Thứ Hai, Tháng 3 2, 2026
* Email: bbt.dongnama@gmail.com *Tòa soạn: 0989011688 - 0768908888
spot_img

Thủ tướng Phạm Văn Đồng – Người đứng đầu Chính phủ trong những thời khắc sinh tử của quốc gia



ĐNA -

Kỷ niệm 120 năm ngày sinh cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng (1/3/1906 – 1/3/2026) là dịp để chúng ta tri ân và nhìn lại cuộc đời gần trọn một thế kỷ, Thủ tướng Phạm Văn Đồng gắn bó mật thiết với toàn bộ tiến trình cách mạng Việt Nam hiện đại. Trong hơn 60 năm hoạt động cách mạng liên tục, đặc biệt 32 năm giữ cương vị Thủ tướng Chính phủ (1955 – 1987), thời gian dài nhất trong lịch sử Nhà nước Việt Nam, ông đã cùng tập thể lãnh đạo Đảng và Nhà nước trực tiếp chèo lái đất nước qua những chặng đường sinh tử: giành độc lập, tiến hành kháng chiến, thống nhất non sông và xây dựng Tổ quốc.

Phó Thủ tướng Phạm Văn Đồng tại Hội nghị Geneva, năm 1954. Ảnh: TTXVN

Người giữ nền móng cho chính quyền cách mạng non trẻ
Sinh ngày 1/3/1906 tại huyện Mộ Đức, tỉnh Quảng Ngãi, Phạm Văn Đồng sớm hòa mình vào dòng chảy yêu nước sục sôi đầu thế kỷ XX. Xuất thân trong một gia đình nhà nho yêu nước, ông hấp thụ tinh thần dân tộc từ thuở thiếu thời và nhanh chóng lựa chọn con đường dấn thân vì độc lập, tự do của Tổ quốc. Năm 1925, khi sang Quảng Châu (Trung Quốc), ông tham gia các hoạt động cách mạng, được tiếp cận Chủ nghĩa Mác – Lênin và lý tưởng giải phóng dân tộc do Hồ Chí Minh truyền bá. Từ đây, ông xác lập niềm tin chính trị vững chắc, gắn bó trọn đời với sự nghiệp cách mạng Việt Nam.

Năm 1929, ông bị thực dân Pháp bắt và kết án 10 năm tù, đày ra Côn Đảo từ 1930 đến 1936. Sáu năm trong “địa ngục trần gian” không chỉ là thử thách khắc nghiệt về thể xác mà còn là quá trình tôi luyện bản lĩnh, ý chí và tầm nhìn chính trị. Chính trong hoàn cảnh gian lao ấy, một thế hệ cán bộ cách mạng trung kiên đã trưởng thành, hình thành lớp lãnh đạo nòng cốt cho các giai đoạn quyết định của cách mạng Việt Nam. Với Phạm Văn Đồng, nhà tù không làm lung lay niềm tin mà càng hun đúc tinh thần kiên định, tư duy sâu sắc và phong cách lãnh đạo điềm tĩnh, thận trọng nhưng quyết đoán.

Sau thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945, Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời trong bối cảnh “ngàn cân treo sợi tóc”: thù trong, giặc ngoài đe dọa, ngân khố gần như trống rỗng, hơn 90% dân số mù chữ, nạn đói và tàn dư thuộc địa còn nặng nề. Trong bộn bề thử thách ấy, Phạm Văn Đồng tham gia xây dựng và củng cố bộ máy chính quyền trung ương dưới sự lãnh đạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh và Trung ương Đảng. Ông góp phần tổ chức nền hành chính cách mạng theo hướng kỷ cương, thống nhất, đặt lợi ích quốc gia, dân tộc lên trên hết.

Điểm nổi bật trong vai trò của ông giai đoạn này là sự kết hợp hài hòa giữa tầm nhìn chiến lược và năng lực điều hành cụ thể. Trong khi Đảng hoạch định đường lối kháng chiến và kiến quốc, Chính phủ mà ông tham gia điều hành đã từng bước thiết lập nền quản trị quốc gia, từ tổ chức bộ máy, xây dựng chính sách tài chính, kinh tế, đến động viên sức dân cho nhiệm vụ bảo vệ chính quyền cách mạng. Sự phối hợp chặt chẽ ấy tạo nên nền móng thể chế vững chắc, giúp Nhà nước non trẻ vượt qua thử thách tồn vong, chuẩn bị cho cuộc kháng chiến lâu dài vì độc lập dân tộc.

