Thứ Sáu, Tháng 3 20, 2026
* Email: bbt.dongnama@gmail.com *Tòa soạn: 0989011688 - 0768908888
spot_img

Xâm nhập mặn và bước chuyển tư duy sản xuất ở Đồng bằng sông Cửu Long



ĐNA -

Trong cao điểm xâm nhập mặn mùa khô, nước mặn tiếp tục lấn sâu vào các cửa sông ở Đồng bằng sông Cửu Long, đẩy nhiều vùng sản xuất phụ thuộc nước ngọt vào thế bấp bênh. Tuy nhiên, thay vì chỉ lo đối phó bằng đê bao, cống đập hay chạy đua với con nước như trước, một hướng đi mới đang hình thành: nông dân chủ động thích ứng, học cách “thuận thiên” – đọc thủy triều, điều tiết nước, chuyển đổi cây trồng, vật nuôi và thay đổi phương thức sản xuất để giữ vững sinh kế.

Ông Nguyễn Hồng Khanh, Phó Cục trưởng Cục Quản lý và Xây dựng công trình thủy lợi.

Tiếng chuông từ những dòng sông nhiễm mặn
Giữa tháng 3/2026, tại nhiều khu vực nội đồng ở Đồng bằng sông Cửu Long, việc lấy nước phục vụ sản xuất không còn diễn ra như bình thường. Dù nước vẫn hiện diện trên các tuyến kênh, nhiều nơi không thể vận hành máy bơm do độ mặn vượt ngưỡng cho phép đối với sản xuất nông nghiệp. Thực tế này cho thấy tác động của xâm nhập mặn không chỉ dừng ở khu vực cửa sông, mà đã ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động lấy nước tại một số vùng canh tác phụ thuộc nguồn nước mặt.

Tại họp báo thường kỳ tháng 2/2026 của Bộ Nông nghiệp và Môi trường ngày 11/3/2026, Ông Nguyễn Hồng Khanh, Phó Cục trưởng Cục Quản lý và Xây dựng công trình thủy lợi cho biết: “Từ nay đến hết tháng 5/2026, ENSO nhiều khả năng chuyển dần sang trạng thái trung tính, với xác suất khoảng 80-90%. Sang giai đoạn từ tháng 6 đến tháng 8/2026, trạng thái trung tính được nhận định vẫn chiếm ưu thế. Tuy nhiên, khả năng xuất hiện El Nino có xu hướng tăng, với xác suất khoảng 35-45%”.

Mùa khô 2025-2026, cơ quan chuyên môn dự báo thời gian xâm nhập mặn cao nhất tại khu vực cửa sông Cửu Long rơi vào kỳ triều cường giữa đến cuối tháng 3/2026; riêng vùng hai sông Vàm Cỏ và Cái Lớn, mặn có thể kéo dài đến tháng 4 nếu không xuất hiện mưa. Ranh mặn 4g/l lớn nhất mùa khô này được dự báo vào sâu 42-45km trên cửa Tiểu, cửa Đại; 50-55km trên sông Hàm Luông; 48-53km trên sông Cổ Chiên. Đó là quãng xâm nhập đủ để nhiều vùng sản xuất nước ngọt phải chuyển sang chế độ canh chừng từng con nước, từng giờ lấy nước.

Xâm nhập mặn tác động trực tiếp đến từng quyết định sản xuất ở cấp hộ dân. Với vùng cây lâu năm, nhất là cây ăn trái, chỉ một lần lấy nước không bảo đảm chất lượng có thể ảnh hưởng cả chu kỳ chăm sóc. Với lúa, rau màu và thủy sản, việc chậm hoặc sớm vài ngày trong lấy nước, xuống giống hay thay nước đều kéo theo rủi ro về sinh trưởng, năng suất và chi phí. Bởi vậy, ở nhiều địa phương, xâm nhập mặn không còn được nhìn như một đợt thiên tai đơn lẻ, mà là biến số thường trực trong tổ chức mùa vụ và vận hành sản xuất.

Sự thay đổi địa giới hành chính sau sáp nhập không làm đổi bản chất của bài toán nước. Mặn vào sâu thêm một đợt, áp lực lại dội thẳng vào những vùng cây lâu năm, vùng sản xuất chuyên canh và những khu dân cư phụ thuộc nguồn nước mặt. Với nhà vườn, một lần lấy nước sai không chỉ mất một lứa trái. Có khi mất cả chu kỳ chăm sóc kéo dài nhiều tháng. Với người trồng lúa, nuôi thủy sản, sai một nhịp lấy nước là đảo lộn cả mùa vụ.

