Từ ngày 01/7/2025, mô hình chính quyền địa phương hai cấp chính thức được vận hành theo Luật Tổ chức chính quyền địa phương số 72/2025/QH15, đánh dấu bước chuyển căn bản trong tư duy quản trị ở Việt Nam. Nghiên cứu này tiếp cận dưới góc nhìn hệ thống, làm rõ cơ sở lý luận về phân cấp, phân quyền, đồng thời đối chiếu với kinh nghiệm thành công từ Nhật Bản, Đan Mạch và New Zealand.

Kết quả thực tiễn sau 06 tháng triển khai cho thấy những bước tiến đột phá trong tinh gọn bộ máy và thúc đẩy chuyển đổi số mạnh mẽ. Tuy nhiên, hệ thống đang đối mặt với các hạn chế cốt lõi: sự quá tải nhiệm vụ tại cấp xã, năng lực cán bộ chưa thích ứng, khoảng trống pháp lý, hạ tầng công nghệ chưa đồng bộ và rủi ro kiểm soát quyền lực. Trên cơ sở đó, bài viết đề xuất các nhóm giải pháp về hoàn thiện thể chế, tối ưu hóa nguồn lực con người, hiện đại hóa nền tảng số và thiết lập cơ chế liên xã nhằm vận hành hiệu quả mô hình quản trị mới trong kỷ nguyên mới.
Từ ngày 01/7/2025, Việt Nam chính thức chuyển đổi từ mô hình Chính quyền địa phương ba cấp (tỉnh, huyện, xã) sang mô hình hai cấp (tỉnh, xã) trên phạm vi cả nước. Việc bãi bỏ cấp hành chính trung gian – cấp huyện không đơn thuần là một phép trừ cơ học về tổ chức mà là sự thay đổi căn bản về phương thức vận hành quyền lực nhà nước tại địa phương. Mô hình mới đặt trọng tâm vào việc khẳng định vị vai trò của từng cấp. Cấp tỉnh khẳng định vai trò hoạch định chiến lược, điều phối vùng; cấp xã trở thành cấp thực quyền, trực tiếp giải quyết các vấn đề dân sinh và cung ứng dịch vụ công. Tuy nhiên, việc thay đổi một hệ thống đã tồn tại lâu đời sang một trạng thái vận hành mới chỉ trong thời gian ngắn đã bộc lộ những thách thức lớn về tính đồng bộ của thể chế và năng lực thực thi của đội ngũ công chức cơ sở. Bài viết này tập trung làm rõ các vấn đề lý luận hệ thống, tổng kết thực tiễn vận hành và nhận diện những vấn đề đặt ra để hoàn thiện mô hình quản trị địa phương tại Việt Nam.
Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện bài viết này, các phương pháp được sử dụng như sau: Phương pháp tư duy hệ thống: Nhìn nhận chính quyền địa phương như một chỉnh thể gồm các phân hệ: thể chế, nhân lực, công nghệ, tài chính và văn hóa công vụ; trong đó, mỗi sự thay đổi của một phân hệ sẽ tác động đến toàn bộ hệ sinh thái quản lý.
Phương pháp phân tích thực chứng: Sử dụng các số liệu báo cáo của Bộ Nội vụ, Văn phòng Chính phủ và các địa phương (điển hình như Phú Thọ, TP. Hồ Chí Minh) về kết quả sắp xếp đơn vị hành chính và kết quả giải quyết thủ tục hành chính sau 06 tháng vận hành mô hình mới.
Phương pháp so sánh: Đối chiếu với mô hình Chính quyền địa phương của Nhật Bản, Đan Mạch, New Zealand để rút ra giá trị tham khảo về sáp nhập đơn vị hành chính và phân quyền tự quản.