Có thể nói, trong buổi đầu dựng xây chính quyền cách mạng, Phạm Văn Đồng không chỉ là một nhà hoạt động chính trị giàu kinh nghiệm, mà còn là một trong những người đặt những viên gạch đầu tiên cho nền quản trị quốc gia hiện đại, một nền quản trị lấy nhân dân làm gốc, kiên định mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội.

Nhà tổ chức hậu phương trong cuộc chiến tranh xâm lược của Mỹ ở Việt Nam

Tháng 9/1955, Phạm Văn Đồng được Quốc hội bầu giữ chức Thủ tướng Chính phủ. Từ đây, ông đảm nhiệm vai trò điều hành đất nước suốt hơn ba thập niên, giai đoạn đầy biến động và thử thách của lịch sử dân tộc. Trong bối cảnh đất nước tạm thời chia cắt, ông cùng Bộ Chính trị và Tổng Bí thư Lê Duẩn tập trung xây dựng miền Bắc trở thành hậu phương lớn vững chắc, làm chỗ dựa chiến lược cho sự nghiệp giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc.

Trước sự leo thang chiến tranh và đặc biệt là từ năm 1965 khi Mỹ tiến hành chiến tranh phá hoại bằng không quân ra miền Bắc, bộ máy Chính phủ đứng trước áp lực chưa từng có: vừa bảo vệ sản xuất, vừa duy trì giao thông vận tải, vừa bảo đảm đời sống nhân dân trong điều kiện bom đạn ác liệt. Dưới sự điều hành của Thủ tướng Phạm Văn Đồng, nền kinh tế miền Bắc được tổ chức lại theo hướng phân tán, cơ động, thích ứng với chiến tranh. Nhiều cơ sở công nghiệp được sơ tán, khôi phục nhanh chóng; sản xuất công nghiệp vẫn duy trì khoảng 90% công suất so với trước chiến tranh.

Không chỉ giữ vững nhịp sản xuất, Chính phủ còn bảo đảm chi viện liên tục và quy mô lớn cho tiền tuyến miền Nam. Hàng triệu tấn vũ khí, lương thực, vật chất kỹ thuật cùng hàng triệu lượt thanh niên lên đường nhập ngũ hoặc tham gia lực lượng thanh niên xung phong đã được tổ chức, điều phối hiệu quả. Những con đường huyết mạch, những tuyến vận tải chiến lược được bảo đảm thông suốt, thể hiện năng lực tổ chức và điều hành linh hoạt của bộ máy nhà nước trong điều kiện chiến tranh tổng lực.

Dưới sự lãnh đạo thống nhất của Đảng, mô hình “vừa sản xuất, vừa chiến đấu” được triển khai sâu rộng trong toàn xã hội. Từ nhà máy, hợp tác xã đến trường học, bệnh viện, mọi lĩnh vực đều thích ứng với hoàn cảnh thời chiến nhưng vẫn giữ được kỷ cương và mục tiêu phát triển lâu dài. Thủ tướng Phạm Văn Đồng với phong cách làm việc sâu sát, thận trọng và đề cao tính tập thể đã góp phần củng cố sự thống nhất ý chí giữa Đảng, Chính phủ và Nhân dân, yếu tố then chốt để hậu phương lớn miền Bắc đứng vững trước đối thủ có tiềm lực kinh tế và quân sự vượt trội.

Sự phối hợp nhịp nhàng giữa lãnh đạo Đảng, Chính phủ và Quân đội đã tạo nên sức mạnh tổng hợp của toàn dân tộc. Hậu phương được tổ chức vững chắc, tiền tuyến được tiếp sức bền bỉ, đó là nền tảng chiến lược góp phần quyết định đưa cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước đến thắng lợi hoàn toàn vào mùa Xuân năm 1975, mở ra kỷ nguyên mới: độc lập, thống nhất và đi lên xây dựng đất nước.

