Trước đây cũng như hiện nay, các thế lực thù địch luôn tìm mọi thủ đoạn nhằm chống phá, xuyên tạc nền tảng tư tưởng của Đảng. Chúng tập trung công kích chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh để làm suy giảm niềm tin của Nhân dân, tiến tới phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng. Trong bối cảnh đó, việc tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng không chỉ là nhiệm vụ cấp bách trước mắt mà còn mang ý nghĩa chiến lược, lâu dài đối với mỗi cán bộ, đảng viên.

Giá trị nền tảng tư tưởng cốt lõi của Đảng đối với cách mạng Việt Nam
Trong quá trình bôn ba tìm đường cứu nước, Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh đã tiếp cận, khảo cứu nhiều học thuyết, trào lưu tư tưởng khác nhau về giải phóng dân tộc và giải phóng con người. Trên cơ sở tổng kết thực tiễn phong trào cách mạng thế giới và thực tiễn Việt Nam, Người đi đến khẳng định mang tính bước ngoặt: “Bây giờ học thuyết nhiều, chủ nghĩa nhiều, nhưng chủ nghĩa chân chính nhất, chắc chắn nhất, cách mệnh nhất là chủ nghĩa Lênin”¹. Đây không chỉ là sự lựa chọn về mặt lý luận mà còn là sự lựa chọn có tính lịch sử, đặt nền móng tư tưởng cho con đường cách mạng Việt Nam.
Sau khi trở về nước, Hồ Chí Minh đã vận dụng một cách sáng tạo và phát triển chủ nghĩa Mác – Lênin phù hợp với điều kiện cụ thể của Việt Nam, trực tiếp lãnh đạo phong trào cách mạng, tập hợp và tổ chức lực lượng quần chúng đứng lên đấu tranh giành chính quyền. Thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945 đã đập tan ách thống trị của thực dân Pháp và phát xít Nhật, khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa – nhà nước công nông đầu tiên ở Đông Nam Á, mở ra kỷ nguyên độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội.
Trong giai đoạn 1945 – 1975, dưới sự lãnh đạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, việc kiên định và vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin tiếp tục được khẳng định là nhân tố quyết định mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam. Nhân dân ta đã lần lượt giành thắng lợi trong hai cuộc kháng chiến trường kỳ chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, hoàn thành sự nghiệp giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước, đưa cả nước bước vào thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội.
Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời năm 1930 là kết quả tất yếu của sự kết hợp giữa chủ nghĩa Mác – Lênin với phong trào công nhân và phong trào yêu nước Việt Nam. Ngay từ khi thành lập và trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng luôn kiên định lấy chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho mọi đường lối, chủ trương và hành động. Sự kiên định đó không mang tính giáo điều, mà luôn được bổ sung, phát triển phù hợp với thực tiễn cách mạng từng thời kỳ.
Đặc biệt, bước vào thời kỳ đổi mới, tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI (1986), Đảng đã thể hiện rõ bản lĩnh chính trị và tư duy đổi mới khi nhấn mạnh quyết tâm “giương cao ngọn cờ chủ nghĩa Mác – Lênin, tiến bước theo con đường do Chủ tịch Hồ Chí Minh vạch ra, động viên toàn Đảng, toàn dân, toàn quân phấn đấu vì độc lập, tự do và chủ nghĩa xã hội”. Trong bối cảnh tình hình thế giới có nhiều biến động phức tạp, nhất là sự khủng hoảng và thoái trào của chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô và Đông Âu, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII của Đảng (1991) vẫn nhất quán khẳng định: “lấy chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động”, qua đó thể hiện rõ sự kiên định về mục tiêu, lý tưởng và con đường phát triển của cách mạng Việt Nam.
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII của Đảng (1996) tiếp tục khẳng định nhất quán vai trò nền tảng tư tưởng của chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, đồng thời nhấn mạnh yêu cầu tăng cường công tác tư tưởng trong bối cảnh tình hình có nhiều biến động phức tạp. Đại hội chỉ rõ: “Ở những bước ngoặt của cách mạng, trước những diễn biến phức tạp của tình hình, Đảng kịp thời có định hướng tư tưởng chính trị đúng đắn, uốn nắn những nhận thức lệch lạc, chống những luận điệu thù địch, tạo cơ sở cho sự thống nhất tư tưởng trong toàn Đảng và trong nhân dân”⁴. Đây là sự khẳng định vai trò đặc biệt quan trọng của công tác tư tưởng trong việc giữ vững trận địa chính trị – tư tưởng của Đảng.
Tiếp đó, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng (2001) một lần nữa nhấn mạnh quyết tâm chính trị và con đường phát triển của dân tộc khi khẳng định: “Đảng và nhân dân ta quyết tâm xây dựng đất nước Việt Nam theo con đường xã hội chủ nghĩa trên nền tảng chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh”⁵. Quan điểm này thể hiện sự kiên định về mục tiêu lý tưởng, đồng thời là sự lựa chọn có tính tất yếu lịch sử và phù hợp với quy luật phát triển của cách mạng Việt Nam.
Đến Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, thông qua Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011), Đảng tiếp tục khẳng định rõ ràng và đầy đủ hơn: “Đảng lấy chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động”. Đây không chỉ là sự kế thừa mà còn là bước phát triển về nhận thức lý luận, thể hiện sự nhất quán trong tư duy chiến lược của Đảng.
Tại Đại hội XII (2016), Đảng nhấn mạnh yêu cầu kiên định gắn liền với vận dụng sáng tạo và phát triển phù hợp với thực tiễn Việt Nam; đến Đại hội XIII (2021), quan điểm này tiếp tục được bổ sung, làm rõ hơn trong điều kiện đất nước hội nhập sâu rộng và thế giới có nhiều biến động nhanh chóng, phức tạp. Đặc biệt, tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV (2026), trong tổng kết 40 năm đổi mới, Đảng một lần nữa khẳng định bài học có tính nguyên tắc: “Kiên định và vận dụng, phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh”⁷. Đây được xem là yếu tố có ý nghĩa quyết định bảo đảm cho sự ổn định chính trị, định hướng phát triển đúng đắn của đất nước trong mọi hoàn cảnh.
Gần đây, ngày 25/3/2026, tại phiên bế mạc Hội nghị lần thứ 2 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV, yêu cầu tiếp tục quán triệt sâu sắc và thực hiện nghiêm túc, nhất quán “Bốn kiên định” về chính trị, tư tưởng đã được đặt ra. Trong đó, trước hết là kiên định, vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Đây chính là cơ sở nền tảng để Đảng giữ vững bản chất cách mạng, trung thành với những nguyên lý cốt lõi, đồng thời không ngừng bổ sung, phát triển phù hợp với thực tiễn sinh động của đất nước và yêu cầu của thời đại mới.
Thực tiễn gần 40 năm đổi mới đã chứng minh rằng, dù tình hình thế giới có nhiều biến động sâu sắc, phức tạp, song Đảng ta vẫn kiên định nền tảng tư tưởng, đồng thời vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh phù hợp với điều kiện cụ thể của Việt Nam. Nhờ đó, cách mạng Việt Nam đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử trên nhiều lĩnh vực: kinh tế tăng trưởng ổn định, đời sống Nhân dân không ngừng được cải thiện, vị thế và uy tín quốc tế của đất nước ngày càng được nâng cao.
Những thành tựu đó là minh chứng thực tiễn sinh động, có sức thuyết phục cao, khẳng định tính đúng đắn, khoa học và cách mạng của việc lựa chọn chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng cốt lõi của Đảng. Đồng thời, cũng qua đó khẳng định giá trị bền vững, tầm vóc to lớn và ý nghĩa thời đại của hệ tư tưởng này đối với sự nghiệp cách mạng Việt Nam trong hiện tại và tương lai.
Nhận diện và phản bác các luận điểm sai trái, thù địch, xuyên tạc nền tảng tư tưởng cốt lõi của Đảng
Ngay từ khi ra đời năm 1848, chủ nghĩa Mác (sau này được V.I. Lênin bổ sung, phát triển thành chủ nghĩa Mác – Lênin) đã trở thành đối tượng chống phá quyết liệt của các thế lực phản động, cơ hội chính trị. Những luận điệu xuyên tạc đó thường tập trung vào một số vấn đề cốt lõi.
Trước hết, về tính khoa học và cách mạng, các đối tượng này cho rằng C. Mác, Ph. Ăngghen và V.I. Lênin là những nhà tư tưởng duy tâm, siêu hình, không tưởng; học thuyết Mác chỉ là sự sao chép giản đơn từ chủ nghĩa xã hội không tưởng Pháp, kinh tế chính trị học tư sản cổ điển Anh và triết học cổ điển Đức, mang tính chắp vá, chủ quan và áp đặt. Đây là sự xuyên tạc có chủ đích, thiếu căn cứ khoa học. Thực chất, chủ nghĩa Mác – Lênin là kết quả của quá trình tổng kết sâu sắc thực tiễn lịch sử và kế thừa có chọn lọc tinh hoa trí tuệ nhân loại, được khái quát bằng tư duy lý luận sắc bén và năng lực khoa học kiệt xuất của C. Mác, Ph. Ăngghen và V.I. Lênin. Chính trên cơ sở đó, các ông đã tạo ra bước ngoặt cách mạng trong lịch sử tư tưởng nhân loại, xác lập một thế giới quan và phương pháp luận khoa học để nhận thức và cải tạo hiện thực. Thực tiễn lịch sử đã chứng minh rằng, chỉ với những bộ óc vĩ đại, gắn lý luận với thực tiễn phong trào cách mạng, mới có thể đáp ứng được yêu cầu khách quan của thời đại.
Thứ hai, về vai trò và tính phù hợp của chủ nghĩa Mác – Lênin đối với cách mạng Việt Nam, các thế lực thù địch cho rằng học thuyết này chỉ thích hợp với các nước tư bản phát triển ở châu Âu, không phù hợp với các quốc gia phương Đông, trong đó có Việt Nam; từ đó quy kết việc vận dụng chủ nghĩa Mác – Lênin vào Việt Nam là khiên cưỡng, áp đặt và xa lạ với truyền thống dân tộc. Nhận định này là phiến diện và sai lầm. Bởi lẽ, chủ nghĩa Mác – Lênin không chỉ chỉ ra những quy luật vận động chung của lịch sử loài người mà còn nhấn mạnh yêu cầu phải vận dụng sáng tạo các quy luật đó phù hợp với điều kiện cụ thể của từng quốc gia, dân tộc. Bản thân các nhà kinh điển cũng không coi lý luận của mình là bất biến, trái lại luôn khẳng định cần được bổ sung, phát triển trong thực tiễn lịch sử. V.I. Lênin từng chỉ rõ: lý luận của Mác không phải là một hệ thống đóng kín, mà là nền tảng để tiếp tục phát triển cùng với sự vận động của đời sống.
Từ góc độ thực tiễn Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin một cách phù hợp với đặc điểm lịch sử, văn hóa và điều kiện cụ thể của dân tộc. Người đặc biệt nhấn mạnh yêu cầu kết hợp những nguyên lý phổ biến của chủ nghĩa Mác – Lênin với “cơ sở lịch sử” cụ thể của mỗi quốc gia. Hồ Chí Minh chỉ rõ rằng học thuyết của Mác được hình thành trong bối cảnh châu Âu, vì vậy khi vận dụng vào các nước thuộc địa, nửa phong kiến như Việt Nam cần có sự chọn lọc, bổ sung và phát triển. Chính nhờ sự vận dụng sáng tạo đó mà cách mạng Việt Nam đã tìm ra con đường đúng đắn, giành được những thắng lợi có ý nghĩa lịch sử.
Thứ ba, về ý nghĩa thời đại, các thế lực thù địch cho rằng chủ nghĩa Mác – Lênin ra đời trong bối cảnh thế kỷ XIX, gắn với nền sản xuất cơ khí của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ nhất, nên không còn phù hợp trong thời đại ngày nay, khi nhân loại bước vào cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư, với sự phát triển mạnh mẽ của kinh tế tri thức, kinh tế số và toàn cầu hóa. Tuy nhiên, cần khẳng định rằng chủ nghĩa Mác – Lênin là hệ thống lý luận thuộc lĩnh vực khoa học xã hội và nhân văn, có đặc trưng kế thừa và phát triển, không bị thay thế một cách cơ học như các tri thức thuần túy kỹ thuật – công nghệ. Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác – Lênin về sự vận động của xã hội, về quan hệ giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất, về bản chất của chủ nghĩa tư bản… vẫn giữ nguyên giá trị phương pháp luận và ý nghĩa thời đại.
Thực tiễn hiện đại cho thấy, dù lực lượng sản xuất và khoa học – công nghệ phát triển mạnh mẽ, song những mâu thuẫn cơ bản của chủ nghĩa tư bản không những không mất đi mà còn biểu hiện sâu sắc hơn. Đó là mâu thuẫn giữa tư bản và lao động, tình trạng bất bình đẳng gia tăng, khoảng cách giàu – nghèo ngày càng lớn, phân phối của cải thiếu công bằng, thất nghiệp và nhiều vấn đề xã hội phức tạp khác. Những biểu hiện này tiếp tục khẳng định tính đúng đắn của những luận điểm cơ bản trong học thuyết Mác – Lênin.
Bên cạnh đó, thực tiễn cải cách, mở cửa ở Trung Quốc từ năm 1978 và công cuộc đổi mới ở Việt Nam từ năm 1986 đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử, được cộng đồng quốc tế ghi nhận. Những thành tựu này là minh chứng sinh động cho việc kiên định, đồng thời vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin phù hợp với điều kiện cụ thể của mỗi quốc gia. Điều đó càng khẳng định giá trị bền vững, sức sống và ý nghĩa thời đại sâu sắc của chủ nghĩa Mác – Lênin trong bối cảnh thế giới đương đại.
Đối với tư tưởng Hồ Chí Minh, các thế lực thù địch thường triển khai hoạt động xuyên tạc, chống phá theo hai khuynh hướng đối lập nhưng cùng chung mục đích phủ nhận giá trị và vai trò của hệ tư tưởng này:
Một là, tìm cách hạ thấp, phủ nhận giá trị độc lập, sáng tạo của tư tưởng Hồ Chí Minh. Theo đó, họ cho rằng Hồ Chí Minh chỉ đơn thuần lặp lại hoặc sao chép tư tưởng của C. Mác, Ph. Ăngghen, V.I. Lênin và một số nhà tư tưởng khác, không có đóng góp lý luận riêng; nếu có thì cũng chỉ dừng lại ở những quan điểm rời rạc trên một vài lĩnh vực cụ thể, chưa đủ tầm để hình thành một hệ thống tư tưởng hoàn chỉnh. Đây là cách nhìn phiến diện, cố tình phủ nhận quá trình phát triển sáng tạo lý luận của Hồ Chí Minh trong điều kiện lịch sử cụ thể của Việt Nam và thời đại.
Hai là, tuyệt đối hóa, tách rời và đối lập tư tưởng Hồ Chí Minh với chủ nghĩa Mác – Lênin. Một số quan điểm sai trái cho rằng Hồ Chí Minh thực chất chỉ là một nhà tư tưởng dân tộc chủ nghĩa, bởi phần lớn hoạt động và tư tưởng của Người tập trung vào mục tiêu giải phóng dân tộc, không đặt trọng tâm vào vấn đề giải phóng giai cấp và giải phóng con người theo nghĩa rộng. Từ đó, họ xuyên tạc rằng tư tưởng Hồ Chí Minh không thuộc hệ tư tưởng Mác – Lênin, thậm chí đối lập với chủ nghĩa Mác – Lênin. Đây là luận điệu nguy hiểm, nhằm chia rẽ nền tảng tư tưởng của Đảng, làm suy yếu sự thống nhất về nhận thức và hành động.
Cả hai khuynh hướng trên đều sai lầm về bản chất. Thực tiễn và lý luận đã khẳng định rằng tư tưởng Hồ Chí Minh là sự vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin trong điều kiện lịch sử cụ thể của Việt Nam. Trên nền tảng thế giới quan và phương pháp luận của chủ nghĩa Mác – Lênin, Hồ Chí Minh đã kết hợp một cách nhuần nhuyễn với truyền thống yêu nước, nhân nghĩa của dân tộc, đồng thời tiếp thu có chọn lọc tinh hoa văn hóa nhân loại, từ đó hình thành nên một hệ thống tư tưởng toàn diện, sâu sắc về cách mạng Việt Nam.
Điểm nổi bật trong tư tưởng Hồ Chí Minh là sự thống nhất giữa tính khoa học và tính cách mạng, giữa lý luận và thực tiễn, giữa mục tiêu giải phóng dân tộc với giải phóng giai cấp và giải phóng con người. Chủ nghĩa Mác – Lênin, thông qua tư duy và hoạt động thực tiễn của Người, không còn là những luận điểm trừu tượng, giáo điều, mà được cụ thể hóa thành hệ thống quan điểm chỉ đạo cách mạng một cách linh hoạt, sáng tạo và hiệu quả. Chính hệ thống tư tưởng đó đã trực tiếp soi đường, dẫn dắt cách mạng Việt Nam đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác, khẳng định giá trị bền vững cả về lý luận và thực tiễn.
Khái quát tình hình bảo vệ nền tảng tư tưởng cốt lõi của Đảng
Công cuộc bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong thời gian qua diễn ra trong bối cảnh có nhiều thuận lợi cơ bản, tạo điều kiện quan trọng để củng cố niềm tin và tăng cường sức mạnh tổng hợp của toàn xã hội.
Một là, những thành tựu nổi bật về phát triển kinh tế – xã hội trong những năm qua đã khẳng định tính đúng đắn của đường lối đổi mới và định hướng xã hội chủ nghĩa mà Đảng ta lựa chọn. Tăng trưởng kinh tế duy trì ở mức hợp lý, cơ cấu kinh tế chuyển dịch tích cực, đời sống vật chất và tinh thần của Nhân dân không ngừng được cải thiện. Cùng với đó, các chính sách bảo đảm tiến bộ và công bằng xã hội ngày càng được chú trọng, góp phần thu hẹp khoảng cách phát triển, nâng cao chất lượng cuộc sống. Thực tiễn này là minh chứng thuyết phục, bác bỏ những quan điểm hoài nghi, xuyên tạc về con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Đồng thời cũng cho thấy, trong tiến trình phát triển, khó khăn và thách thức là tất yếu, song không thể vì những trở ngại trước mắt mà phủ nhận con đường phát triển đúng đắn đã được lịch sử và thực tiễn kiểm nghiệm.
Hai là, tình hình chính trị – xã hội ổn định, quốc phòng – an ninh được giữ vững, dân trí ngày càng được nâng cao, các quyền tự do, dân chủ của Nhân dân ngày càng được bảo đảm và phát huy. Quá trình xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, cùng với việc mở rộng dân chủ trong Đảng và trong xã hội, đã tạo điều kiện để Nhân dân tham gia ngày càng sâu rộng vào đời sống chính trị – xã hội. Những thành quả này phù hợp với bản chất tiến bộ của chế độ xã hội chủ nghĩa, đồng thời thể hiện sinh động việc hiện thực hóa những giá trị cốt lõi về tự do, dân chủ, công bằng mà chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh đã đặt ra. Đây chính là nền tảng vững chắc để củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc và bảo đảm sự ổn định, phát triển bền vững của đất nước.
Ba là, truyền thống yêu nước, tinh thần trách nhiệm xã hội và ý thức cộng đồng của Nhân dân Việt Nam tiếp tục được phát huy mạnh mẽ trong điều kiện mới. Nhân dân không chỉ quan tâm đến quyền lợi chính đáng của bản thân mà còn nhận thức rõ trách nhiệm, nghĩa vụ công dân đối với xã hội và đất nước. Tinh thần tương thân, tương ái, sẻ chia với những người có hoàn cảnh khó khăn, yếu thế trong xã hội được lan tỏa rộng rãi, trở thành giá trị đạo đức bền vững. Đây là nguồn lực tinh thần to lớn, góp phần củng cố niềm tin xã hội, tăng cường sự đồng thuận và thống nhất trong toàn dân. Những giá trị này có sự tương đồng sâu sắc với tinh thần nhân văn, nhân đạo của chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh.
Bốn là, quá trình hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng đã mở ra nhiều cơ hội quan trọng cho sự phát triển của đất nước. Việt Nam có điều kiện tiếp cận, học hỏi kinh nghiệm quốc tế, tiếp thu các giá trị tiến bộ và tinh hoa văn hóa của nhân loại, đồng thời quảng bá hình ảnh, nâng cao vị thế và uy tín trên trường quốc tế. Truyền thống văn hóa Việt Nam với đặc trưng giàu bản sắc, cởi mở, linh hoạt và giàu tính bao dung đã tạo điều kiện thuận lợi để tiếp biến các giá trị mới mà không đánh mất bản sắc dân tộc. Trong bối cảnh đó, chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh tiếp tục được khẳng định là nền tảng tư tưởng vững chắc, có khả năng thích ứng và phát triển trong điều kiện hội nhập, gắn kết hài hòa giữa giá trị dân tộc và giá trị thời đại.
Bên cạnh những thuận lợi cơ bản, công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng hiện nay cũng đang phải đối mặt với không ít khó khăn, thách thức, đặt ra yêu cầu ngày càng cao đối với toàn hệ thống chính trị:
Một là, niềm tin của một bộ phận Nhân dân đối với Đảng và chế độ có biểu hiện suy giảm. Nguyên nhân trực tiếp và chủ yếu của tình trạng này xuất phát từ những hạn chế trong công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, đặc biệt là sự tồn tại của chủ nghĩa cá nhân, tham nhũng, lợi ích nhóm. Tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên vẫn chưa được ngăn chặn, đẩy lùi triệt để; thậm chí ở một số nơi còn diễn biến tinh vi, phức tạp hơn. Tham nhũng, lãng phí, tiêu cực vẫn diễn ra nghiêm trọng, nhất là trong một bộ phận cán bộ có chức vụ, quyền hạn trong bộ máy nhà nước. Những hạn chế, khuyết điểm này không chỉ làm suy giảm hiệu lực, hiệu quả lãnh đạo của Đảng mà còn tác động tiêu cực đến tình cảm, niềm tin của Nhân dân, trở thành nguy cơ trực tiếp đe dọa uy tín, vai trò cầm quyền của Đảng và sự ổn định, phát triển của chế độ.
Hai là, trong một bộ phận cán bộ, đảng viên đã xuất hiện biểu hiện lơi lỏng, thậm chí xem nhẹ công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng. Ở một số nơi, còn tồn tại khuynh hướng đề cao một chiều mục tiêu tăng trưởng kinh tế, trong khi chưa quan tâm đúng mức đến nhiệm vụ củng cố, bảo vệ nền tảng tư tưởng. Tính chiến đấu trên mặt trận tư tưởng, lý luận chưa được phát huy tương xứng; tâm lý né tránh, ngại va chạm trong đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái vẫn còn tồn tại. Một số người có biểu hiện coi nhẹ vai trò của lý luận, tuyệt đối hóa thực tiễn mà chưa nhận thức đầy đủ rằng lý luận và thực tiễn có mối quan hệ biện chứng, thống nhất, tác động qua lại lẫn nhau; lý luận đúng đắn là cơ sở để định hướng và nâng cao hiệu quả thực tiễn.
Ba là, hoạt động chống phá của các thế lực thù địch, phản động ngày càng tinh vi, phức tạp và đa dạng về phương thức, thủ đoạn. Nếu như trước đây, các đối tượng chủ yếu sử dụng các hình thức xuyên tạc trực diện, phủ nhận nền tảng tư tưởng của Đảng hoặc bôi nhọ cá nhân các nhà kinh điển, lãnh tụ, thì hiện nay, bên cạnh những phương thức cũ, chúng gia tăng tấn công trên phương diện lý luận với mức độ sâu hơn, có hệ thống hơn. Nhiều tài liệu, bài viết dài, sử dụng cách tiếp cận và hệ quy chiếu phương Tây, được trình bày dưới vỏ bọc “khoa học”, “khách quan” nhằm tạo sự hoài nghi, dao động về nhận thức. Đồng thời, thông qua việc du nhập, truyền bá có chọn lọc một số học thuyết, quan điểm mới, các thế lực này tìm cách “pha loãng”, từng bước làm suy giảm vai trò của hệ tư tưởng chính thống, tiến tới làm thay đổi nền tảng tư tưởng của xã hội.
Những khó khăn, thách thức nêu trên đòi hỏi phải nhận diện đầy đủ, đánh giá đúng mức và có giải pháp đồng bộ, hiệu quả nhằm tiếp tục củng cố, bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng trong tình hình mới.
Một số giải pháp tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng cốt lõi của Đảng:
Thứ nhất, đẩy mạnh công tác giáo dục, tuyên truyền gắn với nghiên cứu, phát triển chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Công tác giáo dục, tuyên truyền nhằm bảo vệ và khẳng định tính khoa học, cách mạng của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh cần được triển khai một cách bài bản, hệ thống, có chiều sâu, với nội dung và hình thức phong phú, linh hoạt, phù hợp với từng đối tượng, từng địa bàn và điều kiện cụ thể. Đặc biệt, cần chú trọng đến thế hệ trẻ, lực lượng kế cận, chủ nhân tương lai của đất nước, đồng thời là những người trực tiếp gánh vác sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong giai đoạn mới. Việc nâng cao nhận thức lý luận, củng cố bản lĩnh chính trị và niềm tin cho thế hệ trẻ có ý nghĩa chiến lược lâu dài đối với sự nghiệp cách mạng.
Nội dung tuyên truyền cần tập trung làm sáng tỏ những giá trị cốt lõi, bền vững của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; giúp cán bộ, đảng viên và Nhân dân hiểu đúng, hiểu sâu những nguyên lý cơ bản, tránh rơi vào nhận thức phiến diện hoặc bị tác động bởi các quan điểm sai trái, thù địch. Đồng thời, cần đổi mới phương thức tuyên truyền theo hướng hiện đại, tận dụng hiệu quả các nền tảng truyền thông số, tăng tính tương tác, hấp dẫn, qua đó mở rộng phạm vi và nâng cao hiệu quả lan tỏa trong toàn xã hội.
Bên cạnh đó, cần đặc biệt coi trọng công tác nghiên cứu, bổ sung và phát triển chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong điều kiện mới. Thực tiễn luôn vận động, biến đổi không ngừng, đặt ra nhiều vấn đề mới cả về lý luận và thực tiễn, đòi hỏi phải được giải đáp kịp thời, thấu đáo. Vì vậy, việc phát triển lý luận không chỉ là yêu cầu khách quan mà còn là điều kiện để giữ vững sức sống, giá trị và vai trò định hướng của nền tảng tư tưởng của Đảng. Thông qua quá trình nghiên cứu, tổng kết thực tiễn và phát triển lý luận, chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh tiếp tục được bổ sung, hoàn thiện, qua đó nâng cao năng lực dự báo, khả năng định hướng và sức thuyết phục trong đời sống xã hội.
Thứ hai, kiên quyết đấu tranh chống các quan điểm sai trái, thù địch; bảo vệ tính khoa học, cách mạng và trong sáng của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Trong bối cảnh hiện nay, các hoạt động chống phá của các thế lực thù địch đối với chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh ngày càng đa dạng, tinh vi, biến đổi linh hoạt theo từng thời điểm và điều kiện cụ thể. Vì vậy, để nâng cao hiệu quả đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, trước hết cần nhận diện đầy đủ, chính xác mục tiêu, âm mưu, thủ đoạn, lực lượng và phương tiện mà các đối tượng phản động, cơ hội chính trị sử dụng. Trên cơ sở đó, xây dựng các giải pháp đấu tranh phù hợp, chủ động, kịp thời và có trọng tâm, trọng điểm.
Một yêu cầu có tính nguyên tắc là phải luôn đề cao cảnh giác cách mạng, coi trọng công tác bảo vệ chính trị nội bộ; kiên quyết ngăn chặn, đẩy lùi tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống trong một bộ phận cán bộ, đảng viên. Thực tiễn cho thấy, các thế lực thù địch thường lợi dụng những sơ hở trong công tác tổ chức, quản lý; khai thác những biểu hiện suy thoái, tiêu cực, đặc biệt trong đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý, để thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, làm suy giảm sức chiến đấu và vai trò lãnh đạo của Đảng từ bên trong. Do đó, đấu tranh trên mặt trận tư tưởng phải gắn chặt với công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, bảo đảm sự trong sạch, vững mạnh về chính trị, tư tưởng, tổ chức và đạo đức.
Bên cạnh đó, cần chủ động nghiên cứu, nhận diện và đấu tranh với những biểu hiện cực đoan của một số trào lưu tư tưởng, học thuyết đang tác động đến đời sống chính trị – xã hội hiện nay, như chủ nghĩa tự do mới, chủ nghĩa dân tộc dân túy, chủ nghĩa bảo hộ, hay các biến tướng của chủ nghĩa đế quốc. Những quan điểm này, ở các mức độ khác nhau, đều có xu hướng tuyệt đối hóa một số yếu tố nhất định, như đề cao vai trò thị trường một cách cực đoan, coi nhẹ vai trò điều tiết của Nhà nước; hoặc kích động chủ nghĩa dân tộc hẹp hòi, gây chia rẽ, xung đột, ảnh hưởng đến hòa bình, ổn định và phát triển bền vững.
Tuy nhiên, trong quá trình đấu tranh, cần có cách tiếp cận khoa học, biện chứng và khách quan. Không chỉ dừng lại ở việc chỉ ra những điểm khác biệt, đối lập giữa chủ nghĩa Mác – Lênin với các học thuyết khác, mà còn cần nhận diện những yếu tố hợp lý, tiến bộ (nếu có) để phân tích, đối thoại và chọn lọc tiếp thu trên cơ sở giữ vững lập trường, quan điểm mácxít. Chính từ vị thế lý luận khoa học và cách mạng của chủ nghĩa Mác – Lênin, chúng ta có thể lý giải, phê phán một cách thuyết phục các quan điểm sai trái, đồng thời bổ sung, làm phong phú thêm hệ thống lý luận, đáp ứng yêu cầu của thực tiễn trong giai đoạn mới.
Đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng vì vậy không chỉ là nhiệm vụ mang tính phòng thủ, mà còn là quá trình chủ động tấn công về lý luận, góp phần củng cố niềm tin, nâng cao nhận thức và tăng cường sự thống nhất trong toàn Đảng và toàn xã hội.
Thứ ba, đổi mới nội dung, hình thức; nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác giáo dục, tuyên truyền về chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước trong toàn Đảng, toàn quân và toàn dân. Trong bối cảnh bùng nổ thông tin và sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ truyền thông hiện đại, công tác giáo dục, tuyên truyền cần được đổi mới toàn diện cả về nội dung lẫn phương thức triển khai. Nội dung tuyên truyền phải bảo đảm tính khoa học, tính hệ thống, tính cập nhật và tính thực tiễn, gắn chặt với những vấn đề mà đời sống xã hội đang đặt ra. Đồng thời, cần chú trọng nâng cao tính thuyết phục, tính định hướng và khả năng “miễn dịch” trước các thông tin sai lệch, xuyên tạc, góp phần củng cố niềm tin của cán bộ, đảng viên và Nhân dân đối với nền tảng tư tưởng của Đảng.
Về hình thức, cần đa dạng hóa các phương thức truyền tải theo hướng hiện đại, linh hoạt, phù hợp với từng nhóm đối tượng; đẩy mạnh ứng dụng công nghệ số, mạng xã hội và các nền tảng truyền thông mới nhằm mở rộng phạm vi tiếp cận, nâng cao hiệu quả lan tỏa. Việc kết hợp hài hòa giữa các phương thức truyền thống và hiện đại sẽ góp phần nâng cao chất lượng công tác tuyên truyền, đáp ứng yêu cầu của tình hình mới.
Thứ tư, xây dựng đội ngũ chuyên gia và tổ chức các tuyến bài đấu tranh, tuyên truyền có chất lượng, chiều sâu. Thực tiễn cho thấy, để nâng cao hiệu quả công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, bên cạnh việc đẩy mạnh tuyên truyền và nghiên cứu phát triển lý luận, cần đặc biệt chú trọng xây dựng đội ngũ cán bộ làm công tác tư tưởng, lý luận đủ về số lượng, mạnh về chất lượng, đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của tình hình mới. Đây là lực lượng nòng cốt, trực tiếp tham gia đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, đồng thời định hướng dư luận xã hội, củng cố niềm tin của Nhân dân đối với Đảng và chế độ.
Việc xây dựng đội ngũ này không chỉ dừng lại ở việc tăng cường về số lượng, mà quan trọng hơn là phải bảo đảm chất lượng toàn diện, cả về trình độ lý luận, năng lực nghiên cứu, tư duy phản biện, kỹ năng truyền thông và bản lĩnh chính trị vững vàng. Đội ngũ cán bộ lý luận cần có khả năng phát hiện sớm các vấn đề nảy sinh trong thực tiễn, chủ động tham gia lý giải, định hướng và đấu tranh trên mặt trận tư tưởng một cách kịp thời, sắc bén và thuyết phục.
Cùng với đó, cần tổ chức xây dựng các tuyến bài tuyên truyền, đấu tranh có hệ thống, có chiều sâu, mang tính định hướng cao trên các cơ quan báo chí, truyền thông và nền tảng số. Nội dung các tuyến bài cần bảo đảm tính khoa học, tính chiến đấu và tính thuyết phục; kết hợp chặt chẽ giữa lập luận lý luận với dẫn chứng thực tiễn; giữa phản bác quan điểm sai trái với việc khẳng định, làm rõ giá trị đúng đắn, bền vững của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Đồng thời, cần chú trọng đổi mới cách thức thể hiện theo hướng hiện đại, dễ tiếp cận, phù hợp với nhiều nhóm đối tượng, đặc biệt là giới trẻ.
Ngoài ra, cần có cơ chế phát hiện, đào tạo, bồi dưỡng và sử dụng hiệu quả đội ngũ chuyên gia, nhà khoa học, giảng viên lý luận chính trị, phóng viên, biên tập viên có năng lực, tâm huyết với công tác tư tưởng. Việc xây dựng lực lượng này phải gắn với cơ chế khuyến khích sáng tạo, bảo đảm môi trường học thuật lành mạnh, qua đó phát huy tối đa trí tuệ tập thể trong nghiên cứu, phát triển lý luận và đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng.
Thứ năm, lấy thực tiễn làm cơ sở kiểm nghiệm và bảo vệ lý luận; phát huy thành tựu đổi mới, phát triển kinh tế – xã hội, nâng cao đời sống Nhân dân như một minh chứng thuyết phục cho giá trị của nền tảng tư tưởng. Một trong những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác – Lênin là đề cao vai trò của thực tiễn. Như C. Mác đã khẳng định, vấn đề không chỉ dừng lại ở việc giải thích thế giới mà quan trọng hơn là cải tạo thế giới. Theo đó, giá trị và sức sống của một học thuyết không chỉ được thể hiện ở tính логic nội tại mà còn phải được kiểm nghiệm, chứng minh bằng hiệu quả thực tiễn. Một lý luận đúng đắn là lý luận có khả năng soi đường, dẫn dắt thực tiễn phát triển theo hướng tiến bộ.
Trong điều kiện cụ thể của Việt Nam, chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, với tư cách là nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho hành động của Đảng, ngày càng được khẳng định thông qua những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử của công cuộc đổi mới đất nước. Trên cơ sở vận dụng sáng tạo và phát triển phù hợp với thực tiễn, từ năm 1986 đến nay, Đảng đã lãnh đạo Nhân dân đạt được nhiều thành tựu toàn diện trên các lĩnh vực: kinh tế tăng trưởng ổn định, đời sống vật chất và tinh thần của Nhân dân được nâng cao rõ rệt; chính trị – xã hội ổn định; quốc phòng, an ninh được giữ vững; quan hệ đối ngoại được mở rộng; vị thế và uy tín quốc tế của Việt Nam không ngừng được nâng cao. Những kết quả đó khẳng định thực tế rằng con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam là đúng đắn và phù hợp với quy luật phát triển.
Từ nền tảng những thành tựu đã đạt được, trong thời gian tới, cần tiếp tục đẩy mạnh toàn diện, đồng bộ công cuộc đổi mới theo định hướng xã hội chủ nghĩa; phát triển kinh tế nhanh, bền vững, gắn với tiến bộ và công bằng xã hội; giữ vững ổn định chính trị – xã hội; không ngừng nâng cao đời sống Nhân dân; củng cố quốc phòng, an ninh; chủ động, tích cực hội nhập quốc tế sâu rộng. Chính những kết quả cụ thể, thiết thực đó sẽ là minh chứng sinh động, có sức thuyết phục cao nhất, góp phần củng cố niềm tin xã hội, đồng thời tạo cơ sở vững chắc để đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch.
Có thể khẳng định, thực tiễn phát triển của đất nước chính là “thước đo chân lý”, là cơ sở khách quan và hiệu quả nhất để bảo vệ, khẳng định và phát huy giá trị bền vững của chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh trong giai đoạn hiện nay.
Thứ sáu, kiên định, vận dụng đúng đắn và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh.
Kiên định chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh là nguyên tắc có tính sống còn đối với sự nghiệp cách mạng của Đảng và dân tộc. Tuy nhiên, kiên định không đồng nghĩa với bảo thủ, giáo điều, mà phải gắn liền với vận dụng linh hoạt và phát triển sáng tạo phù hợp với điều kiện thực tiễn luôn vận động, biến đổi. Như V.I. Lênin đã khẳng định, lý luận của Mác không phải là một hệ thống đóng kín, bất biến, mà là nền tảng khoa học cần được tiếp tục bổ sung, phát triển để đáp ứng yêu cầu của đời sống.
Do đó, việc kiên định trước hết phải thể hiện ở việc nắm vững bản chất khoa học và cách mạng của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; hiểu đúng, đầy đủ những nguyên lý cơ bản, đồng thời tránh rơi vào cách hiểu giản đơn, phiến diện hoặc máy móc. Trên cơ sở đó, cần vận dụng một cách sáng tạo vào thực tiễn cách mạng Việt Nam, gắn lý luận với điều kiện cụ thể của đất nước trong từng giai đoạn phát triển.
Trong bối cảnh hiện nay, khi tình hình thế giới và khu vực có nhiều biến động nhanh chóng, phức tạp, cùng với những yêu cầu mới của công cuộc đổi mới, hội nhập và phát triển, việc phát triển lý luận càng trở nên cấp thiết. Chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh chỉ có thể giữ vững sức sống và giá trị định hướng khi được bổ sung, phát triển trên cơ sở tổng kết thực tiễn, tiếp thu có chọn lọc tinh hoa trí tuệ nhân loại, đồng thời giải đáp kịp thời những vấn đề mới nảy sinh.
Thực tiễn cách mạng Việt Nam cho thấy, chính nhờ sự kiên định gắn liền với vận dụng và phát triển sáng tạo, Đảng ta đã đề ra những đường lối đúng đắn, đưa đất nước vượt qua nhiều khó khăn, thách thức và đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử. Điều đó tiếp tục khẳng định rằng, chỉ trên cơ sở kiên định nền tảng tư tưởng, đồng thời không ngừng đổi mới tư duy lý luận, chúng ta mới có thể bảo đảm sự phát triển bền vững, đúng định hướng xã hội chủ nghĩa trong giai đoạn hiện nay và tương lai.
Trong cuộc đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, chúng ta đã đạt được nhiều kết quả quan trọng, góp phần tiếp tục khẳng định bản chất khoa học và cách mạng của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đồng thời không ngừng củng cố, phát triển và giữ vững vai trò chủ đạo của hệ tư tưởng này trong đời sống tinh thần xã hội Việt Nam. Những thành tựu đó không chỉ thể hiện ở phương diện lý luận mà còn được kiểm chứng sinh động qua thực tiễn phát triển của đất nước.
Trong bối cảnh hiện nay, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng thực chất là bảo vệ đường lối, quan điểm lãnh đạo đúng đắn của Đảng trong tiến trình cách mạng; bảo vệ và phát triển lý luận về đường lối đổi mới; bảo vệ lợi ích tối cao của quốc gia, dân tộc; đồng thời giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để phát triển đất nước. Đây cũng là quá trình củng cố niềm tin, tăng cường sự thống nhất về ý chí và hành động trong toàn Đảng, toàn quân và toàn dân, tạo nên sức mạnh tổng hợp để đưa đất nước vững bước trên con đường đi lên chủ nghĩa xã hội.
Phát huy những kết quả đã đạt được, trong thời gian tới, cần tiếp tục kiên định, chủ động, sáng tạo trong đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng; kết hợp chặt chẽ giữa “xây” và “chống”, giữa bảo vệ và phát triển, giữa lý luận và thực tiễn. Chỉ trên cơ sở đó, chúng ta mới có thể giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa, củng cố vững chắc niềm tin của Nhân dân và bảo đảm cho sự phát triển bền vững của đất nước trong giai đoạn mới./.
TS.Nguyễn Tôn Phương Du, TS. Bùi Nghĩa/Học viện Chính trị khu vực II
Tài liệu tham khảo
1. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011, t. 2, tr. 289.
2. Văn kiện Đảng: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2006, t. 47, tr. 565.
3. Văn kiện Đảng: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2007, t. 51, tr. 29.
4. Văn kiện Đảng: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2015, t. 55, tr. 413.
5. Văn kiện Đảng: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2016, t. 60, tr. 129-130.
6. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, tr. 88.
7. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2026, t. 1, tr. 21.
8. V.I. Lênin: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2005, t. 4, tr. 232


