Những cơn mưa trái mùa cuối tháng 2/2026 đã làm nhiều ruộng muối ở Cà Mau thiệt hại nặng, sản lượng sụt giảm. Sự việc không chỉ là tổn thất trước mắt mà còn cho thấy nghề muối ven biển Đồng bằng sông Cửu Long, đặc biệt tại Cà Mau và Vĩnh Long đang đứng trước nhiều sức ép: biến đổi thời tiết, hạ tầng sản xuất hạn chế, đầu ra bấp bênh và bài toán nâng giá trị hạt muối.

Một trận mưa, nhiều hệ lụy cho diêm dân
Ở đồng muối, thiệt hại thường đến rất nhanh. Chỉ vài cơn mưa trái mùa, điều nhìn thấy rõ nhất là những ô muối đang đến kỳ thu gom bỗng loang nước, công sức mấy tháng của diêm dân gần như bị xóa ngay trên mặt ruộng. Nhưng mất muối chỉ là phần nổi. Phần chìm là thời gian, vốn liếng, công cải tạo mặt sân, ô kề, ô kết tinh; là nhịp sản xuất bị ngắt đột ngột khi người dân phải quay lại từ đầu với việc xử lý nguồn nước, chờ nắng, chờ độ mặn ổn định để tái tạo mặt ruộng.
Theo Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Cà Mau, nghề làm muối đã gắn bó với địa phương hơn 100 năm. Vụ muối 2025 – 2026, toàn tỉnh có khoảng 1.550ha sản xuất với 826 hộ tham gia, sản lượng bình quân hơn 35.000 tấn mỗi năm. Tuy nhiên, đến ngày 20/2/2026, sản lượng thu hoạch mới đạt 919 tấn thì từ ngày 25 đến 27/2, mưa trái mùa liên tiếp xảy ra, gây thiệt hại diện rộng. Rà soát sơ bộ cho thấy 1.522 ha bị ảnh hưởng, 787 hộ thiệt hại, khoảng 10.758 tấn muối mất trắng, giá trị ước gần 13 tỉ đồng.
Thiệt hại cho thấy mức độ ảnh hưởng không còn cục bộ. Với diêm dân, đó là cả một vụ sản xuất bị gián đoạn khi chi phí đầu vụ chưa kịp thu hồi, công lao động đã bỏ xuống đồng khó bù đắp ngay. Nghề muối vốn phụ thuộc chặt vào nắng, gió và độ mặn nguồn nước; chỉ cần thời tiết thay đổi đúng giai đoạn kết tinh, kế hoạch sản xuất gần như đảo lộn.
Mưa trái mùa không chỉ làm mất sản lượng mà còn kéo dài thời vụ, phát sinh chi phí bơm tháo nước, cải tạo ruộng muối. Với nhiều hộ sản xuất quy mô nhỏ, nguồn vốn dự phòng hạn chế, thiệt hại sau vài ngày mưa có thể ảnh hưởng trực tiếp đến sinh hoạt và khả năng tái sản xuất.
Trước tình hình này, ngành nông nghiệp Cà Mau đã hướng dẫn diêm dân xử lý nguồn nước, cải tạo ô kề, ô kết tinh khi thời tiết ổn định để sớm khôi phục sản xuất; đồng thời thành lập tổ thẩm định, phối hợp địa phương rà soát, thống kê thiệt hại của hộ dân, hợp tác xã và tổ hợp tác để đề xuất hỗ trợ theo quy định. Việc rà soát kịp thời được xem là bước cần thiết nhằm tránh đứt gãy sinh kế sau đợt thời tiết bất thường.
Thiệt hại trên đồng muối cho thấy rủi ro sinh kế ven biển Cà Mau không còn riêng lẻ. Mưa trái mùa sau nắng nóng kéo dài được xác định là hiện tượng thời tiết cực đoan, không chỉ làm mất muối mà còn khiến môi trường ao nuôi biến động, tôm dễ phát sinh bệnh. Nghề muối vì vậy càng dễ tổn thương khi hạ tầng còn hạn chế, sản xuất nhỏ lẻ và giá trị muối thô chưa cao
Trong khó khăn, Cà Mau cũng xác định hướng đi cho nghề muối: quy hoạch ổn định vùng sản xuất, đầu tư hạ tầng đồng muối, phát triển song song muối trải bạt và muối truyền thống, đồng thời gắn làng nghề với du lịch nông thôn. Tỉnh cũng triển khai chính sách hỗ trợ hợp tác xã diêm nghiệp theo Nghị định 113/2024/NĐ-CP và nghiên cứu đa dạng hóa sản phẩm từ muối.
Thiệt hại hiện nay không chỉ là mất sản lượng trước mắt mà còn đặt ra yêu cầu nâng sức chống chịu cho nghề muối. Trong bối cảnh thời tiết ngày càng khó đoán, sản xuất muối cần được tổ chức bài bản hơn, gắn với hạ tầng, liên kết sản xuất và nâng giá trị hạt muối.

Hướng đi để nghề muối thích ứng tốt hơn
Từ Cà Mau, bức tranh nghề muối ở Đồng bằng sông Cửu Long hiện ra không quá rộng về diện tích, nhưng có chiều sâu về sinh kế và văn hóa. Ở Bạc Liêu trước đây, Festival Nghề Muối Việt Nam – Bạc Liêu 2025 được tổ chức với thông điệp nâng cao giá trị nghề muối, gìn giữ và “thổi hồn” vào hạt muối để từ đó nâng giá trị muối địa phương và muối Việt Nam nói chung. Chỉ riêng cách đặt vấn đề này đã cho thấy một chuyển động đáng chú ý của quản lý nhà nước: nghề muối không còn chỉ được nhìn bằng câu chuyện sản lượng, mà được đặt trong mối quan hệ rộng hơn với du lịch, thương mại, văn hóa, làng nghề và thương hiệu địa phương. Đó là cách tiếp cận cần thiết nếu muốn nghề muối sống được trong bối cảnh cạnh tranh ngày càng gay gắt.