Điều đáng nói là mùa khô năm nay không phải mùa có mức độ gay gắt nhất lịch sử. Bộ Nông nghiệp và Môi trường đánh giá xâm nhập mặn 2025-2026 ở Đồng bằng sông Cửu Long nhìn chung xấp xỉ trung bình nhiều năm và thấp hơn mùa khô 2024-2025. Nhưng chính mức “không cực đoan” ấy lại cho thấy một thực tế khác: xâm nhập mặn đã trở thành trạng thái thường xuyên của quản trị sản xuất, chứ không còn là biến cố để chỉ chống đỡ theo từng đợt.

Bởi vậy, thứ người dân nhìn vào lúc này không chỉ là con số độ mặn. Họ nhìn cả lịch triều, lịch vận hành cống, dự báo mưa, khả năng trữ nước và ngưỡng chịu đựng của từng loại cây, từng ao nuôi. Ở nhiều nơi, phản xạ sản xuất đã đổi. Thấy nước là chưa đủ. Phải biết nước gì, vào lúc nào, dùng cho việc gì. Đó là ranh giới giữa giữ được mùa và tự đẩy mình vào rủi ro.

Cống Cái Bé (tỉnh An Giang) đưa vào vận hành phòng chống hạn mặn.

Từ “ngăn mặn” sang tổ chức sản xuất theo nhịp con nước
Nghị quyết 120/NQ-CP về phát triển bền vững Đồng bằng sông Cửu Long thích ứng với biến đổi khí hậu đã đặt ra một chuyển hướng căn bản: phát triển theo tinh thần thuận thiên, tôn trọng quy luật tự nhiên, xem nước ngọt, nước lợ, nước mặn đều là tài nguyên phải được phân vùng và sử dụng phù hợp. Từ đây, câu chuyện của đồng bằng không còn dừng ở mục tiêu ngọt hóa bằng mọi giá.

Thực tiễn mấy năm qua cho thấy, càng cố khép kín toàn bộ, chi phí càng lớn, rủi ro càng cao. Ở những vùng ven biển, đóng cống để giữ ngọt có thể cứu một khu vực này nhưng lại làm đảo lộn sinh thái sản xuất ở khu vực khác. Vì vậy, tư duy mới không phải là buông cho mặn đi tới đâu thì tới, mà là tổ chức lại không gian sản xuất theo phổ mặn – lợ – ngọt. Chỗ nào phải giữ ngọt nghiêm ngặt cho nước sinh hoạt, cho cây ăn trái thì bảo vệ. Chỗ nào có thể tận dụng nước lợ, nước mặn cho thủy sản thì chủ động thích nghi.

Chuyển dịch ấy hiện rõ nhất ở vùng lúa – tôm. Tại Cà Mau, diện tích nuôi tôm theo chuỗi liên kết và quảng canh cải tiến đã đạt khoảng 127.600ha, với hơn 64.800 hộ tham gia; năng suất bình quân đạt 550kg/ha/năm, sản lượng ước tính năm 2025 khoảng 70.974 tấn. Cùng lúc, các mô hình tôm – lúa, tôm – rừng, quảng canh cải tiến tiếp tục được xem là trục sinh kế bền hơn trong bối cảnh khí hậu thất thường.

Điểm mạnh của mô hình này không nằm ở khẩu hiệu “sống chung với mặn”, mà ở cấu trúc kinh tế ít phụ thuộc hơn vào một mùa vụ đơn lẻ. Mùa khô, nước lợ hoặc nước mặn được sử dụng cho tôm. Mùa mưa, khi nước ngọt trở lại, đồng được rửa mặn để xuống giống lúa. Trên cùng một diện tích đất, người dân không còn đặt cược vào một lời giải duy nhất. Họ chia rủi ro theo mùa nước.

