Phát triển nguồn nhân lực là một trong ba khâu đột phá chiến lược được Đảng Cộng sản Việt Nam xác định nhằm thúc đẩy tăng trưởng nhanh và bền vững. Trong bối cảnh đó, bài viết tập trung phân tích, làm rõ vai trò lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Đồng Nai đối với công tác phát triển nguồn nhân lực giai đoạn 2015–2025, đồng thời đặt trong bối cảnh sáp nhập đơn vị hành chính với tỉnh Bình Phước với nhiều yêu cầu mới đặt ra. Trên cơ sở đánh giá thực tiễn, bài viết đề xuất bốn nhóm giải pháp trọng tâm nhằm nâng cao tỷ lệ lao động có văn bằng, chứng chỉ, góp phần đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế – xã hội trong giai đoạn 2026–2030.

Phát triển nguồn nhân lực, đặc biệt là nguồn nhân lực chất lượng cao, được Đảng Cộng sản Việt Nam xác định là một trong ba khâu đột phá chiến lược nhằm tạo nền tảng cho tăng trưởng nhanh và bền vững. Đối với tỉnh Đồng Nai – một trong những trung tâm công nghiệp lớn của vùng Đông Nam Bộ – vấn đề này càng mang ý nghĩa then chốt, gắn trực tiếp với năng lực cạnh tranh và khả năng thu hút đầu tư. Sự phát triển mạnh mẽ của hệ thống khu công nghiệp, làn sóng vốn FDI liên tục gia tăng, cùng việc triển khai các dự án trọng điểm quốc gia như Cảng hàng không quốc tế Long Thành đã và đang đặt ra những yêu cầu ngày càng cao về trình độ chuyên môn, kỹ năng nghề nghiệp và chất lượng tổng thể của lực lượng lao động.
Đáng chú ý, việc sáp nhập đơn vị hành chính giữa Đồng Nai và Bình Phước vào năm 2025 đã mở ra một không gian phát triển mới với quy mô dân số khoảng 4,5 triệu người, đồng thời cũng đặt ra những thách thức phức tạp, đặc biệt là sự chênh lệch về trình độ lao động giữa các khu vực, đòi hỏi những chính sách phát triển nguồn nhân lực mang tính tổng thể và điều phối hiệu quả hơn. Trong giai đoạn 2015–2025, Đảng bộ tỉnh Đồng Nai đã ban hành nhiều nghị quyết, chỉ thị và quyết định quan trọng nhằm lãnh đạo, chỉ đạo công tác phát triển nguồn nhân lực, từng bước đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế – xã hội của địa phương.
Tuy nhiên, các nghiên cứu trước đây chủ yếu dừng lại ở giai đoạn 1996–2015, chưa phản ánh đầy đủ những biến động mới, đặc biệt là tác động của quá trình sáp nhập và các xu hướng phát triển hiện nay. Bên cạnh đó, việc đánh giá chất lượng nguồn nhân lực vẫn còn những hạn chế nhất định do tồn tại song song hai chỉ số thống kê: tỷ lệ lao động qua đào tạo và tỷ lệ lao động có văn bằng, chứng chỉ – mỗi chỉ số phản ánh những khía cạnh khác nhau của chất lượng lao động, cần được phân tích và làm rõ một cách toàn diện.
Trên cơ sở đó, bài viết tập trung trả lời ba câu hỏi trọng tâm: (i) Đảng bộ tỉnh Đồng Nai đã lãnh đạo phát triển nguồn nhân lực giai đoạn 2015–2025 như thế nào; (ii) thực trạng chất lượng nguồn nhân lực được phản ánh ra sao khi xem xét đồng thời hai chỉ số thống kê; và (iii) trong tương quan so sánh với các địa phương trong vùng và cả nước, Đồng Nai đang ở vị thế nào, từ đó cần những giải pháp gì để nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, đáp ứng yêu cầu phát triển trong giai đoạn 2026–2030.
