Sau khi thiết lập thế áp đảo từ miền Trung đến cửa ngõ Sài Gòn, cuộc kháng chiến chống Mỹ bước vào giai đoạn quyết định. Xuân Lộc trở thành điểm then chốt hội tụ các yếu tố quân sự, chính trị và tinh thần, buộc ta linh hoạt thay đổi cách đánh để phá vỡ ý đồ tử thủ của địch. Chiến thắng tại đây đã làm sụp đổ hệ thống phòng ngự của đối phương, mở đường cho Chiến dịch Hồ Chí Minh đi đến thắng lợi cuối cùng.

Bối cảnh chiến lược và vị trí “yết hầu” của Xuân Lộc
Sau những thất bại dây chuyền mang tính sụp đổ chiến lược của quân ngụy Sài Gòn tại Tây Nguyên và dải duyên hải miền Trung đầu năm 1975, toàn bộ hệ thống phòng thủ của Ngụy quyền rơi vào trạng thái rối loạn nghiêm trọng, tinh thần binh lính suy sụp, bộ máy chỉ huy lúng túng, bị động. Trong bối cảnh đó, chúng buộc phải gấp rút điều chỉnh thế trận, co cụm lực lượng, thiết lập tuyến phòng ngự chiều sâu nhằm bảo vệ khu vực trọng yếu Sài Gòn – Gia Định, trung tâm chính trị, quân sự cuối cùng của chế độ.
Trong thế bố trí phòng ngự này, Xuân Lộc (thuộc tỉnh Long Khánh) được xác định là “tuyến chốt chặn chiến lược” then chốt của địch ở cửa ngõ phía Đông Bắc Sài Gòn. Giới lãnh đạo và cố vấn quân sự Mỹ – Ngụy đặt kỳ vọng cực lớn vào vị trí này, coi đây là “lá chắn thép” với tuyên bố mang tính sống còn: “Giữ được Xuân Lộc là còn giữ được Sài Gòn”. Không chỉ mang ý nghĩa quân sự thuần túy, Xuân Lộc còn là điểm tựa tinh thần cuối cùng nhằm duy trì niềm tin đang lung lay của ngụy quyền Sài Gòn trước nguy cơ sụp đổ không thể đảo ngược.
Xét về địa – chiến lược, Xuân Lộc nằm trên nút giao thông huyết mạch giữa Quốc lộ 1 (trục Bắc – Nam) và Quốc lộ 20 (nối liền Tây Nguyên với Đông Nam Bộ), giữ vai trò kiểm soát các hướng cơ động quan trọng của lực lượng chủ lực Quân Giải phóng từ phía Bắc, Tây Nguyên và miền Trung tiến xuống. Đây là vị trí “yết hầu” có khả năng chi phối toàn bộ cục diện chiến trường phía Đông Sài Gòn. Một khi Xuân Lộc bị phá vỡ, toàn bộ hệ thống phòng ngự vòng ngoài của địch sẽ bị xé toang, mở ra hành lang chiến lược thuận lợi để các binh đoàn chủ lực của ta thọc sâu, đánh thẳng vào trung tâm đầu não của Ngụy quyền.
Nhận thức rõ tính chất sống còn đó, địch đã dồn về Xuân Lộc những lực lượng tinh nhuệ còn lại, xây dựng tại đây một hệ thống phòng thủ quy mô lớn, có chiều sâu, gồm các tuyến công sự kiên cố, hầm ngầm liên hoàn, trận địa pháo binh và thiết giáp được bố trí xen kẽ, tạo thành thế phòng ngự vững chắc nhiều tầng, nhiều lớp. Thị xã Xuân Lộc bị biến thành một “pháo đài tiền tiêu” với tham vọng trở thành “cánh cửa thép” không thể xuyên thủng, nhằm chặn đứng đà tiến công như vũ bão của quân ta.
