Thứ Năm, Tháng 4 23, 2026
* Email: bbt.dongnama@gmail.com *Tòa soạn: 0989011688 - 0768908888
spot_img
[gtranslate]

Kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội – “Sợi chỉ đỏ” xuyên suốt đường lối đổi mới của Đảng Cộng sản Việt Nam



ĐNA -

Độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội là con đường chiến lược được Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đảng và dân tộc lựa chọn từ mùa xuân 1930. Sự kiên định mục tiêu ấy dưới lá cờ của Đảng đã đưa cách mạng Việt Nam liên tiếp giành thắng lợi. Qua 40 năm đổi mới, “sợi chỉ đỏ” này tiếp tục là điểm tựa bản lĩnh, giúp Đảng Cộng sản Việt Nam vững vàng trước biến động thời cuộc. Bài viết làm rõ nhận thức của Đảng về kiên định mục tiêu đó, đồng thời đề xuất giải pháp phát huy trong kỷ nguyên mới.

Độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội là con đường chiến lược được Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đảng và dân tộc lựa chọn từ mùa xuân 1930.

Nhận thức của Đảng về kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội trong 40 năm đổi mới
Trong bối cảnh tình hình thế giới và trong nước cuối thập niên 1980 diễn biến phức tạp, khủng hoảng kinh tế – xã hội kéo dài, cơ chế quản lý cũ bộc lộ nhiều hạn chế, Đại hội VI của Đảng Cộng sản Việt Nam (12/1986) đã đề ra đường lối đổi mới toàn diện đất nước. Điểm nhất quán mang tính nguyên tắc là, cùng với đổi mới tư duy và phương thức phát triển, Đảng vẫn kiên định mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội. Đại hội nhấn mạnh việc tiếp tục giương cao ngọn cờ hòa bình, độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; kết hợp chặt chẽ chủ nghĩa yêu nước với chủ nghĩa quốc tế trong sáng; giữ vững độc lập, tự chủ, đồng thời mở rộng hợp tác quốc tế, thực hiện tốt cả nhiệm vụ dân tộc và nghĩa vụ quốc tế.

Sau Đại hội VI, công cuộc đổi mới được triển khai đồng bộ trên nhiều lĩnh vực, trước hết là đổi mới kinh tế với trọng tâm chuyển từ cơ chế tập trung quan liêu bao cấp sang cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước. Những bước đi ban đầu như khoán trong nông nghiệp (tiêu biểu là Khoán 10 năm 1988), cải cách giá – lương – tiền, từng bước xóa bỏ bao cấp đã tạo chuyển biến tích cực: sản xuất được khôi phục, đời sống nhân dân từng bước cải thiện, đất nước thoát khỏi tình trạng thiếu hụt lương thực kéo dài. Thực tiễn này khẳng định tính đúng đắn và sáng tạo của đường lối đổi mới.

Tuy vậy, trong những năm đầu triển khai, kết quả đạt được chưa thật sự vững chắc và đồng đều; nền kinh tế vẫn đối mặt với lạm phát cao, mất cân đối vĩ mô, đời sống một bộ phận nhân dân còn nhiều khó khăn. Khi công cuộc đổi mới đi vào chiều sâu, hàng loạt vấn đề mới nảy sinh, đòi hỏi tư duy lý luận và năng lực tổ chức thực tiễn phải tiếp tục được hoàn thiện. Trong bối cảnh đó, đã xuất hiện hai khuynh hướng cần cảnh giác: một là tư tưởng bảo thủ, dễ quay lại mô hình cũ khi gặp khó khăn; hai là xu hướng đổi mới thiếu nguyên tắc, xa rời định hướng xã hội chủ nghĩa.

Trước yêu cầu cấp bách phải định hướng đúng đắn cho quá trình đổi mới, Hội nghị Trung ương 6 khóa VI (3-1989) đã đề ra hệ quan điểm chỉ đạo quan trọng, nhấn mạnh việc quán triệt các nguyên tắc cơ bản. Cốt lõi là khẳng định con đường đi lên chủ nghĩa xã hội là tất yếu khách quan của Việt Nam, đồng thời làm rõ bản chất của đổi mới: không phải thay đổi mục tiêu mà là tìm kiếm phương thức, bước đi và giải pháp phù hợp để hiện thực hóa mục tiêu đó một cách hiệu quả hơn. Quan điểm này thể hiện tầm nhìn chiến lược, sự tỉnh táo và bản lĩnh của Đảng trong bối cảnh quốc tế có nhiều biến động lớn, đặc biệt là sự khủng hoảng và tan rã của mô hình xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và Đông Âu vào cuối những năm 1980, đầu những năm 1990.

Nhìn tổng thể, giai đoạn sau Đại hội VI không chỉ là bước khởi đầu của đổi mới mà còn là thời kỳ định hình những nguyên tắc nền tảng, bảo đảm cho công cuộc đổi mới ở Việt Nam phát triển đúng hướng, giữ vững mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội trong điều kiện mới.