Cơ sở lý thuyết
Nghiên cứu dựa trên nền tảng lý thuyết vốn nhân lực (Human Capital Theory) của Schultz (1961) và Becker (1964), cho rằng đầu tư vào giáo dục, đào tạo nâng cao kỹ năng cho người lao động là yếu tố quyết định tăng năng suất và tăng trưởng kinh tế. Ở Việt Nam, Phạm Minh Hạc (2001) đã khẳng định phát triển con người và nguồn nhân lực là trung tâm của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Bên cạnh đó, chỉ số phát triển con người (HDI) với ba thành phần sức khỏe, giáo dục và thu nhập cũng được vận dụng để đánh giá chất lượng nguồn nhân lực. Trong hệ thống thống kê lao động Việt Nam, tồn tại hai chỉ số thường gây nhầm lẫn: (1) Tỷ lệ lao động qua đào tạo chung, bao gồm mọi hình thức đào tạo từ ngắn hạn, tập huấn đến chính quy; (2) Tỷ lệ lao động qua đào tạo có văn bằng, chứng chỉ, chỉ bao gồm lao động đã hoàn thành các chương trình đào tạo chính quy (sơ cấp, trung cấp, cao đẳng, đại học trở lên). Sự khác biệt giữa hai chỉ số phản ánh mức độ “phi chính quy” của hệ thống đào tạo. Ở các nước phát triển, hai chỉ số này thường gần nhau, trong khi ở các nước đang phát triển, khoảng cách có thể rất lớn.
Về tổng quan nghiên cứu, có thể phân thành bốn nhóm chính. Nhóm thứ nhất tập trung vào lãnh đạo phát triển giáo dục – đào tạo của Đảng bộ tỉnh Đồng Nai. Tác giả đã phân tích kết quả và rút ra kinh nghiệm từ công tác lãnh đạo phát triển giáo dục phổ thông giai đoạn 2011-2020, chỉ ra những thành tựu về quy mô, chất lượng và đội ngũ giáo viên (Dung, 2024). Nhóm thứ hai nghiên cứu về nguồn nhân lực chất lượng cao trong bối cảnh công nghiệp hóa. Tác giả nhấn mạnh: đối với Đồng Nai, nguồn nhân lực chất lượng cao là yếu tố quyết định để thu hút đầu tư công nghệ cao (Lập, 2012). Nhóm thứ ba tập trung vào phát triển nguồn nhân lực của doanh nghiệp trong bối cảnh hội nhập. Tác giả đã phân tích thực trạng phát triển nguồn nhân lực của các doanh nghiệp tại Đông Nam Bộ, chỉ ra khoảng cách so với yêu cầu của chuỗi giá trị toàn cầu (Hương, 2025). Một nghiên cứu khác đã bàn về chất lượng nguồn nhân lực Bình Phước trong bối cảnh sát nhập vào Đồng Nai (Hương, 2026). Nhóm thứ tư nghiên cứu về thu hút đầu tư và phát triển thị trường lao động. Tác giả đã phân tích sức hấp dẫn của Đồng Nai trong thu hút FDI chất lượng cao, chỉ ra rằng chất lượng nguồn nhân lực là một trong những yếu tố được các nhà đầu tư đặc biệt quan tâm (Dịu, 2026).
Tổng quan các công trình trên cho thấy bốn khoảng trống nghiên cứu: (1) chưa có nhiều công trình tiếp cận vấn đề nguồn nhân lực từ góc độ lãnh đạo của Đảng bộ địa phương một cách tổng thể, xuyên suốt một giai đoạn dài; (2) chưa phân biệt rõ hai chỉ số thống kê về lao động qua đào tạo; (3) chưa đặt vấn đề phát triển nguồn nhân lực trong bối cảnh sáp nhập đơn vị hành chính; (4) thiếu cập nhật số liệu sau đại dịch và sau sáp nhập. Chính vì vậy, bài viết này hướng đến việc lấp đầy khoảng trống nói trên.
Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu sử dụng kết hợp các phương pháp: lịch sử, phân tích chính sách và thống kê so sánh. Phương pháp lịch sử được sử dụng để phân tích tiến trình lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Đồng Nai qua các giai đoạn: 2015-2020 và bước chuyển sang tỉnh mới sau sáp nhập (từ 6/2025). Phương pháp phân tích chính sách được áp dụng cho các văn bản chỉ đạo của Trung ương và Đảng bộ tỉnh Đồng Nai. Phương pháp thống kê và so sánh được sử dụng để xử lý số liệu từ các nguồn Tổng cục thống kê Việt Nam, Cục thống kê Đồng Nai. Các chỉ số được so sánh giữa Đồng Nai với toàn quốc, vùng Đông Nam Bộ, TP. Hồ Chí Minh và Bình Phước.
Kết quả và thảo luận
Chủ trương lãnh đạo phát triển nguồn nhân lực của Đảng bộ tỉnh Đồng Nai (2015-2025). Qua ba kỳ đại hội, Đảng bộ tỉnh luôn xác định phát triển nguồn nhân lực là một trong ba khâu đột phá. Giai đoạn 2015-2020, Đại hội X đề ra 39 chỉ tiêu, trong đó có 29 chỉ tiêu kinh tế – xã hội. Mặc dù chịu tác động của suy thoái kinh tế toàn cầu, Đảng bộ hai tỉnh (trước sáp nhập) đã đạt và vượt 60/70 chỉ tiêu. Giai đoạn 2020-2025, Đại hội XI tiếp tục khẳng định tầm quan trọng của phát triển nguồn nhân lực. Bên cạnh đó, Ủy ban Nhân dân tỉnh ban hành Kế hoạch số 100/KH-UBND ngày 14/4/2023 thực hiện Nghị quyết 06/NQ-CP về phát triển thị trường lao động linh hoạt, hiện đại, hiệu quả, bền vững và hội nhập nhằm phục hồi nhanh kinh tế – xã hội trên địa bàn tỉnh.
Giai đoạn 2025-2030, Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Đồng Nai lần thứ I, nhiệm kỳ 2025-2030, được tổ chức trong bối cảnh sáp nhập, đã thông qua Nghị quyết số 01-NQ/TU xác định phương hướng, mục tiêu, nhiệm vụ và giải pháp trọng tâm. Đặc biệt, Nghị quyết xác định bốn lĩnh vực đột phá, trong đó lĩnh vực thứ nhất là: Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, nhất là đội ngũ cán bộ chủ chốt các cấp… phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao trên các lĩnh vực công nghiệp công nghệ cao, logistics, giáo dục, y tế, khoa học, công nghệ, chuyển đổi số.
Để cụ thể hóa, Uỷ ban Nhân dân tỉnh ban hành Kế hoạch số 105/KH-UBND ngày 03/3/2026 về đào tạo và phát triển nguồn nhân lực đáp ứng nhu cầu xây dựng và vận hành các dự án trọng điểm giai đoạn 2026-2030, trong đó dự án Cảng hàng không quốc tế Long Thành được xác định là trung tâm, với nhu cầu khoảng 14.000 lao động chất lượng cao. Một văn bản quan trọng khác là Quyết định số 779/QĐ-UBND ngày 27/02/2026 phê duyệt điều chỉnh Quy hoạch tỉnh Đồng Nai thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050, xác định rõ bốn vùng động lực phát triển, tạo cơ sở cho việc hoạch định chính sách nguồn nhân lực phù hợp với đặc thù từng vùng.
Thực trạng nguồn nhân lực tỉnh Đồng Nai giai đoạn 2015-2025 . Sau sáp nhập (tháng 6/2025), tỉnh Đồng Nai mới có dân số trung bình năm 2025 đạt 4,49 triệu người, tăng 33,4% so với Đồng Nai cũ. Lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên quý IV/2025 đạt khoảng 2,568 triệu người, quý I/2026 đạt 2,515 triệu người. Lao động thành thị chiếm 40,4%, nông thôn 59,51%.
Về chất lượng nguồn nhân lực, cần phân biệt hai chỉ số. Theo báo cáo của Ủy ban Nhân dân tỉnh Đồng Nai (2025), tỷ lệ lao động qua đào tạo chung của Đồng Nai đạt 68,5% năm 2024 và 70% năm 2025. Tuy nhiên, theo Cục thông kê tỉnh Đồng Nai 2024, tỷ lệ lao động qua đào tạo có văn bằng, chứng chỉ chỉ đạt 23,7% năm 2024. Khoảng cách 44,8 điểm phần trăm giữa hai chỉ số cho thấy phần lớn lao động Đồng Nai chỉ được đào tạo dưới hình thức ngắn hạn, phi chính quy.
So sánh với các địa phương trong vùng và cả nước, tỷ lệ lao động có văn bằng, chứng chỉ của Đồng Nai (23,7%) thấp hơn mức bình quân toàn quốc (28,4%) và thấp hơn nhiều so với TP. Hồ Chí Minh (37,5%), trong khi Bình Phước chỉ đạt 21,6% và vùng Đông Nam Bộ đạt 30,0% (Cục Thống kê Việt Nam, 2025, tr.183-184).
Về tăng trưởng kinh tế, GRDP năm 2025 tăng 9,63% so với năm 2024, cao nhất cả nước (theo số liệu sơ bộ từ các tỉnh, thành phố). GRDP bình quân đầu người đạt 150,86 triệu đồng. Xuất siêu đạt 10,7 tỷ USD – mức kỷ lục. Nhu cầu tuyển dụng lao động có kỹ thuật quý I/2026 chiếm khoảng 40%, thu nhập bình quân khi mới tuyển dụng trên 8 triệu đồng/tháng. Toàn tỉnh hiện có 81 khu công nghiệp được quy hoạch, 43 khu công nghiệp đang hoạt động, tỷ lệ lấp đầy 76%, thu hút 51 quốc gia và vùng lãnh thổ với tổng vốn đầu tư trên 43 tỷ USD, tạo việc làm cho hơn 1,2 triệu lao động.
Bảng 1. Tổng hợp các chỉ tiêu kinh tế – xã hội và nguồn nhân lực chủ yếu của tỉnh Đồng Nai (2020 – 2025)

Ghi chú: Số liệu GRDP 2025 là ước tính dựa trên tốc độ tăng 9,63% so với năm 2024; dân số 2025 là số liệu chính thức của tỉnh sau sáp nhập.
Thành tựu trong lãnh đạo phát triển nguồn nhân lực. Trên cơ sở các số liệu trên, có thể thấy những thành tựu nổi bật sau. Thứ nhất, hệ thống văn bản chỉ đạo đồng bộ, từ Quyết định 3730/QĐ-UBND (2011) đến Kế hoạch 105/KH-UBND (2026), thể hiện tầm nhìn chiến lược. Đối chiếu 70 chỉ tiêu của Nghị quyết Đại hội XI, có 60 chỉ tiêu đạt và vượt (Nghị quyết 01-NQ/TU). Thứ hai, tỷ lệ lao động qua đào tạo chung cao (68,5% năm 2024, 70% năm 2025), phản ánh hiệu quả của các chương trình đào tạo ngắn hạn, tập huấn, bồi dưỡng kỹ năng. Thứ ba, tăng trưởng GRDP ấn tượng (9,63% năm 2025, dẫn đầu cả nước), xuất siêu kỷ lục (10,7 tỷ USD), thu hút FDI mạnh mẽ (51 quốc gia, 43 tỷ USD). Thứ tư, tỷ lệ thất nghiệp ở mức thấp (1,46% năm 2025), thu nhập người lao động được cải thiện (trên 8 triệu đồng/tháng khi mới tuyển dụng). Thứ năm, tỷ lệ bao phủ bảo hiểm y tế đạt 95% dân số (2025), tăng từ 91,46% (2024). Những kết quả này khẳng định sự lãnh đạo, chỉ đạo đúng hướng của Đảng bộ tỉnh trong phát triển nguồn nhân lực.
Hạn chế và nguyên nhân. Bên cạnh những thành tựu, vẫn còn những hạn chế cần nhìn nhận. Thứ nhất, tỷ lệ lao động có văn bằng, chứng chỉ còn thấp (23,7%), dưới mức bình quân cả nước (28,4%) và xa so với TP. Hồ Chí Minh (37,5%). Đây là hạn chế lớn nhất. Thứ hai, chất lượng đào tạo chưa đáp ứng nhu cầu doanh nghiệp, thể hiện qua nhu cầu tuyển dụng lao động có kỹ thuật lên tới 40% nhưng hệ thống giáo dục nghề nghiệp còn hạn chế về thực hành. Thứ ba, khoảng cách giữa các vùng trong tỉnh mới: khu vực vốn là Bình Phước cũ có tỷ lệ lao động qua đào tạo (chung) chỉ 21,6% (2024), thấp hơn nhiều so với mặt bằng chung. Thứ tư, chính sách thu hút nhân tài chưa đủ mạnh so với TP. Hồ Chí Minh. Nguyên nhân của những hạn chế này, theo Nghị quyết 01-NQ/TU, là do công tác lãnh đạo, chỉ đạo của một số cấp ủy chưa quyết liệt; năng lực dự báo còn hạn chế; liên kết “Nhà nước – Nhà trường – Doanh nghiệp” chưa bền vững; việc xử lý các “điểm nghẽn” còn chậm. Bên cạnh đó, đại dịch Covid-19 và biến động kinh tế thế giới cũng là nguyên nhân khách quan ảnh hưởng đến tiến độ đào tạo.
Bảng 2. So sánh Đồng Nai với các địa phương trong vùng và cả nước về các chỉ số phát triển nguồn nhân lực (2024-2025)

Như vậy, khoảng cách lớn giữa tỷ lệ qua đào tạo (68,5-70%) và tỷ lệ có văn bằng, chứng chỉ (23,7%) phản ánh một thực tế: Đồng Nai rất thành công trong việc phổ cập đào tạo ngắn hạn, phi chính quy, nhưng trình độ chuyên môn bài bản còn yếu. Điều này phù hợp với cơ cấu kinh tế hiện tại (các ngành thâm dụng lao động như giày da, may mặc, chế biến gỗ chiếm tỷ trọng lớn). Tuy nhiên, trong bối cảnh thu hút FDI thế hệ mới vào các khu công nghệ cao (điện tử, bán dẫn, tự động hóa) và vận hành Cảng hàng không quốc tế Long Thành, yêu cầu về lao động có văn bằng, chứng chỉ sẽ ngày càng gia tăng. So với Bình Phước (21,6% chung), sau sáp nhập, Đồng Nai có trách nhiệm nâng cao chất lượng nguồn nhân lực cho vùng này. Định hướng chiến lược giai đoạn 2026-2030 cần chuyển trọng tâm từ “số lượng” (tỷ lệ qua đào tạo chung) sang “chất lượng” (tỷ lệ có văn bằng, chứng chỉ).
Kết luận và khuyến nghị
Giai đoạn 2015-2025, dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh, Đồng Nai đã đạt được những thành tựu quan trọng: tỷ lệ lao động qua đào tạo chung ở mức cao (68,5-70%), tăng trưởng GRDP dẫn đầu cả nước (9,63% năm 2025), thất nghiệp thấp (1,46%), thu nhập người lao động cải thiện, xuất siêu kỷ lục (10,7 tỷ USD), thu hút FDI mạnh mẽ (43 tỷ USD). Tuy nhiên, tỷ lệ lao động có văn bằng, chứng chỉ còn thấp (23,7%) thấp hơn bình quân cả nước và xa so với TP. Hồ Chí Minh. Sự khác biệt giữa hai chỉ số cho thấy hệ thống đào tạo của tỉnh mạnh về quy mô ngắn hạn nhưng yếu về chiều sâu chính quy. Dựa trên các phát hiện này, nghiên cứu đưa ra bốn khuyến nghị chính sách cho giai đoạn 2026-2030. Thứ nhất, chuyển trọng tâm từ đào tạo ngắn hạn sang đào tạo chính quy có văn bằng, chứng chỉ, đặc biệt cho các ngành công nghệ cao, điện tử, bán dẫn, logistics, hàng không. Thứ hai, cải cách chương trình giáo dục nghề nghiệp theo hướng thực hành, gắn với doanh nghiệp; tăng cường trang thiết bị và nâng cao năng lực giáo viên. Thứ ba, xây dựng chính sách thu hút nhân tài đủ mạnh (học bổng, hỗ trợ nhà ở, môi trường làm việc) để thu hút lao động có trình độ cao từ các tỉnh khác. Thứ tư, có chương trình đào tạo đặc thù cho khu vực vốn là Bình Phước cũ, thu hẹp khoảng cách chất lượng nguồn nhân lực giữa các vùng trong điều kiện mới.
Nguyễn Thị Hương/Trường đại học Lao động – Xã hội, cơ sở II, TP. Hồ Chí Minh
Tài liệu tham khảo
1.Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Đồng Nai. (2015). Văn kiện Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Đồng Nai lần thứ X, nhiệm kỳ 2015-2020. Đồng Nai.
2.Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Đồng Nai. (2020). Văn kiện Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Đồng Nai lần thứ XI, nhiệm kỳ 2020-2025. Đồng Nai.
3.Becker, G. S. (1964). Human Capital: A Theoretical and Empirical Analysis, with Special Reference to Education. University of Chicago Press.
4.Cục Thống kê. (2025). Niên giám thống kê Việt Nam năm 2024. Nhà xuất bản Thống kê.
5.Cục Thống kê tỉnh Đồng Nai. (2024). Niên giám thống kê tỉnh Đồng Nai năm 2024. Nhà xuất bản Thống kê.
6.Cục Thống kê tỉnh Đồng Nai. (2026). Báo cáo tình hình kinh tế – xã hội tháng 12 và 12 tháng năm 2025.
7.Đảng bộ tỉnh Đồng Nai. (2025). Nghị quyết số 01-NQ/TU Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Đồng Nai lần thứ I, nhiệm kỳ 2025-2030. Đồng Nai.
8.Nguyễn Thị Hương. (2025). Phát triển nguồn nhân lực của doanh nghiệp tại Đông Nam Bộ trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập. Tạp chí Tổ chức Nhà nước và Lao động.
9.Nguyễn Thị Hương. (2026). Chất lượng nguồn nhân lực ở Bình Phước trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế và sự chuyển đổi địa chính trị trước khi sáp nhập vào Đồng Nai. Tạp chí Đông Nam Á – ASEAN.
10.Nguyễn Thị Túy. (2021). Đảng bộ tỉnh Đồng Nai lãnh đạo phát triển nguồn nhân lực từ năm 1996 đến năm 2015. Luận án tiến sĩ Lịch sử, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội.
11.Phạm Minh Hạc. (2001). Nghiên cứu Con người và nguồn nhân lực đi vào công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia.
12.Schultz, T. W. (1961). Investment in Human Capital. The American Economic Review, 51(1), 1-17.
13.Tăng Quốc Lập. (2012). Nguồn nhân lực – vấn đề mấu chốt trong phát triển kinh tế – xã hội tỉnh Đồng Nai. Tạp chí Cộng sản.
14.Thu Dịu. (2026). Đồng Nai – Điểm đến hấp dẫn dòng vốn đầu tư nước ngoài chất lượng cao. Tạp chí Kinh tế Tài chính.
15.Trần Thị Thùy Dung. (2024). Đảng bộ tỉnh Đồng Nai lãnh đạo phát triển giáo dục phổ thông (2011-2020): Kết quả và một số kinh nghiệm. Tạp chí Lịch sử Đảng.
16.Sỹ Tuyên. (2026). Đồng Nai: Thị trường lao động khởi sắc, nhu cầu tuyển dụng tăng cao. Vietnam+.
17.Uỷ ban Nhân dân tỉnh Đồng Nai. (2011). Quyết định số 3730/QĐ-UBND ngày 28/12/2011 phê duyệt Quy hoạch phát triển nhân lực tỉnh Đồng Nai giai đoạn 2011-2020. Đồng Nai.
18.Uỷ ban Nhân dân tỉnh Đồng Nai. (2025). Báo cáo số 285/BC-UBND ngày 05/12/2025 về kết quả thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội 5 năm 2021-2025 và dự kiến Kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội 5 năm 2026-2030. Đồng Nai.
19.Uỷ ban Nhân dân tỉnh Đồng Nai. (2025). Kế hoạch 188/KH-UBND về triển khai thực hiện Nghị quyết Đảng bộ tỉnh lần thứ I, nhiệm kỳ 2025-2030. Đồng Nai.
20.Uỷ ban Nhân dân tỉnh Đồng Nai. (2026). Kế hoạch số 105/KH-UBND ngày 03/3/2026 về đào tạo và phát triển nguồn nhân lực đáp ứng nhu cầu xây dựng và vận hành đối với các dự án trọng điểm trên địa bàn tỉnh Đồng Nai giai đoạn 2026-2030. Đồng Nai.
21.Uỷ ban Nhân dân tỉnh Đồng Nai. (2026). Quyết định số 779/QĐ-UBND ngày 27/02/2026 phê duyệt điều chỉnh Quy hoạch tỉnh Đồng Nai thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050. Đồng Nai.


