Thứ Tư, Tháng 4 1, 2026
* Email: bbt.dongnama@gmail.com *Tòa soạn: 0989011688 - 0768908888
spot_img

Đồng bằng sông Cửu Long: Du lịch khởi sắc từ nếp sống quê nhà



ĐNA -

Du lịch miền Tây không chỉ ở bến sông, chợ nổi, mà còn nằm trong xóm nghề còn đỏ lửa, ngôi chùa còn đông chân người, bữa cơm quê đãi khách và những điểm cộng đồng đang làm du lịch. Nghị quyết 80-NQ/TW đặt ra yêu cầu đưa văn hóa vào phát triển. Sau sắp xếp địa giới, yêu cầu ấy chỉ được nhìn thấy rõ khi bản sắc địa phương được tổ chức thành sản phẩm du lịch cụ thể, giữ được khách, giữ được nghề và tạo thêm giá trị cho người dân. 

Tái hiện lễ Kỳ yên tại Lễ hội Sông nước Cần Thơ năm 2025.

Giữ lửa chợ, giữ nghề quê
Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết 80-NQ/TW về phát triển văn hóa Việt Nam, xác định văn hóa, con người là nền tảng, nguồn lực nội sinh quan trọng, động lực cho phát triển nhanh và bền vững. Nghị quyết đồng thời đặt yêu cầu phát triển du lịch giàu bản sắc, giàu trải nghiệm, xanh, sạch, thông minh, kết nối liên vùng, giảm phát thải, và dành tối thiểu 2% tổng chi ngân sách hằng năm cho văn hóa. Với miền Tây, tinh thần ấy không dừng ở lời kêu gọi. Nó hiện ra bằng những câu hỏi rất gần với đời sống điểm đến: chợ còn họp không, nghề còn sống không, khách có chịu ở lại không, và giá trị từ du lịch có ở lại với người dân địa phương hay không.

Miền Tây vốn không thiếu cái để làm du lịch. Có chợ nổi, có đờn ca tài tử, có lễ hội dân gian, có chùa Khmer, có làng nghề, có miệt vườn, có bữa cơm quê, có nếp sinh hoạt mà không nơi nào giống hẳn. Nhưng cái thiếu nhiều năm qua lại nằm ở chỗ khác: nhiều tài nguyên mà chưa phải nơi nào cũng thành sản phẩm đủ sâu; nhiều điểm đến mà chưa phải nơi nào cũng giữ được khách lâu; nhiều câu chuyện mà chưa phải nơi nào cũng kể được bằng trải nghiệm sống động. Khách đến, đi một vòng, chụp vài tấm ảnh, ăn một bữa, rồi rời đi. Vốn quý có đó, nhưng chưa phải lúc nào cũng chuyển thành nguồn thu đủ để nuôi lại điểm đến.

Cần Thơ vẫn cho thấy vai trò cửa ngõ của du lịch miền Tây. Năm 2024, thành phố đón hơn 6 triệu lượt khách; dịp Tết Bính Ngọ 2026 đón gần 615.000 lượt, tổng thu khoảng 640 tỷ đồng. Nhưng đông khách chưa có nghĩa giữ được khách. Bến bãi đường sông còn hạn chế, hạ tầng du lịch chưa theo kịp, thiếu điểm vui chơi, mua sắm quy mô lớn; việc mở rộng mạng bay cũng vẫn là bài toán khó. Những nút thắt ấy tác động trực tiếp đến trải nghiệm và thời gian lưu trú của du khách.

Nhưng cũng chính ở Cần Thơ, có thể thấy nỗ lực làm phong phú thêm sản phẩm từ chất liệu văn hóa sống. Thành phố không chỉ đón khách bằng chợ nổi hay bến Ninh Kiều. Cuối năm 2025 đến đầu năm 2026, Cần Thơ tổ chức Lễ hội Văn hóa Sông nước Cần Thơ với chủ đề “Cần Thơ – Sắc màu sông nước”, như một sự kiện văn hóa – du lịch quy mô lớn để quảng bá nét đặc trưng sông nước của vùng và tạo điểm nhấn chào năm mới. Sang tháng 4/2026, thành phố tiếp tục tổ chức Lễ hội Bánh dân gian Nam Bộ lần thứ XIII, với các không gian bảo tồn bánh dân gian, quảng bá du lịch, kinh doanh ẩm thực, vui chơi giải trí, biểu diễn nghệ thuật và các hoạt động phục vụ khách tham quan. Những lễ hội như vậy không chỉ làm không khí du lịch sôi động hơn, mà còn trực tiếp tạo ra thêm điểm đến, thêm lý do để khách ở lại, thêm dịp để dịch vụ ăn uống, lưu trú, mua sắm và biểu diễn văn hóa cùng hưởng lợi.