Tiếp nối tinh thần đổi mới, Đại hội VII (6-1991) của Đảng Cộng sản Việt Nam diễn ra trong bối cảnh quốc tế có nhiều biến động sâu sắc, đặc biệt là sự khủng hoảng và tan rã của mô hình xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và Đông Âu. Trước những tác động đó, Đại hội đã thể hiện rõ bản lĩnh chính trị khi khẳng định phải giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa trong quá trình đổi mới; kết hợp chặt chẽ giữa kiên định nguyên tắc, chiến lược với sự linh hoạt về sách lược, chủ động tiếp thu cái mới. Đại hội nhấn mạnh con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam là tất yếu khách quan; đồng thời chỉ rõ cần nhìn nhận đúng đắn những hạn chế, sai lầm trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội, tránh cực đoan phủ định sạch trơn thành tựu hoặc dao động về mục tiêu, lý tưởng.

Một dấu mốc lý luận quan trọng của Đại hội VII là việc thông qua Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (Cương lĩnh năm 1991). Văn kiện này đã tổng kết sâu sắc thực tiễn cách mạng Việt Nam, khẳng định bài học có tính quy luật: kiên định ngọn cờ độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội. Cương lĩnh làm rõ mối quan hệ biện chứng giữa hai mục tiêu chiến lược: độc lập dân tộc là điều kiện tiên quyết để xây dựng chủ nghĩa xã hội, còn chủ nghĩa xã hội là nền tảng bảo đảm vững chắc cho độc lập dân tộc. Đồng thời, văn kiện cũng xác định rõ hai nhiệm vụ chiến lược xuyên suốt là xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, có quan hệ hữu cơ, tác động qua lại lẫn nhau trong toàn bộ tiến trình cách mạng.

Trên cơ sở đó, các kỳ Đại hội VIII (1996), IX (2001) và X (2006) tiếp tục phát triển và hoàn thiện nhận thức lý luận của Đảng, nhất quán khẳng định phải kiên trì mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội trên nền tảng chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh. Những năm này cũng ghi nhận nhiều thành tựu quan trọng của công cuộc đổi mới: nền kinh tế tăng trưởng liên tục, cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa; Việt Nam mở rộng hội nhập quốc tế với các dấu mốc như gia nhập ASEAN (1995) và WTO (2007). Thực tiễn đó càng củng cố luận điểm: đổi mới không phải là từ bỏ mục tiêu xã hội chủ nghĩa, mà là làm cho mục tiêu ấy được nhận thức đầy đủ hơn và thực hiện hiệu quả hơn trong điều kiện mới.

Đến Đại hội XI (01-2011), trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, Đảng tiếp tục nhấn mạnh tính nhất quán của bài học chiến lược: kiên định ngọn cờ độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội – di sản tư tưởng mà Chủ tịch Hồ Chí Minh để lại. Đại hội khẳng định rõ mối quan hệ không thể tách rời giữa hai nhiệm vụ chiến lược là xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa; đồng thời yêu cầu trong mọi hoàn cảnh phải kiên trì đường lối đổi mới, giữ vững nguyên tắc, đồng thời vận dụng sáng tạo và phát triển chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh phù hợp với thực tiễn đất nước và xu thế thời đại.

Như vậy, qua các kỳ Đại hội từ VII đến XI, nhận thức lý luận của Đảng về con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ngày càng được bổ sung, phát triển và hoàn thiện, thể hiện rõ sự kiên định về mục tiêu chiến lược đi đôi với sự linh hoạt, sáng tạo trong phương thức thực hiện, đáp ứng yêu cầu của từng giai đoạn lịch sử cụ thể.

Nhìn lại 30 năm đổi mới trên cả hai phương diện thành tựu và hạn chế, Đại hội XII (01-2016) của Đảng Cộng sản Việt Nam đã đưa ra yêu cầu có tính phương pháp luận sâu sắc: trong quá trình đổi mới phải luôn chủ động, không ngừng sáng tạo nhưng trên nền tảng kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Đại hội nhấn mạnh việc vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; đồng thời kế thừa truyền thống dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại và chọn lọc kinh nghiệm quốc tế phù hợp với điều kiện cụ thể của Việt Nam. Đây là bước phát triển quan trọng trong tư duy lý luận, thể hiện rõ yêu cầu kết hợp giữa tính nguyên tắc và tính linh hoạt trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập sâu rộng.

Tiếp đó, Đại hội XIII (02-2021) tiếp tục khẳng định mạnh mẽ hơn nữa tính nhất quán của mục tiêu chiến lược, coi việc kiên định độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội là vấn đề mang tính nguyên tắc, có ý nghĩa sống còn đối với chế độ. Trong bối cảnh cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn gia tăng, cùng với những thách thức an ninh phi truyền thống như biến đổi khí hậu, dịch bệnh và chuyển đổi số, quan điểm này không chỉ mang ý nghĩa chính trị mà còn là định hướng xuyên suốt cho phát triển bền vững đất nước. Đại hội đồng thời nhấn mạnh yêu cầu nâng cao năng lực cầm quyền của Đảng, hiệu lực quản lý của Nhà nước và phát huy sức mạnh toàn dân tộc nhằm hiện thực hóa mục tiêu phát triển nhanh và bền vững.

