc kết nối người dân với tiến trình chính sách, huy động sự tham gia và tạo dựng đồng thuận xã hội. Kết quả này cũng phù hợp với các nghiên cứu gần đây cho rằng sự tham gia chính sách mang tính “tích lũy”. Trong đó việc không tham gia các tổ chức cộng đồng có thể khiến cá nhân ngày càng xa rời các tiến trình chính sách (Putnam, 2020; World Bank, 2021; Vũ và cộng sự, 2023).
Gần đây, Luật Bảo vệ Môi trường năm 2020 của Việt Nam đã có những quy định mở rộng về quyền và nghĩa vụ của cộng đồng dân cư, thúc đẩy minh bạch thông tin và trách nhiệm giải trình. Tuy nhiên, hiệu lực của luật phụ thuộc mạnh vào cơ chế thực thi ở địa phương và năng lực tham gia của người dân. Nhưng làm sao hình thành năng lực tham gia ấy? Rõ ràng, sự tồn tại của hành lang pháp lý không tự động chuyển hoá thành tham gia thực chất nếu thiếu những công cụ vận hành và khuyến khích cộng đồng và hành trang năng lực cho người dân. Các thiết chế xã hội, điển hình là các tổ chức xã hội khoả lấp một phần ấy cho hội viên của mình.
Một số nhóm giải pháp chủ yếu
Từ các phát hiện chính nêu trên, bài viết này đề xuất 5 nhóm giải pháp trọng tâm nhằm thúc đẩy sự tham gia thực chất của người dân trong hoạch định và thực thi chính sách bảo vệ môi trường và thích ứng với biến đổi khí hậu như sau:
Thứ nhất, cần hoàn thiện và “vận hành hoá” các cơ chế thể chế hóa sự tham gia của người dân theo hướng dễ tiếp cận, có tính ràng buộc và phản hồi rõ ràng. Mặc dù Luật Bảo vệ môi trường năm 2020 đã mở rộng không gian pháp lý cho sự tham gia của cộng đồng, song kết quả nghiên cứu cho thấy sự tồn tại của khung pháp luật chưa đủ để thúc đẩy hành vi tham gia phản biện ở cấp cơ sở. Do đó, các địa phương cần cụ thể hóa quyền tham gia của người dân thông qua quy trình tham vấn bắt buộc, có thời hạn, có phản hồi chính thức đối với từng nhóm ý kiến, đặc biệt trong xây dựng quy hoạch, dự án môi trường và các kế hoạch ứng phó rủi ro khí hậu. Việc này đặc biệt phù hợp với các tỉnh công nghiệp như Bắc Ninh và Quảng Ninh, nơi người dân chịu tác động môi trường lớn nhưng lại có tỷ lệ không tham gia phản biện cao.
Thứ hai, nâng cao năng lực tham gia chính sách cho người dân theo hướng “bồi dưỡng năng lực công dân môi trường”, thay vì chỉ tuyên truyền hành vi bảo vệ môi trường. Kết quả nghiên cứu cho thấy, người dân sẵn sàng đóng góp công sức, tài chính và tham gia các hoạt động cộng đồng, nhưng còn dè dặt khi tham gia các khâu đòi hỏi hiểu biết chính sách và tương tác trực diện với chính quyền. Điều này đòi hỏi các chương trình nâng cao năng lực phải tập trung vào kỹ năng đọc – hiểu chính sách, kỹ năng phản biện mang tính xây dựng và kiến thức pháp lý cơ bản về quyền tham gia của công dân. Với các địa phương như Cần Thơ và Tây Ninh – nơi người dân chịu tác động rõ nét của biến đổi khí hậu thì việc gắn đào tạo năng lực tham gia với các trải nghiệm rủi ro thực tế sẽ giúp tăng tính thuyết phục và khả năng chuyển hóa nhận thức thành hành động.
Thứ ba, phát huy vai trò trung gian và dẫn dắt của các tổ chức chính trị – xã hội, tổ chức xã hội và mạng lưới cộng đồng trong việc thúc đẩy sự tham gia phản biện chính sách. Trong bối cảnh tinh gọn, sắp xếp lại tổ chức bộ máy của hệ thông chính trị và sáp nhập các tỉnh, thành, bỏ cấp huyện, giải pháp này cần đặc biệt lưu tâm. Kết quả nghiên cứu cho thấy, việc tham gia các tổ chức chính trị – xã hội là yếu tố phân hóa mạnh nhất giữa nhóm tham gia thấp và nhóm tham gia cao vào phản biện chính sách. Do đó, cần chuyển vai trò của các tổ chức này từ “cánh tay nối dài trong tuyên truyền” sang “không gian an toàn cho phản biện chính sách”, nơi hội viên được hỗ trợ về thông tin, kỹ năng và có thể bày tỏ tiếng nói về các vấn đề môi sinh và biến đổi khí hậu. Đây là giải pháp có tính khả thi cao trong bối cảnh Việt Nam, tận dụng được mạng lưới tổ chức sẵn có như Mặt trận Tổ quốc, các hội đoàn thể và các nhóm tự quản môi trường ở cơ sở.