Nòng cốt lực lượng phòng ngự là Sư đoàn 18 bộ binh của quân ngụy Sài Gòn, đơn vị được đánh giá còn khả năng chiến đấu tương đối cao trong bối cảnh chung đang suy yếu. Lực lượng này được tăng cường mạnh mẽ về hỏa lực với xe tăng, xe bọc thép, pháo binh cỡ lớn, cùng các đơn vị biệt động quân, dù và lực lượng tổng trừ bị. Đồng thời, địch còn dựa vào ưu thế không quân từ các căn cứ Biên Hòa và Tân Sơn Nhất để triển khai các đợt oanh kích, yểm trợ hỏa lực liên tục, tạo thành thế trận hỏa lực liên hoàn cả trên không và mặt đất. Hệ thống vật cản, bãi mìn, chướng ngại được bố trí dày đặc kết hợp với việc chiếm giữ các điểm cao khống chế xung quanh thị xã, nhằm ngăn chặn và làm tiêu hao lực lượng tiến công của ta ngay từ xa.
Vì vậy, trận Xuân Lộc không chỉ đơn thuần là một trận đánh địa phương mà mang đầy đủ tính chất của một trận quyết chiến chiến lược điển hình, có ý nghĩa quyết định đối với cục diện toàn bộ cuộc chiến. Đối với Ngụy quyền Sài Gòn, đây là nỗ lực quân sự cuối cùng nhằm cứu vãn tình thế, kéo dài thời gian, thậm chí tìm kiếm một giải pháp chính trị thông qua đàm phán trong thế còn “giữ được đất”. Ngược lại, đối với ta, việc tiêu diệt và làm tan rã cụm phòng ngự Xuân Lộc có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, là điều kiện tiên quyết để đập tan ý chí kháng cự cuối cùng của đối phương.
Việc phá vỡ “cánh cửa thép” Xuân Lộc không chỉ mang ý nghĩa giải phóng một địa bàn chiến lược, mà còn tạo ra hiệu ứng sụp đổ dây chuyền về tổ chức phòng ngự và tinh thần chiến đấu của địch trên toàn chiến trường Nam Bộ. Thắng lợi tại đây đã trực tiếp mở toang cánh cửa tiến vào Sài Gòn, tạo thế và lực quyết định cho các binh đoàn chủ lực của ta tiến hành đòn tiến công chiến lược cuối cùng, kết thúc thắng lợi cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước.
Tiến công trực diện và những diễn biến tại mặt trận
5 giờ 30 phút sáng ngày 9/4/1975, trong khuôn khổ chiến dịch tiến công Xuân Lộc, Quân đoàn 4 (Binh đoàn Cửu Long) với lực lượng chủ công gồm Sư đoàn 7 do đại tá Sư trưởng Lê Nam Phong chỉ huy và Sư đoàn 341 (Sư đoàn Sông Lam, Sư trưởng là ông Trần Văn Trân vừa được ngụy trao trả tù binh năm 1973 tại Thạch Hãn chỉ huy) đã đồng loạt nổ súng mở màn trận đánh. Trước giờ xung phong, pháo binh chiến dịch của ta tiến hành đợt hỏa lực chuẩn bị quy mô lớn, bắn cấp tập, dồn dập vào các mục tiêu trọng yếu như Sở chỉ huy Sư đoàn 18 quân ngụy Sài Gòn, các trận địa pháo binh, kho tàng và hệ thống thông tin liên lạc. Hỏa lực chính xác và mãnh liệt đã làm tê liệt một phần khả năng chỉ huy, hiệp đồng của địch, tạo điều kiện cho các đơn vị bộ binh và xe tăng nhanh chóng hình thành các mũi đột kích thọc sâu vào khu vực nội đô thị xã.
Ngay từ những giờ phút đầu, chiến trường Xuân Lộc đã bùng lên với cường độ ác liệt hiếm thấy. Tiếng pháo gầm, súng nổ hòa lẫn tiếng xích xe tăng nghiến trên mặt đường, tạo nên một không khí chiến đấu căng thẳng, khốc liệt. Các đơn vị của ta với khí thế tiến công mạnh mẽ đã liên tiếp áp sát, đánh chiếm các mục tiêu tiền duyên, từng bước mở rộng bàn đạp tiến công vào trung tâm thị xã.
Trong giai đoạn đầu, ta triển khai phương châm tác chiến “đánh nhanh, thắng nhanh”, tập trung lực lượng đột phá trực diện vào các cụm phòng ngự kiên cố của địch trong nội ô. Tuy nhiên, khác với những chiến trường trước đó, tại Xuân Lộc, địch không nhanh chóng tan rã mà tổ chức phòng ngự ngoan cố, dựa vào hệ thống công sự vững chắc và tận dụng triệt để địa hình đô thị để chống trả. Các đơn vị phòng thủ của chúng, đặc biệt là Sư đoàn 18, đã tiến hành nhiều đợt phản kích quyết liệt, có tổ chức, nhằm giành lại các vị trí bị mất.
Địch sử dụng tối đa ưu thế hỏa lực, nhất là không quân và pháo binh tầm xa từ căn cứ Biên Hòa, liên tục oanh kích các khu vực tập kết và hướng tiến công của ta. Các trận không kích dày đặc, kết hợp với pháo kích chính xác, đã gây nhiều khó khăn cho việc cơ động lực lượng, triển khai đội hình và duy trì nhịp độ tiến công. Cuộc chiến nhanh chóng chuyển sang trạng thái giằng co quyết liệt, diễn ra từng giờ, từng phút trên từng tuyến phố, từng khu nhà. Nhiều mục tiêu then chốt liên tục đổi chủ, phản ánh mức độ khốc liệt và quyết tâm cao của cả hai bên.
Trên thực tế, các đơn vị tiến công của ta đã gặp phải sự kháng cự mạnh từ các cụm phòng ngự liên hoàn trong thị xã, nơi địch tập trung lực lượng dự bị cơ động để tổ chức phản kích. Không quân địch tăng cường các đợt ném bom tọa độ với cường độ cao, sử dụng cả những loại bom có sức công phá lớn nhằm ngăn chặn đà tiến công và gây tổn thất cho lực lượng ta. Điều này khiến cho kế hoạch “đánh nhanh, thắng nhanh” gặp phải trở ngại lớn, tốc độ tiến công bị chững lại, trong khi mức độ tiêu hao lực lượng có xu hướng gia tăng.
Diễn biến chiến trường cho thấy, nếu tiếp tục duy trì cách đánh trực diện vào một hệ thống phòng ngự đang được địch dốc toàn lực củng cố và bảo vệ bằng mọi giá, ta có nguy cơ rơi vào thế giằng co kéo dài, bất lợi về thời gian và không phù hợp với yêu cầu chiến lược chung đang đòi hỏi tốc độ và tính bất ngờ cao.
Trước tình hình đó, Bộ Chỉ huy chiến dịch đã kịp thời thể hiện sự nhạy bén và linh hoạt trong chỉ đạo tác chiến. Trên cơ sở đánh giá lại toàn diện tương quan lực lượng, thế trận và đặc biệt là khả năng tăng viện của địch từ hướng Sài Gòn lên Xuân Lộc, ta đã chủ động điều chỉnh cách đánh theo hướng phù hợp hơn. Quyết định này mang ý nghĩa bước ngoặt, không chỉ nhằm hạn chế tổn thất cho lực lượng tiến công mà còn mở ra phương án tác chiến hiệu quả hơn, hướng tới mục tiêu làm suy sụp toàn bộ hệ thống phòng ngự của địch thay vì chỉ tập trung tiêu diệt từng điểm tựa riêng lẻ.
Sự chuyển hướng kịp thời về nghệ thuật quân sự đã đặt nền tảng quan trọng cho những diễn biến tiếp theo của chiến dịch, từng bước đưa trận đánh Xuân Lộc đi đến kết cục có lợi cho ta.