Tổng kết 40 năm đổi mới, Đại hội XIV (02-2026) tiếp tục làm sâu sắc hơn nội hàm của mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội trong điều kiện mới. Theo đó, độc lập dân tộc không chỉ được hiểu ở phương diện chủ quyền lãnh thổ, mà còn bao hàm năng lực tự chủ toàn diện của quốc gia, đặc biệt là tự chủ về kinh tế, làm chủ khoa học – công nghệ, bảo đảm an ninh năng lượng, an ninh lương thực và giữ vững chủ quyền trên không gian mạng. Song song với đó, chủ nghĩa xã hội được cụ thể hóa bằng mô hình phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa hiện đại, trong đó tăng trưởng kinh tế gắn chặt với tiến bộ, công bằng xã hội, bảo đảm an sinh và nâng cao chất lượng quản trị quốc gia theo hướng tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả.

Đáng chú ý, Đại hội XIV đã nâng tầm nhận thức về mối quan hệ biện chứng giữa hai yếu tố này: độc lập dân tộc là tiền đề quyết định để lựa chọn và thực thi con đường phát triển, còn chủ nghĩa xã hội là phương thức tối ưu để xây dựng tiềm lực quốc gia, củng cố nền tảng vật chất – tinh thần, từ đó bảo đảm độc lập dân tộc một cách vững chắc, lâu dài. Sự gắn kết hữu cơ này tạo nên sức mạnh tổng hợp, định hướng cho mục tiêu chiến lược đưa Việt Nam trở thành quốc gia phát triển, thu nhập cao vào năm 2045.

Có thể khẳng định, trong suốt 40 năm đổi mới, mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội luôn được Đảng kiên định, bảo vệ và phát triển một cách sáng tạo, phù hợp với từng giai đoạn lịch sử. Sự kiên định đó không mang tính bảo thủ mà thể hiện bản lĩnh chính trị, tư duy khoa học và năng lực thích ứng linh hoạt trước những biến động nhanh chóng của tình hình thế giới và trong nước. Đồng thời, đây cũng chính là ngọn cờ quy tụ, củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc, tạo nền tảng để đất nước ta không ngừng nâng cao tiềm lực, vị thế và uy tín trên trường quốc tế trong thời kỳ mới.

Kết quả đạt được từ sự kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội trong 40 năm đổi mới

Kiên định mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội trong suốt 40 năm đổi mới, Việt Nam đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử trên nhiều lĩnh vực. Thành tựu nổi bật, mang tính bao trùm là giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa trong khi vận hành linh hoạt, sáng tạo cơ chế thị trường, qua đó đưa đất nước thoát khỏi tình trạng kém phát triển, vươn lên trở thành quốc gia đang phát triển có thu nhập trung bình, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế sâu rộng.

Về kinh tế, việc phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa đã giải phóng mạnh mẽ lực lượng sản xuất, tạo động lực tăng trưởng bền vững. Đến năm 2025, quy mô GDP của Việt Nam đạt trên 514 tỉ USD, nằm trong nhóm 35 nền kinh tế lớn nhất thế giới và thuộc nhóm dẫn đầu khu vực ASEAN; GDP bình quân đầu người đạt trên 5.000 USD, đưa Việt Nam gia nhập nhóm nước có thu nhập trung bình cao. Quan trọng hơn, chất lượng tăng trưởng được cải thiện rõ rệt, chuyển dịch theo hướng dựa trên đổi mới sáng tạo, khoa học – công nghệ, kinh tế số và kinh tế xanh. Nhiều tập đoàn kinh tế trong nước đã hình thành và phát triển, từng bước khẳng định năng lực cạnh tranh trên thị trường khu vực và quốc tế, góp phần nâng cao nội lực của nền kinh tế.

Song hành với phát triển kinh tế, Việt Nam duy trì ổn định chính trị – xã hội, được xem là một trong những lợi thế cạnh tranh chiến lược trong bối cảnh toàn cầu nhiều biến động. Đảng Cộng sản Việt Nam không ngừng đẩy mạnh tự đổi mới, tự chỉnh đốn; xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của Nhân dân, do Nhân dân và vì Nhân dân. Quyền làm chủ của người dân ngày càng được phát huy thông qua các cơ chế dân chủ thực chất. Đặc biệt, công cuộc phòng, chống tham nhũng, tiêu cực được triển khai quyết liệt, đồng bộ đã góp phần làm trong sạch bộ máy, củng cố niềm tin của nhân dân đối với Đảng và Nhà nước.

Trên lĩnh vực xã hội, Việt Nam đạt nhiều thành tựu nổi bật, được cộng đồng quốc tế đánh giá cao. Tỷ lệ hộ nghèo giảm mạnh từ trên 70% vào những năm đầu đổi mới xuống mức rất thấp hiện nay; nhiều mục tiêu trong Chương trình phát triển của Liên hợp quốc được hoàn thành trước thời hạn. Các chính sách an sinh xã hội ngày càng toàn diện, bảo đảm nguyên tắc phát triển bao trùm “không để ai bị bỏ lại phía sau”. Chất lượng giáo dục, y tế được nâng cao; tuổi thọ trung bình và chỉ số phát triển con người (HDI) không ngừng cải thiện, phản ánh sự tiến bộ toàn diện về chất lượng cuộc sống và sự phát triển con người.