Thứ tư, thiết kế các kênh tham gia và phản biện chính sách linh hoạt, đa dạng và phù hợp với đặc thù vùng, nhóm xã hội và trải nghiệm rủi ro. Sự khác biệt giữa các tỉnh cho thấy không thể áp dụng một mô hình tham gia thống nhất cho mọi địa phương. Trong khi các tỉnh công nghiệp cần các cơ chế phản biện chính sách gắn với đánh giá tác động môi trường và giám sát dự án, thì các địa phương chịu tác động khí hậu như Cần Thơ cần ưu tiên các diễn đàn cộng đồng về thích ứng và quản lý rủi ro. Việc ứng dụng nền tảng số, cổng góp ý trực tuyến và tham vấn chính sách qua các kênh quen thuộc với người dân sẽ giúp giảm chi phí tham gia và khắc phục tâm lý e ngại tiếp xúc trực diện.
Thứ năm, xây dựng cơ chế khuyến khích và ghi nhận sự tham gia phản biện của người dân như một nguồn lực chính sách. Kết quả nghiên cứu cho thấy, nhiều người dân không tham gia phản biện không phải vì thờ ơ, mà do thiếu niềm tin rằng ý kiến của họ có giá trị thực chất. Do đó, việc công khai hóa các trường hợp ý kiến người dân được tiếp thu, điều chỉnh chính sách dựa trên phản biện từ cơ sở sẽ góp phần củng cố niềm tin và tạo động lực tham gia lâu dài. Đây là điều kiện then chốt để chuyển hóa sự tham gia từ “bị huy động, thiếu sẵn sàng” sang “tự nguyện, sẵn sàng và chủ động”.
Bài viết này đã cung cấp bằng chứng cho thấy, mặc dù người dân tại Bắc Ninh, Quảng Ninh, Tây Ninh và Thành phố Cần Thơ có nhận thức rõ ràng về vai trò của mình trong bảo vệ môi trường và thích ứng với biến đổi khí hậu, song sự tham gia thực tế vẫn chủ yếu dừng lại ở các khâu mang tính hỗ trợ và vận động cộng đồng, chưa có chiều sâu. Các hình thức tham gia mang tính phản biện và đồng kiến tạo chính sách vốn có ý nghĩa quyết định đối với chất lượng và tính bền vững của chính sách vẫn còn hạn chế, đặc biệt ở các tỉnh công nghiệp phát triển nhanh. Kết quả phân tích cho thấy sự tham gia phản biện chính sách của người dân chịu ảnh hưởng đáng kể bởi các yếu tố nhân khẩu học và bối cảnh xã hội, trong đó nổi bật là vai trò của tổ chức chính trị – xã hội và trải nghiệm rủi ro môi trường. Điều này khẳng định rằng, sự tham gia không chỉ là vấn đề nhận thức cá nhân mà là sản phẩm của các điều kiện thể chế, vốn xã hội và cơ hội tham gia cụ thể.
Từ những phát hiện này, nghiên cứu nhấn mạnh hàm ý chính sách quan trọng: mở rộng hành lang pháp lý là điều kiện cần nhưng chưa đủ; điều quyết định nằm ở việc thiết kế các cơ chế tham gia thực chất, dễ tiếp cận và có khả năng tạo niềm tin cho người dân. Trong bối cảnh Việt Nam đang thúc đẩy quản trị môi trường theo hướng minh bạch, bao trùm và thích ứng với biến đổi khí hậu, việc đầu tư cho năng lực tham gia của người dân cần được xem là một cấu phần cốt lõi của chính sách công. Về lâu dài, cần có các nghiên cứu so sánh theo chiều thời gian để đánh giá tác động của các cải cách thể chế mới, cũng như các nghiên cứu chuyên sâu vào từng nhóm xã hội dễ bị tổn thương nhằm làm rõ hơn động lực và rào cản đối với sự tham gia chính sách môi trường và khí hậu ở Việt Nam./.
PGS. TS. Lê Văn Chiến, PGS. TS. Đặng Thị Ánh Tuyết, TS. Nguyễn Hữu Hoàng/Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh
Tài liệu tham khảo
1.Bộ Tài nguyên và Môi trường (2022). Báo cáo kế hoạch quốc gia thích ứng với biến đổi khí hậu, giai đoạn 2021 – 2030, tầm nhìn đến năm 2050, Hà Nội.
2.Ban Chấp hành Trung ương (2013). Nghị quyết số 24-NQ/TW ngày 03/6/2013 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa XI) về chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu, tăng cường quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường, Hà Nội.
3.Đảng Cộng sản Việt Nam (2021). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, t. I, tr. 214.
4.Cục Thống kê (2020). Thông cáo Báo chí về kết quả điều tra nông thôn, nông nghiệp giữa kỳ năm 2020. Website: Cơ quan thống kê quốc gia – Cục Thống kê. Đường dẫn truy cập: https://www.nso.gov.vn/du-lieu-va-so-lieu-thong-ke/2021/06/thong-cao-bao-chi-ve-ket-qua-dieu-tra-nong-thon-nong-nghiep-giua-ky-nam-2020/