Chuyển hóa nghệ thuật tác chiến: Từ đột phá trực diện sang bao vây, chia cắt
Từ ngày 13/4/1975, trên cơ sở tổng kết thực tiễn chiến đấu những ngày đầu và đánh giá toàn diện tình hình chiến trường, Bộ Chỉ huy Quân đoàn 4, phối hợp với đại diện Bộ Chỉ huy chiến dịch, đã đi đến một quyết định mang tính bước ngoặt: chuyển đổi phương châm tác chiến từ tiến công trực diện vào trung tâm thị xã Xuân Lộc sang triển khai thế trận “bao vây, chia cắt, cô lập”. Đây không chỉ là sự điều chỉnh về mặt chiến thuật đơn thuần mà là một bước chuyển hóa sâu sắc trong nghệ thuật chỉ đạo chiến dịch, thể hiện tư duy linh hoạt, nhạy bén và giàu kinh nghiệm của ta trước một đối tượng phòng ngự còn khả năng kháng cự mạnh.
Thay vì tiếp tục dồn lực lượng công phá các vị trí phòng ngự kiên cố nơi địch đang chiếm ưu thế về công sự, hỏa lực và địa hình đô thị, ta chủ động chuyển hướng tiến công vào các “huyệt lộ” chiến lược, những tuyến giao thông then chốt, các điểm cao khống chế và các mắt xích quan trọng trong hệ thống bảo đảm hậu cần – kỹ thuật của địch. Mục tiêu cốt lõi là cắt đứt hoàn toàn các tuyến chi viện từ phía sau, đặc biệt là từ Biên Hòa và Sài Gòn, đồng thời khóa chặt các hành lang rút lui tiềm tàng, đẩy lực lượng địch tại Xuân Lộc vào thế bị cô lập chiến dịch.
Sự chuyển hướng này được triển khai một cách bài bản, kết hợp chặt chẽ giữa nghi binh và cơ động chiến lược. Ta để lại một bộ phận lực lượng đủ mạnh tiếp tục bao vây, kìm chân và gây áp lực trực diện lên thị xã Xuân Lộc, duy trì cảm giác rằng ta vẫn đang tập trung nỗ lực đột phá vào trung tâm. Trong khi đó, các đơn vị chủ lực khác bí mật cơ động ra ngoài, nhanh chóng đánh chiếm các vị trí then chốt trên các trục giao thông quan trọng, làm chủ các điểm cao xung quanh, từng bước siết chặt vòng vây, cắt rời Xuân Lộc khỏi hệ thống phòng ngự chung của địch.
Nghệ thuật điều động lực lượng linh hoạt, kết hợp giữa “chính diện” và “ngoại vi”, giữa “kìm chân” và “đột phá” đã nhanh chóng làm thay đổi cục diện chiến trường. Ta thoát khỏi thế bị cuốn vào lối đánh tiêu hao trong đô thị, vốn bất lợi và gây tổn thất lớn để chuyển sang nắm quyền chủ động hoàn toàn về chiến dịch. Khi các tuyến đường tiếp viện bị cắt đứt, hệ thống phòng ngự liên hoàn mà địch dày công xây dựng bắt đầu bị phá vỡ từ bên trong. Sư đoàn 18 quân ngụy Sài Gòn cùng các lực lượng tăng cường rơi vào thế bị cô lập, thiếu hụt hậu cần, giảm sút khả năng hiệp đồng tác chiến và đặc biệt là suy sụp nghiêm trọng về tinh thần.
Trong thế trận mới, mỗi đòn tiến công của ta vào các khu vực ngoại vi đều có ý nghĩa chiến lược, từng bước bào mòn sức kháng cự của địch mà không cần phải đối đầu trực diện với hỏa lực mạnh nhất của chúng. Khi “mạch máu” tiếp tế và liên lạc bị cắt đứt, Xuân Lộc từ một “cánh cửa thép” kiên cố dần biến thành một “ốc đảo” bị bao vây, không còn khả năng chống đỡ lâu dài.