Kết quả nghiên cứu
Cơ sở lý luận và kinh nghiệm quốc tế: Tư duy hệ thống đóng vai trò là phương pháp luận then chốt trong việc nhận thức các vấn đề cải cách hành chính trong mối quan hệ tổng thể, xác định cấu trúc, chức năng và sự tương tác giữa các yếu tố cấu thành. Theo cách tiếp cận này, bộ máy hành chính không chỉ là việc tái cấu trúc tổ chức đơn thuần mà là một chỉnh thể thống nhất bao gồm nhiều phân hệ: thể chế, nhân lực, công nghệ, tài chính, pháp luật và văn hóa công vụ. Việc chuyển đổi sang mô hình hai cấp đòi hỏi phải tái định hình dòng chảy thông tin và trách nhiệm để tránh tình trạng “cắt ngọn” cơ học dẫn đến mất cân bằng hệ thống.
Trong quản trị địa phương hiện đại, tư duy quản lý đang có sự dịch chuyển mạnh mẽ từ mô hình “quản lý – kiểm soát” sang mô hình “kiến tạo – phục vụ – phát triển”, lấy người dân và doanh nghiệp làm trung tâm. Mô hình chính quyền hai cấp được thiết kế nhằm khắc phục các “điểm nghẽn” của cấu trúc phân tầng cũ, nơi cấp trung gian thường hoạt động hình thức và gây chậm trễ trong quy trình ra quyết định. Mục tiêu cốt lõi là xây dựng một hệ sinh thái quản trị linh hoạt, nơi cấp tỉnh giữ vai trò điều phối chiến lược và cấp xã trở thành cấp thực quyền, trực tiếp cung ứng dịch vụ công.
Để vận hành hiệu quả, lý luận về quản trị quốc gia đòi hỏi sự phân biệt rõ ràng giữa hai khái niệm: Phân quyền (Decentralization): Là sự xác lập phạm vi quyền hạn mang tính hiến định và luật định, gắn với quyền tự chủ và trách nhiệm pháp lý – chính trị của mỗi cấp chính quyền. Phân cấp (Delegation): Là phương thức quản lý hành chính theo trật tự thứ bậc, trong đó cơ quan cấp trên chuyển giao nhiệm vụ cụ thể cho cơ quan cấp dưới kèm theo điều kiện bảo đảm và cơ chế giám sát. Việc áp dụng mô hình hai cấp tại Việt Nam thực chất là quá trình phân quyền mạnh mẽ cho cấp tỉnh và phân cấp thực chất cho cấp cơ sở, nhằm triệt tiêu cơ chế “xin – cho” và nâng cao trách nhiệm giải trình.
Nghiên cứu trên 196 quốc gia cho thấy có 101 quốc gia áp dụng mô hình chính quyền địa phương 02 cấp, chiếm tỷ lệ 51% (Nguyễn Bích Thủy, 2025). Xu hướng xóa bỏ cấp hành chính trung gian để tinh gọn bộ máy và nâng cao hiệu lực quản lý đang diễn ra phổ biến trên thế giới.
Tại Nhật Bản: Quốc gia này đã thực hiện cuộc cải cách hành chính lớn mang tên Heisei Gappei để chuyển đổi từ mô hình 03 cấp sang 02 cấp. Qua quá trình sáp nhập các đơn vị hành chính nhỏ, Nhật Bản đã giảm số lượng đơn vị cấp xã từ hơn 3.200 xuống còn 1.718 để tinh gọn bộ máy và tăng hiệu quả quản lý (Nguyễn Bích Thủy, 2025). Điểm nổi bật là Nhật Bản áp dụng quản trị mạng lưới và đào tạo lại toàn diện đội ngũ cán bộ cấp xã để thích ứng với việc trao quyền tự trị nhiều hơn.