Bản lĩnh ngoại giao trong những bước ngoặt lịch sử
Trên mặt trận ngoại giao, dấu ấn nổi bật của Phạm Văn Đồng là vai trò Trưởng đoàn Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tại Hội nghị Geneva (26/4 – 21/7/1954). Trong bối cảnh cục diện chiến tranh Đông Dương chuyển biến sâu sắc, ông đã cùng đoàn đàm phán kiên trì bảo vệ lập trường độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam, đồng thời khéo léo xử lý quan hệ giữa các nước lớn có lợi ích đan xen phức tạp tại bàn hội nghị.

Kết quả của Hiệp định Geneva buộc các bên tham chiến phải công nhận các quyền dân tộc cơ bản của Việt Nam, chấm dứt chiến sự ở Đông Dương, mở ra thời kỳ hòa bình ở miền Bắc và tạo cơ sở pháp lý quốc tế quan trọng cho cuộc đấu tranh thống nhất đất nước. Đây là bước ngoặt ngoại giao có ý nghĩa chiến lược: lần đầu tiên trong thời đại mới, các quyền dân tộc cơ bản của Việt Nam được ghi nhận trong một văn kiện quốc tế đa phương.

Thành công tại Geneva thể hiện rõ phong cách ngoại giao của Phạm Văn Đồng: điềm tĩnh, chuẩn mực, lập luận chặt chẽ, kết hợp nhuần nhuyễn giữa nguyên tắc và sách lược. Ông kiên định mục tiêu độc lập dân tộc nhưng luôn linh hoạt trong phương pháp tiếp cận, biết tận dụng tương quan lực lượng và bối cảnh quốc tế để bảo vệ lợi ích tối cao của quốc gia.

Bước sang giai đoạn kháng chiến chống Mỹ, ngoại giao tiếp tục là một mặt trận quan trọng song hành cùng quân sự và chính trị. Trên cương vị Thủ tướng, ông trực tiếp chỉ đạo hoạt động đối ngoại của Chính phủ, bảo đảm sự phối hợp chặt chẽ giữa đấu tranh ngoại giao với đấu tranh trên chiến trường và phong trào phản chiến quốc tế. Ngoại giao không chỉ nhằm tranh thủ sự ủng hộ vật chất và tinh thần, mà còn góp phần tạo thế chính nghĩa, khẳng định vị thế của Việt Nam trong dư luận toàn cầu.

Trong các thập niên 1960 – 1980, Phạm Văn Đồng thực hiện nhiều chuyến công du và tiếp xúc cấp cao, củng cố quan hệ với các nước xã hội chủ nghĩa, phong trào không liên kết và nhiều quốc gia đang phát triển ở châu Á, châu Phi, Mỹ Latin. Trong bối cảnh chiến tranh và sau đó là cấm vận, những nỗ lực ấy có ý nghĩa lâu dài: mở rộng không gian hợp tác quốc tế, tranh thủ nguồn lực cho tái thiết, đồng thời từng bước phá thế bao vây, cô lập.

Hoạt động đối ngoại của Chính phủ dưới sự điều hành của ông luôn bám sát đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, đa dạng hóa quan hệ, đặt lợi ích quốc gia, dân tộc lên trên hết. Qua những bước ngoặt lớn của thế kỷ XX, Phạm Văn Đồng để lại dấu ấn của một nhà lãnh đạo kết hợp hài hòa giữa tư duy chiến lược, bản lĩnh chính trị và nghệ thuật ngoại giao, góp phần nâng cao vị thế Việt Nam trên trường quốc tế trong những thời khắc quyết định của lịch sử.

Người Thủ tướng của thời kỳ thống nhất và tái thiết đất nước
Sau Đại thắng mùa Xuân năm 1975, đất nước bước vào kỷ nguyên độc lập, thống nhất nhưng phải đối mặt với muôn vàn khó khăn: cơ sở hạ tầng bị tàn phá nặng nề, nền kinh tế kiệt quệ sau nhiều thập niên chiến tranh, đời sống nhân dân thiếu thốn, trong khi môi trường quốc tế đầy biến động. Trên cương vị người đứng đầu Chính phủ, Phạm Văn Đồng cùng Tổng Bí thư Lê Duẩn và tập thể lãnh đạo Đảng, Nhà nước tập trung chỉ đạo nhiệm vụ trung tâm: thống nhất về chính trị, hành chính và kinh tế trên phạm vi cả nước.

Một trong những yêu cầu cấp thiết lúc bấy giờ là tổ chức lại hệ thống quản lý giữa hai miền vốn tồn tại trong những điều kiện lịch sử khác nhau. Chính phủ đã từng bước thống nhất bộ máy hành chính, hệ thống pháp luật, cơ chế điều hành kinh tế và chính sách xã hội. Đây là quá trình phức tạp, đòi hỏi sự điều hành thận trọng, bảo đảm ổn định chính trị và giữ vững niềm tin của nhân dân trong bối cảnh đất nước chịu bao vây, cấm vận và đối diện nhiều thách thức an ninh khu vực.

Bên cạnh việc ổn định bộ máy quản lý, Chính phủ triển khai nhiều chủ trương nhằm khôi phục sản xuất, cải tạo và xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật, từng bước hàn gắn vết thương chiến tranh. Các chương trình phát triển nông nghiệp, công nghiệp, giao thông vận tải được thúc đẩy nhằm tạo nền tảng cho tự lực, tự cường. Trong điều kiện nguồn lực hạn hẹp, việc duy trì được hoạt động của nền kinh tế và bảo đảm an sinh cơ bản cho người dân đã thể hiện nỗ lực điều hành bền bỉ và trách nhiệm cao của bộ máy nhà nước.

Đáng chú ý, dù hoàn cảnh quốc tế khó khăn, các lĩnh vực giáo dục, y tế, khoa học kỹ thuật vẫn được duy trì và từng bước mở rộng. Mạng lưới trường học, cơ sở đào tạo, bệnh viện tiếp tục phát triển; đội ngũ trí thức và cán bộ kỹ thuật được quan tâm bồi dưỡng. Những kết quả này không chỉ góp phần ổn định xã hội trong giai đoạn chuyển tiếp mà còn tạo tiền đề quan trọng cho công cuộc đổi mới sau này.

Vai trò của Thủ tướng Phạm Văn Đồng trong thời kỳ hậu chiến vì thế không chỉ giới hạn ở quản lý hành chính thuần túy. Ông cùng tập thể lãnh đạo Chính phủ giữ vững sự ổn định quốc gia, bảo đảm thành quả thống nhất được chuyển hóa thành nền tảng phát triển lâu dài. Trong chặng đường nhiều thử thách ấy, sự kiên trì, điềm tĩnh và tinh thần đặt lợi ích quốc gia, dân tộc lên trên hết tiếp tục là dấu ấn nổi bật trong phong cách lãnh đạo của ông.

Di sản lớn nhất – Đạo đức của người cầm quyền
Điều còn lại sâu đậm nhất trong cuộc đời Phạm Văn Đồng không chỉ là quãng thời gian lãnh đạo dài nhất trong lịch sử Nhà nước Việt Nam, mà trước hết là chuẩn mực đạo đức của một người cầm quyền trong suốt những năm tháng đất nước đứng trước thử thách sinh tử. Giữa chiến tranh khốc liệt, giữa thiếu thốn hậu chiến và cả những cám dỗ của quyền lực, ông vẫn giữ lối sống giản dị, thanh liêm, nhất quán giữa lời nói và việc làm. Quyền lực đối với ông không phải đặc ân, mà là trách nhiệm nặng nề trước Nhân dân và lịch sử.

Chính sự nhất quán ấy tạo nên uy tín đặc biệt, một uy tín không đến từ diễn thuyết hay khẩu hiệu, mà từ phong cách làm việc thận trọng, tinh thần tập thể và sự tận tụy trong từng quyết sách. Trong tiến trình cách mạng Việt Nam hiện đại, ông là hình ảnh tiêu biểu của lớp cán bộ trưởng thành từ tư tưởng Hồ Chí Minh: kiên định về chính trị, chuẩn mực về đạo đức và suốt đời phụng sự Tổ quốc. Sự phối hợp chặt chẽ giữa Chính phủ do ông đứng đầu với lãnh đạo Đảng và Nhà nước qua các thời kỳ đã biến những chủ trương chiến lược thành năng lực tổ chức cụ thể, thành sức mạnh thực tiễn trong đời sống quốc gia.

Ở những thời điểm khó khăn nhất sau thống nhất, khi đất nước chịu bao vây, cấm vận và nhiều thách thức an ninh, điều hành quốc gia không chỉ là bài toán kinh tế, hành chính, mà còn là thử thách về bản lĩnh và sự liêm chính. Việc giữ vững ổn định xã hội, duy trì phát triển giáo dục, y tế, khoa học kỹ thuật trong hoàn cảnh nguồn lực hạn hẹp cho thấy giá trị của một Chính phủ biết hành động kiên trì, biết đặt lợi ích lâu dài của dân tộc lên trên những lợi ích trước mắt.

Sáng 1/3/2026, Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính thành kính dâng hương tưởng nhớ cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng , tại Khu lưu niệm Thủ tướng Phạm Văn Đồng ở xã Mộ Đức, tỉnh Quảng Ngãi. Ảnh: báo Nhân dân.

Di sản lớn nhất – Đạo đức của người cầm quyền
Điều đọng lại sâu sắc nhất trong cuộc đời Phạm Văn Đồng không chỉ là quãng thời gian lãnh đạo dài nhất trong lịch sử Nhà nước Việt Nam, mà chính là chuẩn mực đạo đức của một người đứng đầu Chính phủ trong suốt những năm tháng đất nước đối diện thử thách sinh tử. Ở cương vị quyền lực cao nhất của bộ máy hành pháp, giữa chiến tranh khốc liệt, thiếu thốn hậu chiến và cả những cám dỗ gắn với quyền lực, ông vẫn giữ lối sống giản dị, thanh liêm, chừng mực trong lời nói và nghiêm khắc trong tự rèn luyện.

Uy tín của ông không được tạo dựng bằng những tuyên bố mạnh mẽ, mà bằng sự nhất quán giữa tư tưởng và hành động. Từ bàn đàm phán quốc tế đến những quyết sách kinh tế xã hội trong nước, ông luôn đặt lợi ích quốc gia và Nhân dân lên trên lợi ích cá nhân hay danh vị. Trong tiến trình cách mạng Việt Nam hiện đại, ông là hình ảnh tiêu biểu của lớp cán bộ trưởng thành từ tư tưởng Hồ Chí Minh: kiên định về mục tiêu, chuẩn mực về đạo đức, coi trọng kỷ luật và tinh thần trách nhiệm trước Đảng, trước Nhân dân.

Sau năm 1975, khi đất nước thống nhất nhưng bộn bề khó khăn, thử thách lớn nhất của người lãnh đạo không chỉ là tái thiết kinh tế, mà còn là giữ vững sự ổn định xã hội và niềm tin của Nhân dân. Trong điều kiện bị bao vây, cấm vận và nguồn lực hạn hẹp, việc duy trì được trật tự quản lý, bảo đảm giáo dục, y tế và khoa học kỹ thuật tiếp tục vận hành cho thấy bản lĩnh của một Chính phủ đặt lợi ích lâu dài của quốc gia lên trên áp lực trước mắt. Ở đó, vai trò của người đứng đầu thể hiện qua sự điềm tĩnh, kiên trì và trách nhiệm đến cùng với quyết định của mình.

Nhìn từ hôm nay, bài học lớn nhất mà cuộc đời Phạm Văn Đồng để lại cho đội ngũ lãnh đạo đương đại không nằm ở những khẩu hiệu hay lời hứa, mà ở cách thực thi quyền lực bằng hành động cụ thể, bằng sự trong sạch, minh bạch và kỷ luật cá nhân nghiêm khắc. Quyền lực chỉ có ý nghĩa khi được kiểm soát bằng đạo đức; uy tín chỉ bền vững khi được xây dựng từ kết quả công việc và sự gương mẫu trong đời sống.

Kỷ niệm 120 năm Ngày sinh ông vì thế không chỉ là tưởng nhớ một nhà lãnh đạo tiêu biểu của thế kỷ XX, mà còn là dịp nhắc nhở về trách nhiệm của những người đang nắm giữ trọng trách hôm nay. Di sản lớn nhất ông để lại là chuẩn mực đạo đức công vụ – nền tảng vô hình nhưng quyết định, bảo đảm rằng quyền lực luôn gắn với nghĩa vụ trước Nhân dân và lịch sử. Di sản ấy không khép lại trong quá khứ, mà tiếp tục soi chiếu cho hành trình xây dựng một nền quản trị quốc gia liêm chính, trách nhiệm và vì lợi ích chung của đất nước trong thời đại mới.

Thế Nguyễn – Minh Văn