Ở Bến Tre trước đây, dù diện tích không lớn so với nhiều ngành sản xuất khác, nghề muối vẫn được duy trì tại các vùng ven biển như Ba Tri, Bình Đại. Thông tin công bố năm 2024 cho thấy địa phương có hơn 1.125ha muối, hơn 800 hộ sản xuất và đã phát triển diện tích muối sạch bằng phương pháp trải bạt. Điều đáng chú ý hơn là hướng đi nhấn vào liên kết chuỗi giá trị. Điều đó cho thấy khi diện tích không còn là lợi thế quyết định, tổ chức sản xuất, chất lượng sản phẩm và đầu ra mới là yếu tố giữ nghề.
Với Trà Vinh trước đây, các cuộc làm việc của địa phương về sản xuất, kinh doanh muối những năm gần đây đã chỉ ra khá thẳng các khó khăn của nghề muối: giá thấp, hiệu quả chưa ổn định, lao động ngày càng thiếu, mùa mưa kéo dài và những tác động bất lợi của môi trường. Việc nhìn nhận sớm các áp lực ấy cho thấy rủi ro nghề muối không bùng lên trong một ngày, mà tích tụ dần qua nhiều niên vụ. Nếu không có điều chỉnh kịp thời về chính sách và tổ chức sản xuất, nghề muối rất dễ rơi vào thế co hẹp.
Chính ở đây, giá trị của quản lý nhà nước bộc lộ rõ nhất. Với nghề muối, quản lý nhà nước không chỉ là hỗ trợ sau thiệt hại. Giá trị đầu tiên là thống kê, thẩm định, hỗ trợ đúng đối tượng khi có rủi ro, như cách Cà Mau đang làm sau đợt mưa trái mùa. Giá trị thứ hai là quy hoạch vùng sản xuất và đầu tư hạ tầng: giao thông nội đồng, cấp thoát nước, kho chứa, mặt sân, các dịch vụ hậu cần. Nếu không có nền hạ tầng đủ tốt, mọi khuyến cáo kỹ thuật đều khó phát huy tác dụng. Giá trị thứ ba là thể chế cho liên kết sản xuất, nhất là hỗ trợ hợp tác xã, tổ hợp tác, doanh nghiệp bao tiêu, bởi hạt muối của hộ riêng lẻ rất khó tự tạo ưu thế trên thị trường. Giá trị thứ tư là kiến tạo không gian gia tăng giá trị: làng nghề, du lịch trải nghiệm, sản phẩm sức khỏe, mỹ phẩm, quà tặng, chế biến sâu. Chính các trụ đỡ này mới giúp nghề muối đi từ bị động sang chủ động.
Về chính sách, Nghị định 40/2017/NĐ-CP đã tạo khung quản lý sản xuất, chế biến và kinh doanh muối; Quyết định 1325/QĐ-TTg định hướng phát triển ngành muối giai đoạn 2021 – 2030 theo hướng nâng giá trị gia tăng, đa dạng sản phẩm và tăng cường liên kết chuỗi. Nghị định 113/2024/NĐ-CP tiếp tục hỗ trợ khu vực hợp tác xã, một mắt xích quan trọng của nghề muối. Vấn đề hiện nay không phải thiếu chính sách, mà là đưa định hướng đó thành năng lực sản xuất thực tế cho diêm dân.
Đối với đồng bằng sông , đây còn là câu chuyện của sinh kế ven biển. Muối không có quy mô kinh tế áp đảo như lúa, trái cây hay thủy sản, nhưng nó gắn với những cộng đồng cư dân ven biển, với ký ức làng nghề, với cách con người thích ứng với nước mặn, nắng gió suốt nhiều thập niên. Nếu hạt muối chỉ được bán như một sản phẩm thô, giá trị thấp, thì mỗi cú sốc thời tiết sẽ càng dễ đẩy diêm dân rời nghề.
Nếu hạt muối được tổ chức lại thành một chuỗi giá trị gồm sản xuất sạch, chế biến sâu, thương hiệu địa phương, du lịch cộng đồng, sản phẩm chăm sóc sức khỏe và làm đẹp, sức chống chịu của nghề sẽ khác. Ngay trong định hướng của Cà Mau, điều này đã được đặt ra khá cụ thể.
Từ đồng muối Cà Mau, một cảnh báo đang hiện lên cho toàn vùng ven biển Đồng bằng sông Cửu Long: kinh nghiệm mùa vụ thôi sẽ không còn đủ. Điều nghề muối cần lúc này không chỉ là hỗ trợ sau một trận mưa trái mùa, mà là một chuỗi giải pháp đồng bộ hơn từ quy hoạch, hạ tầng, cảnh báo thời tiết, hỗ trợ hợp tác xã, liên kết doanh nghiệp đến phát triển sản phẩm giá trị cao. Chỉ khi hạt muối được đặt đúng vào vị trí của một sản phẩm kinh tế – văn hóa có giá trị, người làm muối mới có thêm lý do để bám trụ với nghề. Và cũng chỉ khi đó, những cánh đồng muối ven biển Đồng bằng sông Cửu Long mới không tiếp tục chịu phần thiệt lớn nhất mỗi khi thời tiết đổi khác.
Trọng Nguyễn