Nhìn theo cách đó, lễ hội không còn là cuộc vui ngắn ngày. Nếu được tổ chức tốt, nó trở thành một phần của chuỗi sản phẩm du lịch. Một lễ hội bánh dân gian không chỉ tôn vinh ẩm thực, mà còn kéo theo gian hàng, nghệ nhân, hàng quà, dịch vụ ăn uống, các chương trình biểu diễn và dòng khách đi lại trong thành phố. Một lễ hội sông nước không chỉ để trình diễn bản sắc, mà còn mở ra cơ hội cho tour đường sông, không gian đi bộ, tiêu dùng buổi tối và quảng bá hình ảnh điểm đến. Đây chính là chỗ để thấy văn hóa bắt đầu tạo ra giá trị kinh tế bằng những hoạt động cụ thể, thay vì chỉ dừng ở lời giới thiệu về bản sắc.

Ở An Giang, nhịp du lịch đang hiện lên bằng những con số rõ ràng. Năm 2025, địa phương đón trên 24 triệu lượt khách. Năm 2026, tỉnh đặt mục tiêu đón 25 triệu lượt, trong đó khoảng 2 triệu khách quốc tế, tổng thu 70.000 tỷ đồng. Đi cùng những con số ấy là một hướng đi mới: làm du lịch theo chiều sâu, chuyên nghiệp hơn trong không gian sau hợp nhất. Từ thế mạnh tâm linh Thất Sơn – Núi Sam đến biển đảo Hà Tiên – Phú Quốc, An Giang đang mở tuyến cho khách mới.

Cà Mau đang chọn cách đi chắc chắn hơn khi gắn di tích, sinh thái và cộng đồng vào cùng một chương trình hành động. UBND tỉnh ban hành Chương trình về phát triển du lịch bền vững giai đoạn 2026 – 2030, đặt ra các việc cụ thể như hoàn thiện tuyến, điểm du lịch thành chương trình hàng năm “Điểm đến Cà Mau”, nâng cấp hạ tầng, đào tạo nhân lực, quảng bá gắn với sản phẩm, phát huy vai trò cộng đồng. Dịp Tết Bính Ngọ 2026, Cà Mau đón 500.000 lượt khách, tổng thu ước 36 tỷ đồng. Những con số ấy cho thấy du lịch đã bắt đầu tạo giá trị thực.

Có thể nhận ra một điều khá rõ: nơi nào còn nhịp sống thật, nơi đó còn sức hút. Chợ nổi chỉ hấp dẫn khi còn là chợ, còn ghe hàng, còn tiếng rao, còn sự tất bật của mua bán thật. Làng nghề chỉ giữ được khách khi còn người bám nghề, còn sản phẩm làm ra trước mắt du khách. Điểm cộng đồng chỉ có sức sống khi người dân trong vùng không đứng ngoài cuộc, mà tham gia vào cả chuỗi dịch vụ, từ đón khách, nấu ăn, kể chuyện đến bán hàng. Đó là lúc văn hóa không còn đứng ngoài phát triển. Nó đi thẳng vào sinh kế, vào doanh thu, vào sức bền của điểm đến.

Chùa Khmer tại khu vực Đồng bằng sông Cửu Long.

Nối điểm đến, nối nhịp sống
Miền Tây giờ có điều kiện để nối những điểm đến từng rời nhau thành những hành trình dài hơi hơn. Nhưng đất rộng hơn hay sản phẩm nhiều hơn không có nghĩa du lịch tự khởi sắc. Nếu vẫn làm theo lối cũ, sản phẩm nơi nào cũng giống nơi nào, khách đi một vòng đã thấy quen, thì rất khó giữ người ta ở lại lâu hơn. Với du lịch, điều quyết định không phải địa giới đổi ra sao, mà là hành trình có đủ nhịp hay không, có đủ lý do để khách ở lại hay không, có đủ mắt xích để tạo thêm chi tiêu hay không.

Thị trường đang mở ra một cơ hội rõ rệt. Tháng 1/2026, Việt Nam đón gần 2,5 triệu lượt khách quốc tế, mức cao nhất từ trước tới nay trong một tháng. Nhưng khách ở lại đâu lâu hơn, chi tiêu ở đâu nhiều hơn, lại tùy vào chất lượng sản phẩm. Nơi dịch vụ đứt quãng, trải nghiệm mờ nhạt sẽ khó cạnh tranh bằng điểm đến có hành trình rõ, giữ chân tốt hơn. Và với miền Tây, áp lực ấy cũng là cơ hội: nếu biết tổ chức lại vốn văn hóa sống thành sản phẩm du lịch cụ thể, vùng này có thể bước ra khỏi cách quảng bá cũ vốn quen kể về “sông nước”, “miệt vườn”, “mến khách” nhưng chưa phải lúc nào cũng đủ sức cạnh tranh.

Muốn đi đường dài, miền Tây không thể chỉ dựa vào cảnh quan. Chợ nổi phải là chợ nổi còn sống, chứ không chỉ là cảnh nhìn từ ghe du lịch. Không gian Khmer phải là trải nghiệm có thuyết minh, có ứng xử văn minh, có sản phẩm đi kèm, chứ không chỉ là điểm ghé qua chụp ảnh. Làng nghề phải là nơi còn người làm nghề, còn quy trình sản xuất, còn món hàng khách cầm về được, chứ không chỉ là vài thao tác trình diễn. Di tích phải có câu chuyện, có đường vào, có bảng chỉ dẫn, có dịch vụ tối thiểu. Du lịch cộng đồng phải để người dân làm chủ, không chỉ làm nền cho tour. Những đòi hỏi ấy nghe giản dị, nhưng chính là chỗ quyết định giá trị từ du lịch có ở lại với người dân địa phương hay không.

Vì thế, bài toán của du lịch miền Tây năm 2026 không nên nói bằng những khẩu hiệu quá lớn. Nó cần được kéo về những việc nhìn thấy được. Trước hết là làm rõ từng cụm sản phẩm văn hóa nào thật sự có thể bán được và giữ khách được. Kế đến là đầu tư cho những mắt xích thường bị xem nhẹ nhưng lại quyết định toàn bộ trải nghiệm: bến bãi, giao thông kết nối, nhà vệ sinh, biển chỉ dẫn, thanh toán số, an toàn, nhân lực phục vụ. Sau cùng là để người dân hưởng lợi thực chất. Nếu người dân không sống được cùng văn hóa của mình, rất khó nói tới phát triển bền vững. Tinh thần này phù hợp trực tiếp với yêu cầu của Nghị quyết 80 về đưa văn hóa vào phát triển, phát triển du lịch giàu bản sắc và gắn với đời sống xã hội.

Sau cùng, điều quan trọng là làm sao để tinh thần của nghị quyết được thể hiện bằng những đổi thay cụ thể trong đời sống du lịch. Đó là chuyện làm sao để chợ còn họp, ghe còn chở hàng, lò nghề còn đỏ lửa, người dân còn muốn bám nghề, điểm đến còn giữ được nhịp riêng và du khách còn thấy đáng quay lại.

Miền Tây không thiếu chất liệu để làm du lịch. Cái cần hơn là biến chất liệu ấy thành sản phẩm thật, dịch vụ thật, trải nghiệm thật. Nó hiện ra trong gian bếp có khách ngồi chờ bữa trưa, trong cửa hàng nhỏ còn bán được món quà mang về, trong homestay còn sáng đèn vì có khách ngủ lại, và trong giá trị du lịch ở lại lâu hơn trên chính mảnh đất làm ra bản sắc ấy.

Trưng bày “Lẩu mắm lớn nhất Việt Nam” tại sự kiện “Hương rừng U Minh”, tỉnh Cà Mau.

Trọng Nguyễn