Về văn hóa, những giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc được bảo tồn và phát huy, đồng thời tiếp thu có chọn lọc tinh hoa văn hóa nhân loại. Văn hóa ngày càng được xác định là nền tảng tinh thần của xã hội, là nguồn lực nội sinh quan trọng cho phát triển bền vững. Tinh thần yêu nước, ý chí tự cường và khối đại đoàn kết toàn dân tộc tiếp tục được củng cố, trở thành động lực to lớn trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Trong lĩnh vực đối ngoại, Việt Nam đã chuyển mình mạnh mẽ từ một quốc gia bị bao vây, cấm vận trở thành đối tác tin cậy, thành viên có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế. Quan hệ đối ngoại được mở rộng, nâng tầm với nhiều quốc gia, trong đó có các cường quốc và các tổ chức đa phương quan trọng như ASEAN và Liên hợp quốc. Vai trò, vị thế và uy tín quốc tế của Việt Nam ngày càng được nâng cao, thể hiện qua sự tham gia chủ động, tích cực vào các cơ chế hợp tác khu vực và toàn cầu, cũng như những đóng góp thiết thực vào hòa bình, ổn định và phát triển.

Về quốc phòng, an ninh, Việt Nam kiên quyết, kiên trì bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ; xây dựng nền quốc phòng toàn dân và thế trận an ninh nhân dân vững chắc. Lực lượng vũ trang được xây dựng theo hướng chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại; năng lực bảo đảm an ninh quốc gia không ngừng được nâng cao, bao gồm cả các lĩnh vực mới như an ninh mạng và các thách thức an ninh phi truyền thống.

Đặc biệt, trong bối cảnh Cách mạng công nghiệp lần thứ tư diễn ra mạnh mẽ, Việt Nam đã tận dụng hiệu quả các cơ hội từ chuyển đổi số, đổi mới sáng tạo để nâng cao năng suất lao động và năng lực cạnh tranh quốc gia. Nền kinh tế số phát triển nhanh, hệ sinh thái khởi nghiệp đổi mới sáng tạo từng bước hình thành, tạo nền tảng quan trọng cho tăng trưởng trong giai đoạn tới.

Tổng thể, những thành tựu đạt được sau 40 năm đổi mới là minh chứng sinh động cho tính đúng đắn của đường lối phát triển mà Đảng đã lựa chọn. Đây không chỉ là kết quả của sự kiên định mục tiêu chiến lược, mà còn là thành quả của quá trình vận dụng sáng tạo lý luận vào thực tiễn, phát huy tối đa sức mạnh tổng hợp của toàn dân tộc trong điều kiện mới.

Bên cạnh những thành tựu có ý nghĩa lịch sử, sau 40 năm đổi mới, Việt Nam vẫn đang đối mặt với không ít hạn chế và thách thức mang tính cơ cấu. Trước hết, chất lượng tăng trưởng kinh tế tuy được cải thiện nhưng chưa thật sự bền vững; năng suất lao động và năng lực cạnh tranh quốc gia còn khoảng cách đáng kể so với nhiều nước trong khu vực ASEAN. Quá trình chuyển đổi mô hình tăng trưởng từ chiều rộng sang chiều sâu diễn ra còn chậm; nền kinh tế vẫn phụ thuộc tương đối lớn vào khai thác tài nguyên, lao động chi phí thấp và khu vực đầu tư nước ngoài, trong khi khu vực kinh tế trong nước, nhất là công nghiệp hỗ trợ và doanh nghiệp nhỏ và vừa, chưa phát huy được vai trò nền tảng.

Hệ thống kết cấu hạ tầng, dù đã được quan tâm đầu tư, song vẫn thiếu đồng bộ, đặc biệt là hạ tầng giao thông chiến lược và hạ tầng số, tạo ra những “nút thắt” cản trở quá trình phát triển nhanh và bền vững. Trong khi đó, yêu cầu của Cách mạng công nghiệp lần thứ tư đòi hỏi phải có sự bứt phá mạnh mẽ hơn về đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao.

Về chính trị – xã hội, công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng Cộng sản Việt Nam và hệ thống chính trị đạt nhiều kết quả tích cực, song vẫn còn những biểu hiện đáng lo ngại. Tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận cán bộ, đảng viên chưa được ngăn chặn triệt để; hiện tượng “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, quan liêu, tham nhũng vẫn còn diễn biến phức tạp, ảnh hưởng đến hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước và niềm tin của nhân dân.

Trên phương diện xã hội, khoảng cách phát triển giữa các vùng, miền và giữa các nhóm dân cư có xu hướng gia tăng. Chất lượng dịch vụ y tế, giáo dục, đặc biệt ở vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, vẫn còn nhiều hạn chế. Các vấn đề an sinh xã hội, già hóa dân số, việc làm bền vững đặt ra những yêu cầu mới đối với hệ thống chính sách công.

