Trước âm mưu “phi chính trị hóa” Quân đội và chiến lược “diễn biến hòa bình” ngày càng tinh vi, việc kiên định đường lối quân sự, xây dựng Quân đội vững mạnh về chính trị giữ vai trò nền tảng. Đẩy mạnh xây dựng chính quy, hiện đại, nâng cao uy tín và sức mạnh chiến đấu. Bài viết làm rõ việc phát huy sức mạnh tổng hợp thực hiện phương châm “Hai kiên định, hai đẩy mạnh, hai ngăn ngừa” như “vũ khí tư tưởng” bảo vệ trận địa tư tưởng của Đảng trong Quân đội; đồng thời nhấn mạnh yêu cầu chủ động ngăn ngừa từ sớm, từ xa các nguy cơ xung đột và suy thoái nội bộ, qua đó đề xuất giải pháp giữ vững sự lãnh đạo tuyệt đối của Đảng trong thời kỳ mới.

Trong tổng thể chiến lược “Diễn biến hòa bình” nhằm chống phá cách mạng Việt Nam, các thế lực thù địch nhất quán xác định Quân đội nhân dân là trụ cột chính trị – lực lượng vũ trang trung thành tuyệt đối với Đảng, Nhà nước và Nhân dân, từ đó tập trung mọi thủ đoạn để tìm cách vô hiệu hóa. Thực tiễn lịch sử cho thấy, ở bất kỳ quốc gia nào, khi lực lượng vũ trang bị “phi chính trị hóa”, tách rời sự lãnh đạo của đảng cầm quyền, thì đó chính là bước mở đầu cho bất ổn chính trị và khủng hoảng chế độ. Vì vậy, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong Quân đội không chỉ là nhiệm vụ thường xuyên mà còn mang ý nghĩa sống còn, gắn trực tiếp với sự tồn vong của chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam, đồng thời là trụ cột then chốt trong công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng hiện nay.
Bối cảnh thế giới và khu vực đang có nhiều biến động nhanh chóng, phức tạp, khó dự báo; cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn ngày càng gay gắt; xung đột cục bộ, chiến tranh thông tin, chiến tranh mạng diễn ra dưới nhiều hình thức mới. Đặc biệt, sự phát triển bùng nổ của không gian mạng phi biên giới đã tạo điều kiện để các thế lực thù địch gia tăng hoạt động chống phá với phương thức ngày càng tinh vi, ẩn danh và khó kiểm soát. Chúng triệt để lợi dụng các nền tảng số, mạng xã hội để phát tán thông tin sai trái, thù địch; xuyên tạc chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng đối với Quân đội. Trọng tâm chống phá được chúng tập trung vào việc cổ súy luận điệu “phi chính trị hóa” lực lượng vũ trang, bóp méo chức năng, nhiệm vụ của Quân đội, đồng thời bôi nhọ, hạ thấp hình ảnh cao đẹp “Bộ đội Cụ Hồ”, biểu tượng của chủ nghĩa anh hùng cách mạng Việt Nam.
Những thông tin xấu độc, được ngụy trang dưới nhiều hình thức “trung lập”, “phản biện xã hội” hoặc “tự do học thuật”, thực chất nhằm gây nhiễu loạn nhận thức, từng bước làm suy giảm niềm tin của cán bộ, chiến sĩ và Nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và Quân đội. Nguy hiểm hơn, chúng hướng tới mục tiêu làm phai nhạt bản chất giai cấp công nhân, làm lung lay mục tiêu, lý tưởng chiến đấu, thúc đẩy các biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ. Đây chính là thủ đoạn “mềm” nhưng có sức công phá lâu dài, nếu không được nhận diện và ngăn chặn kịp thời sẽ dẫn tới những hệ lụy khó lường.
Trước yêu cầu cấp bách đó, Đại hội đại biểu Đảng bộ Quân đội lần thứ XII đã đưa ra chỉ đạo mang tầm chiến lược, yêu cầu toàn quân quán triệt và thực hiện nghiêm phương châm: “Hai kiên định, hai đẩy mạnh và hai ngăn ngừa”. Đây không chỉ là hệ thống quan điểm chỉ đạo toàn diện về xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam trong tình hình mới, mà còn là sự kết tinh giữa lý luận và thực tiễn, phản ánh tư duy phát triển mới về bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa, từ khi nước chưa nguy.