Ở Đan Mạch: Năm 2007, Đan Mạch thực hiện cuộc cải cách lịch sử, xóa bỏ 13 tỉnh để thành lập 05 vùng lớn và hợp nhất các đô thị từ 271 xuống còn 98 đơn vị. Mô hình hai cấp này giúp đơn giản hóa bộ máy hành chính và giảm đáng kể chi phí vận hành. Chính quyền đô thị (cấp 2) chịu trách nhiệm toàn bộ về các dịch vụ công cơ bản như giáo dục, phúc lợi xã hội và cơ sở hạ tầng, trong khi cấp vùng tập trung vào y tế và quy hoạch khu vực.
Tại New Zealand: Từ năm 1989, quốc gia này đã giảm số lượng đơn vị hành chính từ hơn 850 xuống còn 86 đơn vị (hiện nay là 78) thông qua việc bãi bỏ hệ thống trung gian. Mô hình hiện tại gồm Hội đồng khu vực (quản lý vùng) và Hội đồng lãnh thổ (quản lý trực tiếp thành phố, thị trấn). Việc giảm tới 90,1% số lượng đơn vị hành chính đã giúp tăng quyền tự trị địa phương và tối ưu hóa ngân sách.
Tại Thụy Điển: Tổ chức chính quyền theo mô hình 02 cấp gồm cấp huyện và cấp vùng. Cấp huyện là đơn vị quan trọng nhất, có quyền tự chủ cao trong việc cung cấp dịch vụ y tế, giáo dục và có quyền thu thuế thu nhập địa phương để tự chủ tài chính.
Tại Singapore: Dù không duy trì cấp trung gian do đặc thù quốc gia thành thị, Singapore là minh chứng điển hình cho việc vận hành chính quyền hiệu quả nhờ hệ thống Chính phủ điện tử mạnh mẽ (Smart Nation) và năng lực điều hành tập trung dựa trên dữ liệu lớn để phản ứng nhanh với các vấn đề dân sinh (Đồng Đại Lộc, 2025).
Kinh nghiệm từ các quốc gia thành công cho thấy việc xóa bỏ cấp hành chính trung gian luôn đi kèm với: (1) Sáp nhập mạnh mẽ các đơn vị hành chính cơ sở để đủ quy mô nguồn lực thực hiện nhiệm vụ. (2) Xác lập thẩm quyền độc lập cho người đứng đầu hành chính (mô hình thị trưởng/thủ trưởng hành chính) trong việc quyết định ngân sách và nhân sự. (3) Xây dựng cơ chế liên xã/liên vùng (như mô hình tại Pháp hoặc Đức) để xử lý các vấn đề chung như rác thải, nước sạch mà một xã đơn lẻ không đủ năng lực xử lý. (4) Đầu tư hạ tầng số đồng bộ để đảm bảo dòng chảy thông tin thông suốt giữa tỉnh và xã khi không còn bộ lọc trung gian.
Thực trạng vận hành mô hình chính quyền địa phương hai cấp tại Việt Nam: Sau 06 tháng vận hành chính thức (từ ngày 01/7/2025 đến hết năm 2025), mô hình chính quyền địa phương hai cấp đã tạo ra một “diện mạo” mới cho nền hành chính quốc gia, với những chuyển biến sâu sắc từ cấu trúc tổ chức đến phương thức quản trị vận hành. Thực tiễn triển khai cho thấy đây là một cuộc cách mạng thực sự về tư duy quản trị, không chỉ dừng lại ở việc tinh gọn bộ máy mà còn tái định vị vai trò của từng cấp chính quyền trong hệ sinh thái quản lý.
Việc triển khai Luật Tổ chức Chính quyền địa phương số 72/2025/QH15 đã dẫn đến sự thay đổi mang tính lịch sử về quy mô đơn vị hành chính (Quốc hội, 2025). Cấp hành chính trung gian (cấp huyện) đã được bãi bỏ hoàn toàn trên phạm vi toàn quốc, giúp cắt giảm hàng nghìn đầu mối trung gian vốn được coi là “khâu trung chuyển” thiếu thực quyền trước đây,.
Về quy mô đơn vị hành chính: Hệ thống từ 63 tỉnh, thành phố đã sáp nhập còn 34 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương. Cấp xã cũng trải qua quá trình hợp nhất mạnh mẽ, từ 10.035 đơn vị hành chính giảm xuống còn 3.321 xã, phường, đặc khu (Bộ Nội vụ, 2025).
Về tổ chức bộ máy: Sự tinh gọn thể hiện rõ nét qua việc bãi bỏ hơn 8.300 phòng chuyên môn cấp huyện. Tại cấp xã mới, mô hình tổ chức được chuẩn hóa với 9.916 phòng chuyên môn, bao gồm Văn phòng, các phòng chuyên sâu và Trung tâm Phục vụ hành chính công (Bộ Nội vụ, 2025). Việc giảm bớt tầng nấc trung gian đã trực tiếp rút ngắn quy trình ra quyết định, đảm bảo thông tin chỉ đạo xuyên suốt từ tỉnh xuống thẳng cơ sở.
Thực tiễn 06 tháng qua ghi nhận sự chuyển biến mạnh mẽ trong tư duy của đội ngũ cán bộ, công chức. Chính quyền địa phương bắt đầu vận hành theo nguyên tắc định hướng khách hàng, lấy người dân và doanh nghiệp làm trung tâm của các quyết sách.
Cấp xã trở thành cấp thực quyền: Chính quyền cấp xã không còn là cấp “thừa hành mệnh lệnh” mà đã trở thành cấp thực quyền, chủ động ra quyết định độc lập trong phạm vi thẩm quyền và chịu trách nhiệm trực tiếp trước pháp luật và Nhân dân.
Phương châm thực thi: Tinh thần “địa phương quyết, địa phương làm, địa phương chịu trách nhiệm” được quán triệt sâu sắc, khơi dậy tính năng động, sáng tạo của cơ sở thay vì thụ động chờ đợi chỉ đạo như mô hình cũ. Tại các tỉnh như Phú Thọ, tiêu chí đánh giá cán bộ đã chuyển sang đo lường bằng sản phẩm cụ thể và mức độ hài lòng của người dân.
Bảng 1. So sánh quy mô đơn vị hành chính và kết quả quản trị (Dữ liệu tính đến tháng 12/2025)

Một trong những thành tựu nổi bật nhất là việc tái phân định thẩm quyền giữa các cấp chính quyền một cách thực chất và mạnh mẽ.
Quy mô chuyển giao nhiệm vụ: Tổng số 1.060 nhiệm vụ, thẩm quyền của Hội đồng Nhân dân và Ủy ban Nhân dân cấp huyện trước đây đã được chuyển giao xuống cho cấp xã (chiếm hơn 90% khối lượng công việc của cấp huyện cũ) (Bộ Nội vụ, 2025). Trong đó, Ủy ban Nhân dân cấp xã đảm nhiệm 719 nhiệm vụ (67,8%) và Chủ tịch Ủy ban Nhân dân cấp xã đảm nhiệm 165 nhiệm vụ (15,5%). Các lĩnh vực chuyển giao có khối lượng lớn nhất gồm: Nông nghiệp và Môi trường (487 nhiệm vụ), Tài chính (193 nhiệm vụ), Nội vụ (161 nhiệm vụ) và Xây dựng (133 nhiệm vụ).
Cải cách thủ tục hành chính: Tính đến ngày 20/11/2025, các bộ và cơ quan hành chính đã cắt giảm, đơn giản hóa 1.055/1.084 thủ tục hành chính (đạt tỷ lệ 97%), giúp tiết kiệm đáng kể chi phí tuân thủ cho xã hội.
Số hóa và quản trị dựa trên dữ liệu: Để bù đắp việc giảm nhân sự, các địa phương đã đẩy mạnh chuyển đổi số. Từ ngày 01/7 đến 15/12/2025, trong tổng số 24,9 triệu hồ sơ tiếp nhận, có tới 20,8 triệu hồ sơ được xử lý trực tuyến; trong đó, cấp xã tiếp nhận và xử lý 15,2 triệu hồ sơ (Bộ Nội vụ, 2025).
Một số điểm sáng từ thực tiễn địa phương: Tỉnh Phú Thọ: Đã ban hành Chương trình hành động số 01-CTr/TU (31/10/2025) với mục tiêu xây dựng Chính quyền địa phương 2 cấp hoạt động thông suốt, hiệu quả. Tỉnh tập trung vào các đề án đột phá như “Phát triển đội ngũ cán bộ công chức các cấp đủ phẩm chất, năng lực” và ứng dụng công nghệ số trong quản lý điều hành theo thời gian thực. Các thành phố lớn (Hà Nội, TP.HCM, Hải Phòng, Đà Nẵng): Đã triển khai rất tốt việc điều động, tăng cường cán bộ cấp tỉnh về hỗ trợ cho cấp xã, giúp tháo gỡ khó khăn về năng lực chuyên môn tại chỗ và nâng cao hiệu quả quản trị ở cơ sở ngay trong giai đoạn đầu chuyển đổi.
Bảng 2. Thống kê kết quả phân định thẩm quyền cho chính quyền cấp xã

Tóm lại, thực trạng vận hành sau 06 tháng đã khẳng định mô hình Chính quyền địa phương hai cấp là hướng đi đúng đắn, phù hợp với yêu cầu quản trị công hiện đại. Dù còn những hạn chế bước đầu, nhưng sự thay đổi về tư duy hệ.
Những vấn đề đặt ra.Việc chuyển đổi hệ thống chính quyền từ ba cấp sang hai cấp trên phạm vi cả nước trong một thời gian ngắn là một khối lượng công việc khổng lồ, không tránh khỏi những hạn chế và khó khăn phát sinh trong giai đoạn đầu vận hành. Qua thực tiễn 06 tháng triển khai, có thể nhận diện năm nhóm hạn chế lớn nhất đang cản trở hiệu năng của mô hình chính quyền địa phương hai cấp.
Sự quá tải về khối lượng công việc và áp lực tại cấp xã. Đây là khó khăn rõ nét và tức thời nhất khi bãi bỏ cấp huyện. Cấp xã hiện nay phải tiếp nhận hầu hết các nhiệm vụ quản lý nhà nước và thủ tục hành chính mà cấp huyện vốn đảm nhiệm, trong khi quy mô dân số và địa bàn quản lý tăng gấp nhiều lần do sáp nhập. Cấp xã trở thành “mắt xích” xử lý hầu hết các thủ tục hành chính có tần suất giao dịch cao và tiếp nhận hơn 1.060 nhiệm vụ mới từ cấp huyện chuyển giao (chiếm hơn 90% nhiệm vụ của huyện cũ) (Bộ Chính trị, 2025). Đội ngũ cán bộ xã vốn quen với các tác nghiệp sự vụ đơn giản, nay phải trực tiếp thẩm định, ra quyết định đối với các hồ sơ đòi hỏi chuyên môn sâu và tính pháp lý cao như: cấp phép xây dựng, quy hoạch, dự án đầu tư, tài chính…. Điều này tạo ra áp lực tâm lý e ngại, lo sợ sai sót và trách nhiệm pháp lý.
Hạn chế về năng lực và sự thích ứng của đội ngũ cán bộ. Mặc dù số lượng biên chế hiện nay tại các xã (bình quân 41 người/xã) được đánh giá là không thiếu, nhưng hạn chế nằm ở năng lực chuyên môn và khả năng thích ứng. Khoảng 5% công chức xã chưa đáp ứng được vị trí việc làm về nghiệp vụ. Nhiều nơi thiếu công chức có chuyên môn về quản lý giáo dục, quản lý trật tự đô thị, hoặc tư pháp có yếu tố nước ngoài. Do Ủy ban Nhân dân xã chỉ còn 02 phòng chuyên môn nhưng phải đảm đương mảng việc của 12 phòng ban cấp huyện cũ, dẫn đến một công chức phải kiêm nhiệm 4-5 lĩnh vực chuyên môn rất khác nhau (Bộ Nội vụ, 2025).
Khoảng trống và sự chậm trễ của thể chế pháp lý. Cuộc cải cách lớn về bộ máy đòi hỏi sự thay đổi đồng bộ về thể chế, nhưng thực tế việc xây dựng văn bản quy phạm pháp luật chưa kịp thời bắt kịp thực tiễn. Một số văn bản vẫn theo tư duy cũ, chỉ đơn giản là “nhấc” nhiệm vụ từ huyện lên tỉnh hoặc xuống xã mà chưa đi kèm với các điều kiện bảo đảm về tài chính và nhân sự. Cơ sở rơi vào thế lúng túng khi phải giải quyết các vấn đề phát sinh nhưng chưa có hướng dẫn rõ ràng, nếu chờ đợi văn bản sửa đổi thì gây đình trệ công việc cho dân.
Bất cập trong cơ chế phối hợp và chỉ đạo điều hành. Việc bỏ cấp huyện đã làm thay đổi triệt để cấu trúc luồng thông tin, tạo ra áp lực lên quan hệ dọc và ngang. Các sở, ngành cấp tỉnh từ chỗ chỉ đạo khoảng 10-30 đầu mối cấp huyện, nay phải trực tiếp điều phối, kiểm soát khoảng 100 đầu mối cấp xã. Luồng thông tin có nguy cơ bị tắc nghẽn, sự chỉ đạo thiếu sát thực tế do thiếu “bộ lọc” trung gian. Các xã gặp khó khăn khi xử lý các vấn đề liên xã như: quy hoạch vùng, an ninh trật tự khu vực giáp ranh, xử lý rác thải… vốn trước đây do huyện điều phối.
Hạ tầng công nghệ và rủi ro kiểm soát quyền lực. Hệ thống phần mềm chuyên ngành (tư pháp, đất đai, xây dựng) thường xuyên bị nghẽn, lỗi đăng nhập; dữ liệu chưa liên thông thời gian thực giữa tỉnh và xã. Việc thực hiện thủ tục hành chính “phi địa giới” phần lớn vẫn qua đường bưu chính mà chưa thực sự số hóa quy trình. Việc phân quyền mạnh cho cấp xã nếu không đi kèm cơ chế giám sát hữu hiệu của Hội đồng Nhân dân và Mặt trận Tổ quốc sẽ tạo ra rủi ro tập trung quyền lực, lạm quyền hoặc rủi ro đạo đức công vụ tại cơ sở.
Nhìn chung, những khó khăn này là hệ quả tất yếu của giai đoạn quá độ. Việc nhìn nhận đúng các hạn chế này là cơ sở quan trọng để đề xuất các giải pháp mang tính chiến lược nhằm vận hành hiệu quả mô hình chính quyền địa phương hai cấp trong kỷ nguyên mới.
Nhóm giải pháp đột phá vận hành chính quyền địa phương hai cấp. Để mô hình chính quyền địa phương hai cấp thực sự phát huy hiệu lực và không trở thành “phép cộng” dồn việc xuống cơ sở, cần triển khai hệ giải pháp đồng bộ nhằm hóa giải các hạn chế về thể chế, nhân lực và công nghệ.
Thứ nhất, đổi mới căn bản tư duy và phương thức quản trị địa phương. Đây là giải pháp nền tảng, có tính chất quyết định sự thành bại của mô hình mới. Chuyển đổi từ “quản lý” sang “quản trị kiến tạo”. Đội ngũ lãnh đạo và công chức cấp xã cần nhận thức đúng vị thế mới là cấp thực quyền, chủ động ra quyết định độc lập thay vì thụ động chờ mệnh lệnh. Phương châm hành động phải lấy sự hài lòng của người dân và doanh nghiệp làm thước đo hiệu quả thực tế.
Quản trị dựa trên dữ liệu số. Cần xóa bỏ phương thức điều hành dựa trên kinh nghiệm và giấy tờ thủ công, chuyển mạnh sang quản trị số, sử dụng các công cụ phân tích dữ liệu để ra quyết định và giám sát công việc theo thời gian thực.
Thứ hai, hoàn thiện đồng bộ thể chế phân quyền và chuẩn hóa quy trình ủy quyền. Luật hóa rõ ràng thẩm quyền, cần tiếp tục cụ thể hóa danh mục nhiệm vụ, quyền hạn phân cấp cho cấp xã và tỉnh để tránh tình trạng chồng chéo hoặc khoảng trống pháp lý. Phân quyền phải đi đôi với phân bổ nguồn lực tài chính và nhân sự tương xứng.
Xác lập tư cách pháp nhân công quyền. Nghiên cứu xác lập rõ tư cách pháp nhân công quyền đầy đủ cho chính quyền cấp xã để tạo cơ sở pháp lý vững chắc cho việc tự chủ, tự chịu trách nhiệm.
Ủy quyền trực tiếp cho công chức. Tham khảo kinh nghiệm quốc tế để chuẩn hóa cơ chế ủy quyền trực tiếp cho công chức chuyên môn (tư pháp, hộ tịch) được ký chứng thực và chịu trách nhiệm cá nhân, giúp giảm áp lực cho lãnh đạo Ủy ban Nhân dân xã.
Thứ ba, tối ưu hóa và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực cơ sở. Xây dựng định mức biên chế linh hoạt. Thay vì cào bằng, cần bố trí nhân sự dựa trên quy mô dân số, khối lượng giao dịch và đặc thù địa bàn (đô thị, nông thôn, miền núi). Cho phép các xã lớn được bố trí nhiều Phó Chủ tịch hoặc tổ chức các bộ phận chuyên sâu hơn.
Thực hiện việc đào tạo “thực chiến”. Thành lập các “học viện chính quyền cơ sở” hoặc tổ chức các chương trình đào tạo chuyên sâu theo vị trí việc làm, tập trung vào các nghiệp vụ phức tạp mới tiếp nhận như đất đai, xây dựng, đầu tư.
Có cơ chế luân chuyển và hỗ trợ. Tiếp tục tăng cường cán bộ cấp tỉnh về hỗ trợ trực tiếp cho xã và thiết lập các “tổ phản ứng nhanh” để xử lý tức thời các sự cố kỹ thuật hoặc vướng mắc nghiệp vụ tại cơ sở.
Thứ tư, hiện đại hóa nền tảng quản trị số và dữ liệu thông minh. Hoàn thiện cơ sở dữ liệu dùng chung. Ưu tiên nguồn lực hoàn thiện 100% dữ liệu về dân cư, đất đai, xây dựng, doanh nghiệp để bảo đảm liên thông toàn trình trên môi trường số. Sử dụng trí tuệ nhân tạo để hỗ trợ ra quyết định và vận hành Trung tâm điều hành thông minh (IOC) cấp tỉnh nhằm giám sát chất lượng thực thi tại từng xã.
Số hóa quy trình “phi địa giới”. Đẩy mạnh ứng dụng chứng thực điện tử (mã QR), chữ ký số cá nhân và tái cấu trúc quy trình thủ tục hành chính để người dân có thể thực hiện dịch vụ công tại bất kỳ điểm giao dịch nào.
Thứ năm, tăng cường cơ chế kiểm soát quyền lực và giám sát thực thi. Trao thực quyền cho Hội đồng Nhân dân cấp xã. Nâng cao năng lực giám sát của Hội đồng Nhân dân xã đối với việc sử dụng ngân sách và thực hiện kế hoạch phát triển. Phát huy vai trò của Mặt trận Tổ quốc. Tăng cường cơ chế phản biện xã hội và giám sát của cộng đồng dân cư để kiểm soát rủi ro lạm quyền khi cấp xã được phân quyền mạnh. Thiết lập hệ thống giám sát minh bạch dựa trên các chỉ số đo lường kết quả đầu ra và mức độ hài lòng của người dân để kiểm soát rủi ro công vụ.
Như vậy, việc vận hành Chính quyền địa phương hai cấp là bước đi tất yếu để Việt Nam vươn mình trong kỷ nguyên mới. Thành công của mô hình không chỉ phụ thuộc vào việc cắt bỏ cấp trung gian mà nằm ở khả năng giải phóng năng lực sáng tạo của cấp xã thông qua cơ chế phân quyền thực chất và hạ tầng công nghệ hiện đại. Việc kiên trì áp dụng tư duy hệ thống sẽ giúp bộ máy hành chính hoạt động “tinh – gọn – mạnh”, phục vụ đắc lực cho mục tiêu phát triển bền vững của đất nước.
Nguyễn Thị Hương/Trường Đại học Lao động – Xã hội, Cơ sở II
Tài liệu tham khảo
Bộ Chính trị (2025). Kết luận số 160-KL/TW ngày 31/5/2025 về thực hiện nhiệm vụ sắp xếp tổ chức bộ máy và đơn vị hành chính, bảo đảm tiến độ, yêu cầu theo các nghị quyết, kết luận của Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư. Hà Nội.
Bộ Nội vụ (2025). Báo cáo số 12083/BC-BNV ngày 15/12/2025 về thực hiện chính quyền địa phương hai cấp tính đến ngày 15/12/2025. Hà Nội.
Cao Thị Hà (2025). Kiểm soát quyền lực của chính quyền địa phương hai cấp, Tạp chí Quản lý Nhà nước, số 359.
Đồng Đại Lộc (2025). Tư duy hệ thống về cải cách hành chính trong bối cảnh chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam. Tạp chí Cộng sản.
Nguyễn Bá Chiến (2026). Chính quyền cấp xã trong mô hình chính quyền địa phương hai cấp. Tạp chí Quản lý Nhà nước, số 360.
Nguyễn Bích Thủy (2025). Kinh nghiệm quốc tế về sáp nhập đơn vị hành chính và tổ chức chính quyền địa phương 02 cấp. Tạp chí Tổ chức Nhà nước và Lao động.
Nguyễn Minh Phương, Lê Đại Nghĩa (2026). Chính quyền cấp xã trong mô hình chính quyền địa phương hai cấp – thực trạng và giải pháp. Tạp chí Quản lý Nhà nước, số 360.
Quốc Hội (2025). Luật 72/2025/QH15 Tổ chức chính quyền địa phương. Hà Nội.
Trần Thị Diệu Oanh (2025). Quản trị địa phương theo mô hình chính quyền hai cấp ở Việt Nam. Tạp chí Quản lý Nhà nước.
Trần Thị Diệu Oanh (2026). Đổi mới tư duy và cách tiếp cận về phân cấp, phân quyền trong bối cảnh chính quyền địa phương hai cấp. Tạp chí Quản lý Nhà nước, số 360.
Tỉnh ủy Phú Thọ (2025), Chương trình hành động 01 -CTr/TU của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh thực hiện Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ I, nhiệm kỳ 2025 – 2030. Phú Thọ.
Văn phòng Chính phủ (2025). Báo cáo số 10790/BC-VPCP ngày 06/11/2025 Tình hình, kết quả cải cách thủ tục hành chính tháng 10 năm 2025. Hà Nội.
Nguyễn Thị Hương – Trường Đại học Lao động – Xã hội, Cơ sở II