Tại Cà Mau, dự án nhân rộng mô hình lúa chất lượng cao, phát thải thấp vùng lúa – tôm năm 2025 được triển khai trên 700ha tại 14 điểm mô hình, với mục tiêu nâng lợi nhuận của nông dân từ 30% trở lên so với sản xuất truyền thống. Kết quả tại một số mô hình cho thấy năng suất lúa đạt 5-5,5 tấn/ha, cao hơn ruộng đối chứng khoảng 1 tấn/ha; lợi nhuận tăng thêm 10,6 triệu đồng/ha. Những số liệu ấy cho thấy thích nghi không phải khái niệm lý thuyết. Nó đi thẳng vào thu nhập của người làm ruộng.

Ở vùng Bạc Liêu cũ, nay thuộc tỉnh Cà Mau, định hướng phát triển lúa – tôm trước khi sắp xếp đơn vị hành chính đã xác định quy mô 43.000-45.000ha đến năm 2025. Đây là nền tảng để khu vực ven biển phía bắc Quốc lộ 1 cũ tiếp tục giữ vai trò vùng chuyển tiếp mặn – lợ quan trọng, nơi bài toán không phải triệt tiêu nước mặn mà là điều tiết để khai thác đúng thời điểm.

Không chỉ thay đổi mô hình canh tác, đồng bằng cũng đang thay đổi cách quản lý dòng nước. Công ty TNHH MTV Khai thác thủy lợi miền Nam đã ban hành kế hoạch vận hành các công trình thủy lợi vùng Đồng bằng sông Cửu Long trong mùa khô 2025-2026; riêng cụm cống Cái Lớn, Cái Bé, Xẻo Rô có kế hoạch vận hành tháng 3/2026 và hệ thống giám sát trực tuyến công khai các điểm đo độ mặn, mực nước phục vụ điều hành. Dữ liệu không còn nằm trong báo cáo đóng. Nó xuất hiện ngay trên hệ thống theo dõi vận hành, để người quản lý và người sản xuất cùng đọc một ngôn ngữ của con nước.

Giá trị của những công trình này không nằm ở việc chặn mặn tuyệt đối, mà ở khả năng điều tiết linh hoạt, kéo dài thêm thời gian an toàn cho sản xuất và dân sinh. Từ chỗ chạy theo nước, nhiều địa phương đang chuyển sang chủ động đón, giữ, xả theo từng thời điểm. Đó là thay đổi âm thầm nhưng có ý nghĩa quyết định trong bối cảnh biến động khí hậu ngày càng dồn dập.

Bài học lớn nhất đang hiện ra từ chính đồng ruộng, vuông tôm, vườn cây. Đồng bằng không thể quay về cách nghĩ cũ: cứ có mặn là chống tới cùng, cứ có ngọt là giữ bằng mọi giá. Sau sắp xếp địa giới, một không gian kinh tế lớn hơn đang hình thành, từ Cần Thơ tới Cà Mau, từ Đồng Tháp tới Vĩnh Long, An Giang. Trong không gian đó, nước phải được nhìn như một tài nguyên phân tầng. Mặn không mặc định là thua. Ngọt không phải lúc nào cũng là lời giải duy nhất.

Thách thức vẫn còn nguyên. Những vùng cây lâu năm ở ven biển, những xã phụ thuộc nước mặt cho sinh hoạt, những khu vực chuyển tiếp mặn – lợ vẫn phải căng mình mỗi mùa khô. Nhưng cũng từ sức ép đó, một lớp nông dân khác đang hình thành: quyết định theo dữ liệu hơn, theo dự báo hơn, theo hiệu quả kinh tế hơn. Họ không đứng nhìn thủy triều như một tai họa bất ngờ. Họ học cách làm ăn theo nhịp của nó.

Tương lai nông nghiệp của Đồng bằng sông Cửu Long vì thế không nằm ở nỗ lực giữ nguyên một đồng bằng thuần ngọt như trong ký ức. Tương lai ấy nằm ở năng lực tổ chức lại sản xuất, tổ chức lại nguồn nước, tổ chức lại sinh kế theo đúng quy luật mặn – lợ – ngọt của tự nhiên. Khi người nông dân biết bắt tay với thủy triều, nghịch lý mặn – ngọt không chỉ còn là lời cảnh báo. Nó trở thành phép thử của bản lĩnh sông nước và của năng lực quản trị một vùng đất đang đổi khác từng mùa khô.

Mô hình nuôi tôm thẻ chân trắng 2 giai đoạn thích ứng hạn, mặn ở Cà Mau.

Trọng Nguyễn