Trong đó, “hai kiên định” nhấn mạnh việc giữ vững, không dao động nền tảng tư tưởng của Đảng, kiên định mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội và sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng đối với Quân đội. “Hai đẩy mạnh” tập trung vào tăng cường xây dựng Quân đội vững mạnh về chính trị, tư tưởng, tổ chức và đạo đức; đồng thời đẩy mạnh hiện đại hóa, nâng cao chất lượng tổng hợp, sức mạnh chiến đấu trong điều kiện hội nhập quốc tế sâu rộng. “Hai ngăn ngừa” đặt ra yêu cầu chủ động phòng ngừa từ sớm, từ xa các nguy cơ xung đột, chiến tranh, cũng như kiên quyết đấu tranh, ngăn chặn các biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống trong nội bộ.
Phương châm này, xét về bản chất, chính là “vũ khí tư tưởng” sắc bén và “lá chắn thép” vững chắc, giúp toàn quân nâng cao “sức đề kháng” trước các luồng thông tin xấu độc, đồng thời tăng cường khả năng tự bảo vệ trên mặt trận tư tưởng – lý luận. Khi được triển khai đồng bộ, hiệu quả, phương châm sẽ phát huy sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị trong Quân đội, tạo thế trận lòng dân vững chắc, gắn kết chặt chẽ giữa “xây” và “chống”, giữa “bảo vệ” và “phát triển”.
Trong kỷ nguyên chuyển đổi số và hội nhập quốc tế sâu rộng, việc giữ vững trận địa tư tưởng trong Quân đội không thể chỉ dừng ở phòng ngừa thụ động mà phải chuyển sang thế chủ động tiến công, kết hợp chặt chẽ giữa giáo dục chính trị, nâng cao bản lĩnh cho cán bộ, chiến sĩ với đấu tranh phản bác trực diện, có cơ sở khoa học đối với các quan điểm sai trái, thù địch. Phát huy sức mạnh tổng hợp thực hiện thắng lợi “Hai kiên định, hai đẩy mạnh, hai ngăn ngừa” vì thế chính là chìa khóa căn bản để bảo vệ vững chắc bản chất cách mạng, truyền thống vẻ vang của Quân đội nhân dân Việt Nam, qua đó góp phần giữ vững ổn định chính trị, tạo nền tảng cho sự phát triển bền vững của đất nước trong giai đoạn mới.
Thực tiễn lịch sử cách mạng Việt Nam đã minh chứng: Quân đội nhân dân Việt Nam là công cụ bạo lực sắc bén, là lực lượng chính trị trung thành tuyệt đối của Đảng, Nhà nước và Nhân dân. Chính vì vậy, các thế lực thù địch, phản động và cơ hội chính trị luôn coi việc phá hoại nền tảng tư tưởng trong Quân đội là một mục tiêu trọng điểm, là khâu đột phá trong chiến lược “Diễn biến hòa bình”. Trong bối cảnh kỷ nguyên số và sự bùng nổ của không gian mạng phi biên giới hiện nay, các thủ đoạn chống phá ngày càng trở nên tinh vi, xảo quyệt và thâm độc hơn, tập trung vào những mũi nhọn chủ yếu sau:
Thực tiễn lịch sử cách mạng Việt Nam đã minh chứng rằng, Quân đội nhân dân Việt Nam là lực lượng vũ trang hùng mạnh, nòng cốt trong bảo vệ Tổ quốc, đồng thời là lực lượng chính trị tuyệt đối trung thành của Đảng, Nhà nước và Nhân dân. Chính vì vậy, các thế lực thù địch, phản động và cơ hội chính trị luôn coi việc phá hoại nền tảng tư tưởng trong Quân đội là mục tiêu trọng điểm, là khâu đột phá trong chiến lược “Diễn biến hòa bình”. Trong bối cảnh kỷ nguyên số và sự bùng nổ của không gian mạng phi biên giới hiện nay, các thủ đoạn chống phá ngày càng trở nên tinh vi, xảo quyệt, thâm độc, tập trung vào những mũi nhọn chủ yếu sau:
Thứ nhất, chúng rêu rao luận điệu “phi chính trị hóa”, âm mưu xóa bỏ sự lãnh đạo của Đảng đối với Quân đội. Đây là thủ đoạn cốt lõi, nguy hiểm nhất, là “cái bẫy lý luận” mà kẻ thù giăng ra nhằm làm phai nhạt bản chất giai cấp công nhân của Quân đội ta. Chúng cố tình đánh tráo khái niệm, đưa ra các luận điểm ngụy biện dưới vỏ bọc “khách quan” như: “Quân đội là của quốc gia, dân tộc, không thuộc về một đảng phái nào”; đòi Quân đội phải “trung lập”, “đứng ngoài chính trị”, tiến tới xây dựng “quân đội nhà nghề” kiểu phương Tây. Bằng những lời lẽ mị dân như “chỉ cần bảo vệ Tổ quốc, không cần bảo vệ Đảng”, chúng tìm cách cắt đứt mối quan hệ giữa Đảng và Quân đội, phủ nhận nguyên tắc Đảng lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt đối với Quân đội nhân dân Việt Nam. Mục đích cuối cùng là xóa bỏ “vũ khí tinh thần”, làm cho Quân đội mất phương hướng chính trị, từ đó vô hiệu hóa lực lượng nòng cốt bảo vệ chế độ.