Bên cạnh đó, ô nhiễm môi trường và tác động ngày càng nghiêm trọng của biến đổi khí hậu đang trở thành thách thức lớn, trực tiếp ảnh hưởng đến sinh kế, an ninh nguồn nước, an ninh lương thực và mục tiêu phát triển bền vững của đất nước. Việt Nam là một trong những quốc gia chịu tác động mạnh của nước biển dâng và thời tiết cực đoan, đòi hỏi phải có các giải pháp thích ứng và giảm thiểu hiệu quả hơn.

Ngoài ra, hệ thống cơ chế, chính sách trong một số lĩnh vực còn chồng chéo, thiếu đồng bộ, chưa thực sự khơi thông và huy động hiệu quả các nguồn lực xã hội. Hiệu quả quản trị quốc gia, cải cách hành chính ở một số bộ, ngành và địa phương còn mang tính hình thức, chưa theo kịp yêu cầu của nền kinh tế số và hội nhập quốc tế sâu rộng. Những “điểm nghẽn” này nếu không được tháo gỡ kịp thời sẽ ảnh hưởng đến tốc độ và chất lượng phát triển trong giai đoạn tới.

Nhìn tổng thể, các hạn chế, thách thức nêu trên vừa phản ánh tính tất yếu của một nền kinh tế đang trong quá trình chuyển đổi, vừa đặt ra yêu cầu cấp thiết phải tiếp tục đổi mới mạnh mẽ hơn nữa về tư duy, thể chế và phương thức quản trị, nhằm bảo đảm phát triển nhanh, bền vững trong giai đoạn mới.

Những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử sau 40 năm đổi mới là minh chứng sinh động cho bản lĩnh chính trị, trí tuệ và năng lực lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Thực tiễn phát triển của đất nước đã khẳng định tính đúng đắn của con đường mà Đảng và dân tộc Việt Nam lựa chọn: kiên định mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, đồng thời vận dụng sáng tạo, linh hoạt vào điều kiện cụ thể của từng giai đoạn lịch sử.

Những kết quả đạt được không chỉ mang giá trị thực tiễn sâu sắc mà còn có ý nghĩa lý luận và chính trị quan trọng, góp phần củng cố niềm tin của nhân dân đối với sự lãnh đạo của Đảng và triển vọng phát triển của đất nước. Đồng thời, đây cũng là cơ sở thực tiễn vững chắc để đấu tranh, phản bác các quan điểm sai trái, thù địch phủ nhận mục tiêu, lý tưởng xã hội chủ nghĩa, xuyên tạc con đường phát triển của Việt Nam, hoặc phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng và những thành tựu của công cuộc đổi mới.

Trên nền tảng đó, Việt Nam đang hội tụ những điều kiện thuận lợi để bước vào giai đoạn phát triển mới. Đây là giai đoạn đòi hỏi sự phát huy cao độ tinh thần đoàn kết, ý chí tự cường và khát vọng phát triển của toàn dân tộc, dưới sự lãnh đạo của Đảng. Mỗi người dân Việt Nam, dù ở trong nước hay ở nước ngoài, đều là một chủ thể quan trọng trong tiến trình này, cùng chung mục tiêu tận dụng thời cơ, vượt qua thách thức, phát huy tối đa nội lực kết hợp với ngoại lực.

Hướng tới tương lai, nhiệm vụ đặt ra là tiếp tục giữ vững định hướng chiến lược, đồng thời đẩy mạnh đổi mới sáng tạo, hoàn thiện thể chế, nâng cao chất lượng tăng trưởng, phát triển nhanh và bền vững. Mục tiêu xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, độc lập, dân chủ, giàu mạnh, phồn vinh, văn minh và hạnh phúc không chỉ là khát vọng mà đang từng bước được hiện thực hóa bằng những thành tựu cụ thể, vững chắc, tiếp tục đưa đất nước tiến lên con đường xã hội chủ nghĩa trong điều kiện mới.

Một số giải pháp góp phần tiếp tục giữ vững, phát huy ngọn cờ độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội trong kỷ nguyên mới.

Hiện nay, Việt Nam đang bước vào một kỷ nguyên phát triển mới trong bối cảnh thế giới có nhiều biến động nhanh chóng, phức tạp, khó lường, vừa tạo ra thời cơ, vừa đặt ra không ít thách thức. Do đó, việc tiếp tục kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội trong bối cảnh hiện nay cũng chính là sự kế thừa và phát huy phương châm “dĩ bất biến, ứng vạn biến”.

Để tiếp tục giữ vững và phát huy bài học “kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội”, cần triển khai đồng bộ, hiệu quả một số giải pháp sau:

Một là, không ngừng đổi mới tư duy lý luận; vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; đồng thời tiếp tục bổ sung, hoàn thiện lý luận về đường lối đổi mới. Thực tiễn cho thấy, lý luận chỉ thực sự phát huy vai trò khi đi trước một bước, làm cơ sở định hướng và dẫn dắt hành động. Trong kỷ nguyên phát triển mới, Đảng Cộng sản Việt Nam xác định rõ yêu cầu kiên định phải gắn liền với đổi mới và phát triển, tránh cả hai khuynh hướng: bảo thủ, trì trệ hoặc xa rời nguyên tắc.