Quyết định chuyển hóa cách đánh tại Xuân Lộc là minh chứng sinh động cho nghệ thuật quân sự Việt Nam trong thời kỳ hiện đại: luôn xuất phát từ thực tiễn chiến trường, biết tránh chỗ mạnh, đánh vào chỗ yếu, phát huy cao nhất sức mạnh tổng hợp của lực lượng và thế trận. Đó cũng là kết quả của sự lãnh đạo sâu sát, kịp thời của Đảng và Bộ Tổng tư lệnh, thể hiện tầm nhìn chiến lược và khả năng nắm bắt thời cơ chính xác.
Chính sự thay đổi mang tính quyết định này đã tạo ra bước ngoặt căn bản trên chiến trường Xuân Lộc, làm cho “cánh cửa thép” của Ngụy quyền Sài Gòn bắt đầu rạn nứt từ gốc rễ. Đồng thời, nó khẳng định một chân lý: nghệ thuật quân sự Việt Nam không bao giờ cứng nhắc, mà luôn vận động sáng tạo, linh hoạt, nhằm tối ưu hóa sức mạnh của chiến tranh nhân dân và ý chí quyết thắng của toàn dân tộc.
Làm tê liệt hệ thống và sự sụp đổ của “cánh cửa thép”
Triển khai phương án tác chiến mới một cách quyết đoán và đồng bộ, quân ta đã tập trung đòn tiến công then chốt vào khu vực Ngã ba Dầu Giây – điểm nút giao thông chiến lược, được ví như “yết hầu” nối Xuân Lộc với Biên Hòa và Sài Gòn. Đây là mắt xích quan trọng bảo đảm cho khả năng cơ động, tiếp viện và rút lui của toàn bộ cụm phòng ngự Xuân Lộc. Ngày 15/4/1975, sau những trận đánh quyết liệt, hiệp đồng binh chủng chặt chẽ, ta đã hoàn toàn làm chủ Dầu Giây, chính thức cắt đứt hai trục giao thông huyết mạch là Quốc lộ 1 và Quốc lộ 20.
Đòn đánh này mang ý nghĩa chiến dịch đặc biệt quan trọng, “đánh trúng huyệt” của hệ thống phòng ngự địch, khiến toàn bộ thế trận liên hoàn của chúng bị chia cắt thành từng mảng rời rạc, mất khả năng hiệp đồng và chi viện lẫn nhau. Từ một cụm phòng ngự được tổ chức chặt chẽ, Xuân Lộc nhanh chóng bị cô lập hoàn toàn, trở thành một “ốc đảo” giữa vòng vây ngày càng siết chặt của quân giải phóng.
Trước tình thế nguy cấp, Ngụy quyền Sài Gòn đã điên cuồng tung lực lượng dự bị chiến lược cuối cùng, trong đó có Lữ đoàn dù 1 tinh nhuệ vào chiến trường hòng tái chiếm các vị trí then chốt và khai thông tuyến đường huyết mạch. Đồng thời, chúng tăng cường sử dụng hỏa lực không quân với cường độ cao, kể cả các loại bom sát thương diện rộng như bom CBU, nhằm ngăn chặn bước tiến của ta. Tuy nhiên, mọi nỗ lực phản kích đều bị quân ta kiên cường đánh bại. Các đơn vị chủ lực của ta đã giữ vững trận địa, bẻ gãy từng đợt tiến công trong tuyệt vọng của địch.
Song song với đó, pháo binh tầm xa của ta liên tục chế áp các mục tiêu trọng yếu, đặc biệt là sân bay Biên Hòa, căn cứ không quân chủ lực của địch. Việc khống chế hiệu quả sân bay này đã làm tê liệt đáng kể khả năng yểm trợ hỏa lực đường không, vốn là ưu thế lớn nhất mà quân đội Sài Gòn còn nắm giữ. Khi không quân bị hạn chế, hệ thống phòng ngự của địch càng nhanh chóng rơi vào thế bị động, thiếu hụt hỏa lực chi viện.
Trong vòng vây ngày càng khép kín, lực lượng địch tại Xuân Lộc lâm vào tình trạng khủng hoảng toàn diện: nguồn tiếp tế đạn dược và lương thực bị gián đoạn, thông tin liên lạc đứt quãng, hệ thống chỉ huy rối loạn, tinh thần binh lính suy sụp nghiêm trọng. Từ chỗ cố thủ với quyết tâm cao, chúng dần rơi vào trạng thái hoang mang, mất phương hướng khi nhận ra không còn khả năng được chi viện hay giải vây.
Đêm 20/4/1975, trước nguy cơ bị tiêu diệt hoàn toàn, tàn quân Ngụy quyền Sài Gòn buộc phải tổ chức rút chạy trong hỗn loạn khỏi Xuân Lộc theo hướng Bà Rịa. Tuy nhiên, mọi toan tính tháo lui đều nằm trong dự liệu của ta. Các lực lượng chủ lực kết hợp với quân và dân địa phương đã chủ động bố trí thế trận đón lõng, tổ chức truy kích quyết liệt, tiêu diệt và làm tan rã từng bộ phận lớn quân địch trên đường rút chạy.
Sáng ngày 21/4/1975, quân ta hoàn toàn làm chủ thị xã Xuân Lộc. Lá cờ cách mạng tung bay, đánh dấu sự sụp đổ hoàn toàn của tuyến phòng thủ mạnh nhất bảo vệ cửa ngõ phía Đông Sài Gòn. “Cánh cửa thép” mà địch dày công xây dựng và kỳ vọng đã bị đập tan, không chỉ bởi sức mạnh quân sự mà còn bởi ý chí chiến đấu kiên cường và nghệ thuật chỉ đạo chiến tranh tài tình của ta.
Chiến thắng Xuân Lộc đã tạo ra một cú sốc chính trị cực lớn đối với ngụy quyền Sài Gòn, làm lung lay tận gốc nền tảng tồn tại của chế độ. Ngay sau đó, Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu buộc phải từ chức và rời khỏi Việt Nam, đánh dấu sự tan rã không thể cứu vãn của bộ máy lãnh đạo Ngụy quyền.
Về mặt quân sự – chiến lược, việc phá vỡ hoàn toàn chốt chặn Xuân Lộc đã mở toang cánh cửa tiến công từ hướng Đông vào Sài Gòn, tạo hành lang thông suốt cho các quân đoàn chủ lực của ta thần tốc cơ động, hội tụ lực lượng cho đòn quyết chiến cuối cùng. Thắng lợi này chính là bước đệm trực tiếp, mang tính quyết định để triển khai Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, đi đến giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước, khép lại một chặng đường đấu tranh gian khổ nhưng vô cùng oanh liệt của dân tộc.
Cánh cửa mở toang – Tiến về Sài Gòn
Chiến thắng Xuân Lộc đã khép lại trận quyết chiến chiến lược cuối cùng ở cửa ngõ phía Đông, đồng thời mở ra bước ngoặt mang tính tất yếu của toàn bộ cục diện chiến tranh. Khi “cánh cửa thép” bị đập tan, không chỉ một tuyến phòng ngự sụp đổ mà cả hệ thống phòng thủ của Ngụy quyền Sài Gòn cũng nhanh chóng rã rời, đánh mất hoàn toàn khả năng tổ chức kháng cự có hiệu quả. Thế trận chiến lược nghiêng hẳn về phía ta, tạo điều kiện chín muồi để chuyển sang giai đoạn tổng công kích quyết định.
Từ Xuân Lộc, các trục tiến công chiến lược được khai thông, những binh đoàn chủ lực của ta thần tốc hành quân, hình thành thế bao vây nhiều hướng, áp sát trung tâm Sài Gòn – Gia Định. Không còn là những trận đánh cục bộ, chiến trường lúc này đã phát triển thành một thế trận hợp đồng binh chủng quy mô lớn, nơi sức mạnh quân sự, chính trị và tinh thần được phát huy cao độ, tạo nên ưu thế áp đảo tuyệt đối trước một đối phương đang tan rã nhanh chóng.
Sự sụp đổ của Xuân Lộc còn kéo theo hiệu ứng dây chuyền về chính trị và tâm lý, làm lung lay tận gốc nền tảng tồn tại của ngụy quyền Sài Gòn. Bộ máy lãnh đạo rơi vào khủng hoảng, tinh thần binh sĩ suy sụp, các đơn vị lần lượt tan rã. Mọi nỗ lực kéo dài chiến tranh hay tìm kiếm giải pháp cứu vãn tình thế đều trở nên vô nghĩa trước sức tiến công như vũ bão của quân và dân ta.
Trên nền tảng thắng lợi đó, quyết tâm chiến lược mở Chiến dịch Hồ Chí Minh được xác lập, đánh dấu bước phát triển cao nhất của nghệ thuật chỉ đạo chiến tranh nhân dân Việt Nam. Những mũi tiến công thần tốc, táo bạo, bất ngờ từ nhiều hướng đã nhanh chóng hội tụ, tạo thành đòn quyết định, kết thúc thắng lợi cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước.
Không chỉ dừng lại ở ý nghĩa quân sự, chiến thắng Xuân Lộc còn mang giá trị lịch sử – chính trị sâu sắc, thể hiện sự hội tụ cao nhất của sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, của ý chí độc lập và khát vọng thống nhất đất nước. Đây là kết quả tất yếu của một quá trình đấu tranh lâu dài, bền bỉ, kết hợp chặt chẽ giữa đấu tranh quân sự, chính trị và ngoại giao dưới sự lãnh đạo đúng đắn, sáng suốt của Đảng.
Xuân Lộc vì thế không chỉ là một chiến thắng quân sự đơn thuần, mà là “cánh cửa mở toang” của lịch sử, nơi thế trận chuyển hóa hoàn toàn, đưa cuộc chiến từ giai đoạn quyết liệt cuối cùng đến thắng lợi trọn vẹn. Đó là minh chứng tiêu biểu cho nghệ thuật quân sự Việt Nam: biết đánh giá đúng thời cơ, chuyển hóa thế trận linh hoạt và đánh trúng điểm quyết định để tạo nên sự sụp đổ không thể đảo ngược của đối phương.
Từ Xuân Lộc, con đường tiến vào Sài Gòn đã hoàn toàn rộng mở. Lịch sử không còn chỗ cho sự trì hoãn, mà chỉ còn lại bước tiến thần tốc để đi tới đích cuối cùng, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước. Đó là bước chuyển mang tính tất yếu, là kết quả hội tụ của cả một quá trình đấu tranh kiên cường, bền bỉ và đầy trí tuệ của dân tộc Việt Nam trong thời đại Hồ Chí Minh.
Thế Nguyễn – Minh Văn
Tài liệu tham khảo:
Hồ Chí Minh Toàn tập, NXB Chính trị quốc gia Sự thật.
Văn kiện Đại hội XIV, Đảng Cộng sản Việt Nam.
Võ Nguyên Giáp, Tổng tập hồi ký, NXB Quân đội nhân dân.
Lịch sử kháng chiến chống Mỹ cứu nước, Viện Lịch sử quân sự Việt Nam.
Lịch sử QĐND Việt Nam (1944–1975), Bộ Quốc phòng.
Đại thắng mùa Xuân 1975 – Giá trị lịch sử và hiện thực, Nhiều tác giả.