Thứ hai, lợi dụng công cuộc chỉnh đốn Đảng để bôi đen hình ảnh, hạ thấp uy tín của “Bộ đội Cụ Hồ”. Thời gian qua, Đảng ta kiên quyết đẩy mạnh đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực với tinh thần “không có vùng cấm, không có ngoại lệ”. Khi một số ít cán bộ, sĩ quan quân đội suy thoái về đạo đức, vi phạm pháp luật bị xử lý nghiêm minh, các trang mạng phản động lưu vong lập tức chớp thời cơ, sử dụng chiêu trò “đục nước béo cò”. Chúng cắt ghép sự kiện, thổi phồng quy mô, bóp méo sự thật nhằm đánh tráo bản chất. Từ những hiện tượng vi phạm mang tính cá biệt, chúng quy chụp thành bản chất của cả hệ thống, rêu rao luận điệu “Quân đội đang suy thoái toàn diện”, qua đó gieo rắc hoài nghi, làm suy giảm niềm tin của Nhân dân đối với cán bộ, chiến sĩ Quân đội, đồng thời phủ nhận những nỗ lực kiên quyết, bền bỉ trong xây dựng, làm trong sạch nội bộ của Quân ủy Trung ương và Bộ Quốc phòng.
Thứ ba, xuyên tạc chức năng “đội quân lao động sản xuất” và chính sách đối ngoại quốc phòng. Các thế lực thù địch liên tục tấn công vào các hoạt động kết hợp kinh tế với quốc phòng của Quân đội ta. Chúng cố tình phớt lờ những đóng góp to lớn của các doanh nghiệp quân đội trong việc tiên phong ở những địa bàn chiến lược, khó khăn, gian khổ; đồng thời phủ nhận vai trò nòng cốt của các binh đoàn kinh tế – quốc phòng. Thay vào đó, chúng đưa ra các luận điệu vu cáo như “Quân đội làm kinh tế là tranh giành nguồn lực của dân”, “làm suy giảm sức mạnh chiến đấu”, nhằm chia rẽ Quân đội với các thành phần kinh tế khác, làm suy yếu nguồn lực hậu cần tại chỗ của nền quốc phòng toàn dân.
Bên cạnh đó, trên lĩnh vực đối ngoại quốc phòng, mỗi khi Việt Nam tổ chức các sự kiện lớn như Triển lãm Quốc phòng quốc tế hoặc tham gia hoạt động gìn giữ hòa bình, chúng lại tung tin sai lệch, bịa đặt rằng Việt Nam đang “từ bỏ chính sách Bốn không”, “âm thầm chọn phe”. Những luận điệu này nhằm gây nghi ngờ trong dư luận quốc tế, đồng thời tạo cớ để chia rẽ quan hệ hợp tác quốc phòng giữa nước ta với các đối tác.
Thứ tư, triệt để lợi dụng công nghệ cao để thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” từ bên trong. Trên “chiến trường không tiếng súng” là không gian mạng, các thế lực thù địch tận dụng tối đa các nền tảng mạng xã hội xuyên quốc gia và thành tựu của công nghệ trí tuệ nhân tạo để gia tăng hoạt động chống phá. Chúng tinh vi ngụy tạo văn bản giả mạo, cắt ghép video, giả lập giọng nói của lãnh đạo Đảng, Nhà nước và Quân đội nhằm phát tán tin giả, thông tin sai lệch.
Những luồng thông tin độc hại này thường hướng tới kích động tư tưởng cục bộ, thêu dệt mâu thuẫn giữa Quân đội và Công an, giữa cán bộ cấp trên và chiến sĩ cấp dưới. Mục tiêu cuối cùng là gây hoang mang, làm suy giảm niềm tin, lung lay ý chí chiến đấu của hạ sĩ quan, chiến sĩ trẻ, qua đó từng bước phá vỡ khối đoàn kết, thống nhất trong nội bộ Quân đội.
Trong triết học Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về bạo lực cách mạng, yếu tố chính trị luôn giữ vai trò quyết định, chi phối bản chất, mục tiêu và sức mạnh chiến đấu của lực lượng vũ trang. Đối với Quân đội nhân dân Việt Nam, việc quán triệt và thực hiện “Hai kiên định” không chỉ là sự kế thừa và phát huy truyền thống cách mạng vẻ vang, mà còn là “sợi chỉ đỏ” xuyên suốt, tạo nền tảng tư tưởng – chính trị vững chắc để chủ động đấu tranh, làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch.