Giải pháp này đòi hỏi phải bám sát thực tiễn sinh động của đất nước, tổng kết sâu sắc quá trình đổi mới để nhận diện và khái quát các quy luật vận động, phát triển đặc thù của Việt Nam. Trên cơ sở đó, tiếp tục làm rõ nội hàm, đặc trưng và phương thức vận hành của mô hình chủ nghĩa xã hội Việt Nam trong điều kiện kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế. Việc xây dựng một hệ thống lý luận vững chắc cần tập trung giải quyết hiệu quả các mối quan hệ lớn, như giữa đổi mới và ổn định, giữa phát triển kinh tế và bảo đảm tiến bộ, công bằng xã hội, giữa độc lập, tự chủ và hội nhập quốc tế.

Cùng với đó, công tác tư tưởng phải được tăng cường toàn diện, chủ động bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng, kịp thời nhận diện và đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, đặc biệt là những luận điệu xuyên tạc, tìm cách tách rời độc lập dân tộc khỏi chủ nghĩa xã hội. Việc củng cố niềm tin của nhân dân cần dựa trên cả cơ sở lý luận khoa học và thực tiễn sinh động của đất nước, qua đó chuyển hóa lý luận thành sức mạnh vật chất, tạo sự thống nhất về nhận thức và hành động trong toàn xã hội.

Hai là, đẩy mạnh phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa gắn với yêu cầu của Cách mạng công nghiệp lần thứ tư. Thực tiễn cho thấy, độc lập dân tộc chỉ được bảo đảm vững chắc khi đặt trên nền tảng một nền kinh tế tự chủ, có nội lực mạnh và khả năng thích ứng cao trước những biến động toàn cầu. Vì vậy, trong kỷ nguyên vươn mình, Việt Nam cần tạo đột phá chiến lược về thể chế, hoàn thiện môi trường kinh doanh minh bạch, ổn định, qua đó khơi thông và huy động hiệu quả mọi nguồn lực xã hội cho phát triển.

Trọng tâm của quá trình này là phát huy đầy đủ vai trò của các thành phần kinh tế, trong đó kinh tế tư nhân ngày càng khẳng định là một động lực quan trọng của nền kinh tế. Tuy nhiên, định hướng xã hội chủ nghĩa phải được thể hiện rõ qua vai trò kiến tạo và điều tiết của Nhà nước, nhằm bảo đảm các cân đối lớn, giữ vững an ninh kinh tế quốc gia và thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội ngay trong từng bước phát triển. Sự kết hợp hài hòa giữa “bàn tay thị trường” và “bàn tay Nhà nước” chính là yếu tố quyết định tính đặc thù và ưu việt của mô hình phát triển ở Việt Nam.

Cùng với đó, cần thúc đẩy mạnh mẽ chuyển dịch mô hình tăng trưởng theo chiều sâu, dựa trên khoa học – công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. Việc xác định “lấy khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số làm động lực chính” không chỉ giúp nâng cao năng suất lao động mà còn tạo nền tảng cho tăng trưởng bền vững và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia. Làm chủ công nghệ, phát triển hệ sinh thái đổi mới sáng tạo và xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao sẽ tạo ra “lá chắn” nội sinh, giúp nền kinh tế tránh nguy cơ phụ thuộc, không bị cuốn vào vòng xoáy lệ thuộc hay trở thành nơi tiếp nhận công nghệ lạc hậu.

Bên cạnh đó, việc phát triển kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn cần được coi là định hướng xuyên suốt, nhằm bảo đảm sự phát triển hài hòa giữa kinh tế và môi trường. Đây không chỉ là yêu cầu tất yếu trong bối cảnh toàn cầu đang đối mặt với thách thức về tài nguyên và biến đổi khí hậu, mà còn phản ánh bản chất nhân văn, tiến bộ của chủ nghĩa xã hội – phát triển vì con người, vì chất lượng cuộc sống và vì tương lai bền vững của các thế hệ mai sau.

Ba là, tiếp tục xây dựng, chỉnh đốn Đảng Cộng sản Việt Nam và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh toàn diện. Thực tiễn cho thấy, sức mạnh và tính bền vững của mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội phụ thuộc trực tiếp vào năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng. Vì vậy, trong giai đoạn phát triển mới, yêu cầu đặt ra là phải tiếp tục nâng cao chất lượng xây dựng Đảng cả về chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức và cán bộ.

Trọng tâm của giải pháp này là hoàn thiện cơ chế kiểm soát quyền lực, bảo đảm quyền lực được vận hành đúng đắn, minh bạch và hiệu quả. Cùng với đó, cần tiếp tục đẩy mạnh cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực một cách kiên quyết, kiên trì, với phương châm “không có vùng cấm, không có ngoại lệ”, qua đó củng cố kỷ luật, kỷ cương và niềm tin của nhân dân. Đảng phải thực sự tiêu biểu cho phẩm chất “là đạo đức, là văn minh” như lời căn dặn của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Khâu then chốt mang tính đột phá là công tác cán bộ. Cần tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cấp chiến lược, cấp cơ sở và người đứng đầu, có bản lĩnh chính trị vững vàng, phẩm chất đạo đức trong sáng, tư duy đổi mới và năng lực quản trị hiện đại. Đồng thời, phải thiết lập cơ chế đủ mạnh để khuyến khích, bảo vệ những cán bộ dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung; đi đôi với việc kiên quyết sàng lọc, loại bỏ những cá nhân suy thoái, cơ hội, không đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ theo nguyên tắc “có vào, có ra”, “có lên, có xuống”.

Bên cạnh đó, việc tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước và xã hội cần được thực hiện đồng bộ, bảo đảm sự lãnh đạo toàn diện nhưng không bao biện, làm thay; phát huy tính chủ động, sáng tạo và trách nhiệm của các cơ quan trong hệ thống chính trị. Qua đó, xây dựng một hệ thống vận hành thông suốt, hiệu lực, hiệu quả, gắn bó chặt chẽ với nhân dân, thực sự là trung tâm đoàn kết, quy tụ sức mạnh của toàn dân tộc trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Bốn là, phát huy mạnh mẽ vai trò chủ thể của Nhân dân, củng cố và tăng cường sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân tộc trong thực hiện các mục tiêu phát triển đất nước. Thực tiễn cách mạng Việt Nam khẳng định, chủ nghĩa xã hội là sự nghiệp của Nhân dân, do Nhân dân và vì Nhân dân; mọi đường lối, chính sách chỉ có thể đi vào cuộc sống khi được Nhân dân đồng thuận, ủng hộ và trực tiếp tham gia thực hiện.

Vì vậy, giải pháp có tính nền tảng là bảo đảm và phát huy thực chất quyền làm chủ của Nhân dân thông qua các cơ chế dân chủ, nhất là phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”. Cần tiếp tục hoàn thiện thể chế để người dân tham gia ngày càng sâu rộng vào quá trình hoạch định, thực thi và giám sát chính sách công. Khi quyền lợi chính đáng được bảo đảm, khi người dân cảm nhận rõ tính công bằng, minh bạch và nhân văn của chế độ, thì niềm tin xã hội sẽ được củng cố, từ đó hình thành động lực nội sinh mạnh mẽ để bảo vệ và phát triển đất nước theo định hướng đã lựa chọn.

Cùng với đó, cần đặc biệt coi trọng việc xây dựng và phát huy hệ giá trị văn hóa, con người Việt Nam trong thời đại mới. Văn hóa không chỉ là nền tảng tinh thần mà còn phải trở thành nguồn lực nội sinh, động lực và “hệ điều tiết mềm” cho sự phát triển bền vững. Việc bồi dưỡng các giá trị như yêu nước, đoàn kết, trách nhiệm xã hội, kỷ cương, sáng tạo… sẽ góp phần hình thành một xã hội đồng thuận, nhân văn và phát triển hài hòa.

Mặt khác, đại đoàn kết toàn dân tộc cần được mở rộng cả về chiều rộng và chiều sâu. Không chỉ tăng cường gắn kết giữa các giai tầng, vùng miền trong nước, mà còn phải phát huy hiệu quả nguồn lực to lớn từ cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài – những người mang trong mình tri thức, kinh nghiệm quốc tế và tình cảm gắn bó với quê hương. Việc kết nối, thu hút và phát huy nguồn lực này sẽ tạo nên sức mạnh tổng hợp, góp phần đưa đất nước phát triển nhanh và bền vững trong kỷ nguyên mới.

Năm là, thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, tự cường; hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển; đồng thời đẩy mạnh đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ đối ngoại theo chiều sâu, nâng cao chất lượng và hiệu quả hội nhập quốc tế. Trong bối cảnh thế giới biến động nhanh, cạnh tranh địa chính trị ngày càng gay gắt, việc giữ vững độc lập dân tộc không chỉ dựa vào nội lực mà còn đòi hỏi nghệ thuật đối ngoại linh hoạt, khôn khéo nhưng kiên định về nguyên tắc.

Theo đó, Việt Nam cần tiếp tục phát huy bản sắc ngoại giao “cây tre” – mềm dẻo, linh hoạt nhưng vững vàng về lập trường; kiên trì đường lối đối ngoại độc lập, không liên minh quân sự, không liên kết với nước này để chống nước kia, không cho nước ngoài đặt căn cứ quân sự và không sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực trong quan hệ quốc tế. Đồng thời, triển khai đồng bộ, hiệu quả ba trụ cột đối ngoại: đối ngoại Đảng, ngoại giao Nhà nước và đối ngoại Nhân dân, qua đó tạo dựng thế đan xen lợi ích chiến lược với các đối tác, góp phần nâng cao mức độ tin cậy và hợp tác thực chất.

Bên cạnh đó, cần chủ động, tích cực tham gia và phát huy vai trò tại các cơ chế đa phương quan trọng như ASEAN, Liên hợp quốc và các diễn đàn khu vực, quốc tế khác. Không chỉ dừng lại ở việc hội nhập, Việt Nam cần từng bước tham gia đóng góp vào việc xây dựng, định hình các quy tắc, chuẩn mực chung, thể hiện vai trò là thành viên có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế.