Kiên định thứ nhất là kiên định đường lối quân sự của Đảng. Đây là cội nguồn sức mạnh, giữ vai trò định hướng mọi chiến lược, sách lược cũng như hoạt động huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu của toàn quân. Kiên định đường lối quân sự trước hết là kiên định và bảo vệ nguyên tắc nền tảng: Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt đối với Quân đội nhân dân Việt Nam. Sự lãnh đạo đó mang tính toàn diện, xuyên suốt, không thể chia sẻ hay nhượng bộ cho bất kỳ lực lượng hoặc cá nhân nào khác.
Trước những “cái bẫy lý luận” và các luận điệu ngụy biện đòi “trung lập hóa”, “phi chính trị hóa” Quân đội, việc giữ vững nguyên tắc này chính là sự khẳng định rõ ràng, dứt khoát về lập trường giai cấp. Quân đội ta từ nhân dân mà ra, vì nhân dân mà chiến đấu, song hạt nhân lãnh đạo luôn phải thuộc về Đảng. Bất kỳ biểu hiện mơ hồ, dao động hay xa rời đường lối quân sự của Đảng đều tiềm ẩn nguy cơ chệch hướng chiến lược, làm suy yếu khối đại đoàn kết và làm giảm sút sức mạnh bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa.
Kiên định thứ hai là kiên định xây dựng Quân đội vững mạnh về chính trị. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ: “Quân sự mà không có chính trị như cây không có gốc, vô dụng lại có hại”. Vì vậy, xây dựng Quân đội vững mạnh về chính trị chính là xây dựng “cái gốc”, bồi đắp “linh hồn”, “mạch sống” cho lực lượng vũ trang cách mạng. Nội dung cốt lõi của nguyên tắc này là không ngừng giữ vững, củng cố và phát huy bản chất giai cấp công nhân, tính nhân dân và tính dân tộc sâu sắc trong từng tổ chức đảng cũng như ở mỗi cán bộ, chiến sĩ.
Trong thực tiễn tại các đơn vị cơ sở, yêu cầu đó được hiện thực hóa thông qua việc phát huy vai trò của hệ thống cơ quan chính trị, đặc biệt là năng lực lãnh đạo, quản lý tư tưởng của đội ngũ chính ủy, chính trị viên các cấp. Nền tảng tư tưởng chỉ thực sự vững chắc khi mỗi quân nhân có bản lĩnh chính trị kiên định, ý chí chiến đấu cao và tuyệt đối trung thành với mục tiêu, lý tưởng của Đảng. Khi nền tảng ấy được củng cố, nó sẽ trở thành “hệ miễn dịch” tự thân trong mỗi cán bộ, chiến sĩ, một “thành trì” vững chắc trước mọi tác động tiêu cực. Khi đó, dù các thế lực thù địch sử dụng thủ đoạn bôi nhọ, xuyên tạc tinh vi đến đâu trên không gian mạng, bản lĩnh chính trị vững vàng cũng đủ sức tự “lọc” và vô hiệu hóa các luồng thông tin xấu độc.
Tóm lại, “Hai kiên định” tạo nên thế vững chắc không thể lay chuyển: kiên định đường lối quân sự để không sai lầm về phương hướng chiến lược; kiên định xây dựng Quân đội vững mạnh về chính trị để không suy yếu về chất lượng tổng hợp. Đây chính là tiền đề có ý nghĩa quyết định, là nền móng để toàn quân triển khai hiệu quả các nội dung “hai đẩy mạnh” và xây dựng phòng tuyến chủ động, vững chắc trong “hai ngăn ngừa”.
“Hai đẩy mạnh” là động lực phát triển trực tiếp, tạo bước chuyển hóa từ nền tảng chính trị vững chắc thành sức mạnh tổng hợp và vị thế chiến lược của Quân đội. Trên cơ sở “Hai kiên định”, việc triển khai hiệu quả “Hai đẩy mạnh” không chỉ nâng cao chất lượng tổng hợp, sức mạnh chiến đấu mà còn khẳng định vai trò nòng cốt của Quân đội trong sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới.
Một là, đẩy mạnh xây dựng Quân đội nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại. Đây là yêu cầu khách quan, phù hợp với xu thế phát triển của chiến tranh hiện đại và nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa. Hiện đại hóa Quân đội không chỉ dừng ở việc trang bị vũ khí, khí tài công nghệ cao, mà quan trọng hơn là hiện đại hóa tư duy quân sự, đổi mới tổ chức lực lượng, nâng cao chất lượng huấn luyện, trình độ làm chủ khoa học – công nghệ và khả năng tác chiến trong môi trường chiến tranh công nghệ cao, chiến tranh thông tin. Thực tiễn những năm qua cho thấy, việc điều chỉnh tổ chức theo hướng “tinh, gọn, mạnh” đã góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của toàn quân; giảm đầu mối trung gian, tăng cường lực lượng trực tiếp chiến đấu, bảo đảm tính cơ động, linh hoạt trong mọi tình huống.
Trước những luận điệu xuyên tạc cho rằng tinh giản biên chế đồng nghĩa với suy giảm sức mạnh, cần khẳng định rõ: sức mạnh của Quân đội không chỉ được đo bằng số lượng mà trước hết ở chất lượng, ở bản lĩnh chính trị, trình độ tổ chức, khả năng hiệp đồng và làm chủ vũ khí, trang bị hiện đại. Một quân đội hiện đại phải là quân đội có kỷ luật tự giác, nghiêm minh, có đội ngũ cán bộ, chiến sĩ được đào tạo bài bản, có khả năng thích ứng nhanh với các loại hình tác chiến mới như tác chiến không gian mạng, tác chiến điện tử, tác chiến phi đối xứng. Việc gắn hiện đại hóa với giữ vững bản chất cách mạng sẽ tạo “lá chắn kép”, vừa nâng cao sức mạnh vật chất, vừa ngăn chặn mọi âm mưu “phi chính trị hóa”, “chuyên nghiệp hóa” theo mô hình xa rời thực tiễn Việt Nam.
Hai là, đẩy mạnh hội nhập quốc tế và đối ngoại quốc phòng. Trong điều kiện toàn cầu hóa sâu rộng, bảo vệ Tổ quốc không chỉ là nhiệm vụ trong phạm vi lãnh thổ mà còn được thực hiện bằng các biện pháp hòa bình, từ sớm, từ xa. Đối ngoại quốc phòng ngày càng khẳng định vai trò là một trụ cột quan trọng trong nền ngoại giao toàn diện, góp phần xây dựng lòng tin chiến lược, giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để phát triển đất nước.
Thực tiễn cho thấy, việc Quân đội nhân dân Việt Nam tích cực tham gia lực lượng gìn giữ hòa bình Liên hợp quốc, mở rộng hợp tác quốc phòng song phương, đa phương, tổ chức thành công các kỳ Triển lãm Quốc phòng quốc tế… đã góp phần nâng cao uy tín, vị thế của đất nước và Quân đội trên trường quốc tế. Đây cũng là minh chứng rõ ràng bác bỏ các luận điệu sai trái cho rằng Việt Nam “từ bỏ chính sách Bốn không” hay “lựa chọn phe phái”. Trái lại, Việt Nam kiên định đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, đa phương hóa, đa dạng hóa; hội nhập nhưng không hòa tan, hợp tác nhưng không đánh đổi lợi ích cốt lõi.
Đẩy mạnh đối ngoại quốc phòng còn góp phần mở rộng “không gian phòng thủ” của đất nước, tạo dựng thế trận quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân từ trong nước ra ngoài biên giới. Thông qua tăng cường hợp tác, trao đổi, xây dựng lòng tin, chúng ta chủ động phòng ngừa xung đột, xử lý sớm các nguy cơ từ xa, không để bị động, bất ngờ trong mọi tình huống.
Tóm lại, “Hai đẩy mạnh” không chỉ là yêu cầu phát triển mà còn là giải pháp chiến lược để chuyển hóa tiềm lực thành sức mạnh thực tế. Khi được triển khai đồng bộ, gắn chặt với “Hai kiên định”, nội dung này sẽ tạo nên sức mạnh tổng hợp vượt trội, giúp Quân đội nhân dân Việt Nam đủ khả năng làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn chống phá, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trong thời kỳ mới.
“Hai ngăn ngừa” là “lá chắn thép” bảo vệ vững chắc nội bộ Quân đội. Nếu “Hai kiên định” tạo nền tảng, “Hai đẩy mạnh” đóng vai trò động lực phát triển thì “Hai ngăn ngừa” chính là tuyến phòng thủ chủ động từ bên trong, bảo đảm cho Quân đội luôn giữ vững ổn định, không bị động, bất ngờ trong mọi tình huống.
Trọng tâm thứ nhất là ngăn ngừa nguy cơ xung đột, chiến tranh. Thượng sách giữ nước của dân tộc ta là “giữ nước từ khi nước chưa nguy”. Trên cơ sở nắm chắc tình hình, nâng cao năng lực nghiên cứu, dự báo chiến lược, Quân đội chủ động tham mưu với Đảng, Nhà nước những quyết sách đúng đắn, kịp thời, xử lý hiệu quả các tình huống phát sinh, không để bị động, bất ngờ. Việc ngăn ngừa xung đột không chỉ thể hiện tầm nhìn chiến lược mà còn phản ánh sâu sắc tư tưởng quân sự nhân văn, nhất quán của Việt Nam: kiên quyết bảo vệ Tổ quốc nhưng luôn đề cao hòa bình, ổn định và hợp tác phát triển.
Trọng tâm thứ hai, đồng thời là nhiệm vụ cấp bách hàng đầu trên mặt trận tư tưởng, là ngăn ngừa từ sớm, từ xa sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống; phòng, chống các biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ. Các thế lực thù địch nhận thức rõ rằng một tổ chức vững mạnh thường bị phá vỡ từ bên trong, nên triệt để lợi dụng không gian mạng và công nghệ cao để tác động vào nhận thức, tâm lý của cán bộ, chiến sĩ, nhất là thế hệ trẻ.
Để thực hiện hiệu quả nhiệm vụ này, các cơ quan, đơn vị phải chủ động xây dựng môi trường văn hóa quân sự trong sạch, lành mạnh; tăng cường quản lý, giáo dục, định hướng tư tưởng; kịp thời nắm bắt, giải quyết thấu đáo những tâm tư, nguyện vọng chính đáng của bộ đội. Đồng thời, cần đẩy mạnh tự phê bình và phê bình, coi đây là quá trình “tự soi, tự sửa” thường xuyên, liên tục. Việc kết hợp chặt chẽ giữa “xây” và “chống” phải được thực hiện đồng bộ, trong đó “xây” là cơ bản, chiến lược, lâu dài; “chống” là quan trọng, cấp bách.
Khi mỗi cán bộ, chiến sĩ tự hình thành cho mình “lá chắn” bản lĩnh chính trị vững vàng, có khả năng nhận diện và đề kháng trước các luồng thông tin xấu độc, thì mọi âm mưu thâm độc của kẻ thù sẽ khó có thể xâm nhập, lây lan. Đây chính là yếu tố quyết định để giữ vững sự đoàn kết, thống nhất, bảo đảm cho Quân đội nhân dân Việt Nam luôn trong sạch, vững mạnh từ bên trong.
Để phương châm “Hai kiên định, hai đẩy mạnh và hai ngăn ngừa” thực sự trở thành “vũ khí tư tưởng” sắc bén, chuyển hóa mạnh mẽ từ nhận thức thành hành động cụ thể trong thực tiễn tại các cơ quan, đơn vị, cần tập trung triển khai đồng bộ một số giải pháp trọng tâm sau:
Thứ nhất, khơi dậy và thực hành quyết liệt tinh thần “7 dám” nhằm củng cố bản lĩnh chính trị kiên định. Trước sự gia tăng của các luồng thông tin phức tạp và thủ đoạn chống phá ngày càng tinh vi, mỗi quân nhân cần quán triệt sâu sắc và hiện thực hóa tinh thần: “dám nghĩ, dám nói, dám làm, dám chịu trách nhiệm, dám đổi mới sáng tạo, dám đương đầu với khó khăn, thử thách, dám hành động vì lợi ích chung”. Đây không chỉ là yêu cầu về phẩm chất của đội ngũ cán bộ trong thời kỳ mới mà còn là “vắc-xin tinh thần” hữu hiệu để phòng, chống các biểu hiện tiêu cực như sợ sai, né tránh, đùn đẩy trách nhiệm, những mầm mống có thể dẫn đến “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”.
Việc thực hành nhất quán tinh thần “7 dám” sẽ góp phần nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức đảng và đội ngũ cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ chủ trì các cấp. Qua đó, tạo thế chủ động trong nhận diện, đấu tranh với những biểu hiện suy thoái, kịp thời uốn nắn, khắc phục hạn chế, khơi dậy ý chí phấn đấu, tinh thần trách nhiệm và niềm tin của cán bộ, chiến sĩ đối với sự lãnh đạo của Đảng. Đây chính là yếu tố quan trọng tạo nên động lực nội sinh, góp phần xây dựng Quân đội vững mạnh về chính trị, tư tưởng trong tình hình mới.
Thứ hai, tiên phong hiện thực hóa chuyển đổi số trong công tác giáo dục chính trị, tư tưởng. Trong điều kiện các thế lực thù địch coi không gian mạng là “mũi nhọn” tấn công chủ lực, việc bảo vệ trận địa tư tưởng không thể chỉ dựa vào phương thức truyền thống. Do đó, cần đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin, triển khai chuyển đổi số một cách toàn diện, đồng bộ trong công tác giáo dục chính trị.
Chuyển đổi số không chỉ dừng lại ở việc số hóa tài liệu, mà phải hướng tới đổi mới căn bản phương pháp, hình thức giáo dục: xây dựng hệ thống bài giảng điện tử trực quan, sinh động; phát triển các nền tảng học tập số; hình thành kho dữ liệu dùng chung về lịch sử, truyền thống, lý luận chính trị; đồng thời ứng dụng các công cụ phân tích dữ liệu để kịp thời nắm bắt, dự báo diễn biến tư tưởng, tâm lý của bộ đội.
Việc chủ động chiếm lĩnh không gian mạng, khai thác hiệu quả các nền tảng số sẽ giúp lan tỏa mạnh mẽ giá trị tích cực, hình ảnh “Bộ đội Cụ Hồ”, qua đó tạo “màng lọc” thông tin vững chắc ngay từ cơ sở. Đây chính là cách tiếp cận hiện đại, phù hợp để “lấy cái đẹp dẹp cái xấu”, nâng cao hiệu quả đấu tranh trên mặt trận tư tưởng trong tình hình mới.
Thứ ba, phát huy vai trò của cấp ủy và trách nhiệm của đội ngũ chính ủy, chính trị viên. Thực tiễn khẳng định, sự vững chắc của trận địa tư tưởng phụ thuộc trực tiếp vào năng lực lãnh đạo của các tổ chức cơ sở đảng và sự chủ động, nhạy bén của đội ngũ cán bộ chính trị. Vì vậy, cấp ủy các cấp cần thường xuyên nâng cao chất lượng lãnh đạo toàn diện, gắn công tác xây dựng Đảng với xây dựng đơn vị vững mạnh về chính trị, tư tưởng và tổ chức.
Đội ngũ chính ủy, chính trị viên và cán bộ làm công tác đảng, công tác chính trị ở cơ sở, nhất là tại các đơn vị huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu, phải thực sự gần gũi, sâu sát, trở thành “người anh, người chị, người bạn” tin cậy của bộ đội. Điều đó đòi hỏi phải bám sát thực tiễn đời sống đơn vị, nắm chắc các mối quan hệ xã hội, hoàn cảnh gia đình cũng như tâm tư, nguyện vọng của từng cán bộ, chiến sĩ. Trên cơ sở đó, kịp thời phát hiện, giải quyết thấu đáo các vấn đề nảy sinh ngay từ ban đầu, không để tích tụ thành điểm nóng.
Đồng thời, cần chủ động định hướng tư tưởng, tăng cường đối thoại dân chủ, tạo môi trường cởi mở để bộ đội bày tỏ suy nghĩ, qua đó củng cố niềm tin, sự gắn bó với đơn vị và tổ chức. Kiên quyết không để xuất hiện “khoảng trống tư tưởng”, những điểm yếu dễ bị các thế lực thù địch lợi dụng, kích động, lôi kéo. Đây chính là giải pháp then chốt để giữ vững sự ổn định từ bên trong, xây dựng Quân đội vững mạnh về chính trị trong mọi điều kiện, hoàn cảnh.
Thứ tư, nâng cao hiệu quả tác chiến trên không gian mạng của Ban Chỉ đạo 35 và Lực lượng 47 các cấp. Trước sự gia tăng của các hoạt động chống phá bằng công nghệ cao, cần tập trung xây dựng Lực lượng 47 thực sự là lực lượng nòng cốt, tinh nhuệ, vừa vững về bản lĩnh chính trị, vừa giỏi về chuyên môn, làm chủ công nghệ hiện đại. Đội ngũ này phải có kiến thức sâu về lý luận, nhạy bén trong nhận diện thông tin xấu độc, đồng thời thành thạo các kỹ năng đấu tranh trên không gian mạng.
Bên cạnh đó, cần tăng cường cơ chế phối hợp, hiệp đồng chặt chẽ giữa Lực lượng 47 trong Quân đội với các lực lượng chuyên trách của Công an, ngành Thông tin – Truyền thông và hệ thống báo chí cách mạng, tạo thành sức mạnh tổng hợp trên mặt trận tư tưởng – truyền thông. Việc xây dựng các kịch bản, phương án đấu tranh phải được tiến hành bài bản, khoa học, theo hướng đa tầng, đa lớp, bảo đảm vừa chủ động, vừa linh hoạt trong xử lý tình huống.
Đồng thời, cần kết hợp chặt chẽ giữa “xây” và “chống”: chủ động cung cấp thông tin chính thống, kịp thời định hướng dư luận, tạo “dòng chảy chủ lưu” tích cực trên không gian mạng; song song với đó là phát hiện sớm, bóc gỡ, xử lý hiệu quả các tài khoản, hội nhóm phát tán thông tin sai trái, xuyên tạc về Quân đội. Qua đó, từng bước làm chủ không gian mạng, giữ vững trận địa tư tưởng trong tình hình mới.
Phương châm “Hai kiên định, hai đẩy mạnh và hai ngăn ngừa” không chỉ dừng lại ở một khẩu hiệu hành động, mà là sự kết tinh sâu sắc của tư duy quân sự biện chứng, phản ánh tầm nhìn chiến lược của Đảng trong điều kiện lịch sử mới. Đây là hệ quy chiếu căn bản để định vị và phát huy sức mạnh tổng hợp của Quân đội: lấy kiên định về chính trị làm nền tảng cốt lõi; lấy đẩy mạnh xây dựng, hiện đại hóa và hội nhập làm động lực phát triển; và lấy chủ động ngăn ngừa làm tuyến phòng thủ vững chắc từ sớm, từ xa.
Trong “chiến trường không tiếng súng” trên không gian mạng, trận địa tư tưởng đã và đang trở thành nơi diễn ra sự đấu tranh quyết liệt nhất. Ở đó, mọi biểu hiện mơ hồ về nhận thức, dao động về lập trường đều có thể bị khai thác, chuyển hóa thành nguy cơ suy giảm bản lĩnh chính trị. Vì vậy, việc thực hành nhất quán tinh thần “7 dám” gắn với đẩy mạnh chuyển đổi số không chỉ nhằm giành ưu thế trong không gian thông tin, mà sâu xa hơn là để xây dựng thế trận tư tưởng và thế trận lòng dân vững chắc từ bên trong mỗi con người. Khi mỗi cán bộ, chiến sĩ thực sự là một “pháo đài chính trị”, một “cột mốc văn hóa” kiên định, thì mọi âm mưu “phi chính trị hóa” hay các luồng thông tin xấu độc sẽ không còn đất để thâm nhập và lan rộng.
Đồng thời, việc triển khai đồng bộ các giải pháp từ nâng cao bản lĩnh chính trị, đổi mới phương thức giáo dục, phát huy vai trò của cấp ủy, đến làm chủ không gian mạng và tăng cường sức mạnh hiệp đồng giữa các lực lượng sẽ tạo nên thế trận tổng hợp vững chắc cả về “xây” và “chống”. Đây chính là cơ chế tự bảo vệ từ bên trong, giúp Quân đội không chỉ đứng vững trước mọi tác động tiêu cực mà còn chủ động tiến công trên mặt trận tư tưởng, lý luận, làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn chống phá.
Bước vào giai đoạn phát triển mới với những biến động nhanh, phức tạp của tình hình thế giới và khu vực, Quân đội nhân dân Việt Nam, với bản chất cách mạng được tôi luyện qua thực tiễn đấu tranh lâu dài sẽ tiếp tục khẳng định vai trò là lực lượng chính trị tuyệt đối trung thành, là công cụ bạo lực sắc bén trong sự nghiệp bảo vệ Đảng, Nhà nước và Nhân dân. Giữ vững trận địa tư tưởng theo phương châm đã đề ra không chỉ là yêu cầu chính trị tất yếu, mà còn là trách nhiệm danh dự của mỗi quân nhân. Đó chính là cơ sở để bảo đảm “thanh kiếm” luôn sắc bén, “lá chắn” luôn vững chắc, góp phần giữ vững ổn định chính trị, tạo nền tảng cho đất nước phát triển bền vững, xứng đáng với niềm tin cậy của Đảng và tình cảm của Nhân dân trong mọi thời đại.
Tác giả: Thiếu tá Lê Minh Tân/Học viện Chính trị, Bộ Quốc phòng
Biên tập, chỉnh sửa nội dung: Thế Nguyễn/Tạp chí Đông Nam Á.
Danh mục tài liệu tham khảo
1. Tô Lâm (2024), Bài phát biểu chỉ đạo của Tổng Bí thư tại các hội nghị quan trọng của Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng về định hướng xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam trong kỷ nguyên mới (Nguồn gốc của phương châm “2 kiên định, 2 đẩy mạnh, 2 ngăn ngừa”).
2. Bộ Chính trị (2018), Nghị quyết số 35-NQ/TW ngày 22/10/2018 về tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội.
3. Đảng Cộng sản Việt Nam (2026), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV (Tập 1, Tập 2), Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội.
4. Bộ Quốc phòng (2019), Quốc phòng Việt Nam (Sách trắng Quốc phòng năm 2019 – Cơ sở pháp lý và thực tiễn của chính sách quốc phòng “Bốn không”), Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội.
5. Hồ Chí Minh (2011), Toàn tập, Tập 7 (Các quan điểm về xây dựng Quân đội mang bản chất giai cấp công nhân), Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội.
6. Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam (2025), Tài liệu nghiên cứu, học tập quán triệt Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ Quân đội lần thứ XII, nhiệm kỳ 2025 – 2030, Nhà xuất bản Quân đội nhân dân, Hà Nội.