Giải pháp này nhằm mục tiêu cao nhất là tạo lập và giữ vững môi trường hòa bình, ổn định, thuận lợi cho phát triển đất nước; đồng thời nâng cao vị thế, uy tín quốc tế của Việt Nam. Qua đó, góp phần bảo đảm vững chắc độc lập, chủ quyền quốc gia từ sớm, từ xa, kết hợp chặt chẽ giữa sức mạnh dân tộc và sức mạnh thời đại trong kỷ nguyên mới.

Sáu là, bảo vệ vững chắc Tổ quốc từ sớm, từ xa, không để bị động, bất ngờ trong mọi tình huống. Kiên định mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội luôn gắn bó chặt chẽ với nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, biển đảo và an ninh quốc gia. Trong bối cảnh mới, khái niệm an ninh đã được mở rộng toàn diện, bao trùm nhiều lĩnh vực như an ninh con người, an ninh chế độ, an ninh văn hóa – tư tưởng, an ninh kinh tế – tài chính, an ninh mạng – dữ liệu, an ninh năng lượng, an ninh lương thực và an ninh nguồn nước. Điều đó đòi hỏi tư duy bảo vệ Tổ quốc phải mang tính tổng thể, chủ động và thích ứng cao.

Giải pháp trọng tâm là xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, tuyệt đối trung thành với Tổ quốc, với Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước và Nhân dân; kiên định mục tiêu, lý tưởng cách mạng. Đồng thời, cần kết hợp chặt chẽ giữa phát triển kinh tế – xã hội với tăng cường quốc phòng, an ninh; gắn xây dựng tiềm lực quốc phòng với phát triển tiềm lực kinh tế, khoa học – công nghệ nhằm tạo nền tảng vững chắc cho bảo vệ đất nước trong mọi tình huống.

Một yếu tố có ý nghĩa quyết định là xây dựng “thế trận lòng dân” vững chắc nền tảng chính trị – xã hội của nền quốc phòng toàn dân và thế trận an ninh nhân dân. Khi Nhân dân đồng thuận, tin tưởng và tích cực tham gia, đó chính là “lá chắn” vững chắc nhất trước mọi nguy cơ xâm phạm chủ quyền và ổn định quốc gia.

Bên cạnh đó, cần đẩy mạnh phát triển công nghiệp quốc phòng, công nghiệp an ninh theo hướng tự chủ, tự lực, tự cường, lưỡng dụng và hiện đại. Việc nâng cao năng lực nghiên cứu, sản xuất, làm chủ công nghệ quốc phòng không chỉ tạo ra sức mạnh răn đe hiệu quả đối với mọi âm mưu xâm lược, mà còn góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế, nâng cao tiềm lực quốc gia. Qua đó, bảo đảm giữ vững môi trường hòa bình, ổn định lâu dài – điều kiện tiên quyết để xây dựng và phát triển đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa trong kỷ nguyên mới.

Tóm lại, độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội là quy luật phát triển tất yếu, là sợi chỉ đỏ xuyên suốt tiến trình cách mạng Việt Nam, làm nên những thắng lợi vĩ đại trong sự nghiệp giải phóng dân tộc trước đây và những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử trong 40 năm đổi mới vừa qua. Thực tiễn sinh động đó đã tạo dựng nên cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế ngày càng cao của đất nước ta. Đồng thời, đây cũng là minh chứng thuyết phục cho sự đúng đắn, khoa học và nhất quán trong lựa chọn con đường phát triển của Đảng Cộng sản Việt Nam – một lựa chọn phù hợp với quy luật lịch sử, thực tiễn đất nước và xu thế của thời đại.

Bước vào kỷ nguyên phát triển mới, với những thời cơ và thách thức đan xen, yêu cầu đặt ra là phải tiếp tục kiên định, kiên trì và vận dụng sáng tạo mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Phát huy sức mạnh tổng hợp của toàn dân tộc, kết hợp chặt chẽ giữa nội lực và ngoại lực, giữa truyền thống và hiện đại, Việt Nam có đủ cơ sở để vững bước tiến lên, hiện thực hóa khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, toàn dân tộc quyết tâm xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, độc lập, dân chủ, giàu mạnh, văn minh, vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội trong thời đại mới./.

Nhóm tác giả: ThS. Đào Duy Tùng, TS Bùi Nghĩa, ThS. Hồ Thức Tài /Học viện Chính trị Khu vực II

Tài liệu tham khảo
1. Đảng Cộng sản Việt Nam (2006), Văn kiện Đảng Toàn tập, tập 47, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
2. Đảng Cộng sản Việt Nam (2006), Văn kiện Đảng Toàn tập, tập 49, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
3. Đảng Cộng sản Việt Nam (2007), Văn kiện Đảng Toàn tập, tập 51, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
4. Đảng Cộng sản Việt Nam (2016), Văn kiện Đảng Toàn tập, tập 65, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội.
5. Đảng Cộng sản Việt Nam (2011), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội.
6. Đảng Cộng sản Việt Nam (2016), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội.
7. Đảng Cộng sản Việt Nam (2021), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, tập 1, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội.
8. Đảng Cộng sản Việt Nam (2026), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, tập 1, 2, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội.