Nghĩa trang Liệt sĩ Củ Chi vào tháng 4 tĩnh lặng đến lạ thường, tĩnh lặng đến mức tôi có cảm giác như có thể nghe thấy cả tiếng lá khẽ rơi trong nắng sớm. Tôi bước đi chậm rãi, lần tìm đến từng ngôi mộ của những người đồng đội đang yên nghỉ nơi đây. Đi hết một vòng, tôi lặng lẽ ngồi xuống bên ngôi mộ mang tấm bia khắc dòng chữ: “Liệt sĩ Bùi Xuân Thận”.
Anh là người đồng đội thân thiết đã hy sinh trong trận đánh tiêu diệt căn cứ Đồng Dù – Củ Chi ngày 29/4/1975, trận đánh cuối cùng của đơn vị trong cuộc kháng chiến chống Mỹ. Để giành được thắng lợi cuối cùng, chỉ trong buổi sáng hôm ấy, hơn 200 đồng đội thân yêu đã ngã xuống nơi cửa ngõ Sài Gòn. Các anh hy sinh khi thời khắc ông Dương Văn Minh tuyên bố đầu hàng vô điều kiện chỉ còn chưa đầy 24 giờ.
Suốt cuộc đời này, tôi không thể nào quên những năm tháng gian khó, hiểm nguy, khốc liệt đến nghiệt ngã của chiến tranh. Càng không được phép quên những người bạn chiến đấu từng chia nhau mẩu lương khô, ngụm nước suối, luôn kề vai sát cánh qua bao trận mạc. Bùi Xuân Thận là một trong những đồng đội như thế.
Bùi Xuân Thận sinh năm 1952, quê ở Phù Ninh, Phú Thọ. Thận nhập ngũ năm 1972, vào chiến trường sau tôi khoảng một năm, nhưng hai thằng lại cùng được bổ sung về tiểu đội vô tuyến trong cùng một đợt. Thận là người chín chắn, trầm tính, khá kiệm lời; ngược lại, tôi thuộc diện lắm lời, tếu táo, thậm chí có phần bướng bỉnh. Trong khi tôi thuộc diện “thấp bé nhẹ cân”, Thận lại cao nghều, xương xẩu. Cái ngoại hình có phần “lộ cốt” ấy khiến anh em trong tiểu đội đặt cho cậu ta cái tên ghép: “Thận tắc kè”.
Tuy hai thằng cùng học sử dụng máy 2W trong một đợt, nhưng có lẽ nhờ cái chất láu cá của dân thành thị, cộng thêm chút liều lĩnh và may mắn, tôi lại khá thuận lợi với công việc này. Chỉ sau một trận đi phụ máy cho đài trưởng Vũ Xuân Láng, quê Vụ Bản, Nam Định, và một trận đi với tiểu đội phó, đài trưởng Phạm Văn Hiếu, quê Khoái Châu, Hưng Yên, tôi đã trở thành một đài trưởng thực thụ.
Chả hiểu sao, Thận lại khá chật vật với công việc của một lính 2W. Mặc dù rất chịu khó, cẩn thận, nhưng suốt hơn hai năm, cậu ta chưa một lần được giao nhiệm vụ đài trưởng.
Những năm ở chiến trường, tôi không còn nhớ đã tham gia bao nhiêu trận đánh. Trong số những phụ máy từng đi với tôi có Vinh trắng, Vinh đen, Huấn toác, Thành hiếng, Ngữ bệu… nhưng nhiều hơn cả, có lẽ là Việt quê Lâm Thao và Thận “tắc kè”.
Những đêm nằm chờ xuất kích, Thận thường kể cho tôi nghe rất nhiều về người mẹ đơn thân ở quê nhà. Cậu dự định sau chiến tranh sẽ thi vào Đại học Sư phạm để trở thành một thầy giáo dạy văn. Là người có năng khiếu thơ văn, lại sở hữu giọng hát trời cho, Thận rất thích làm thơ và hay hát. Có điều, cậu ta mê nhạc vàng lắm, chẳng biết đã yêu đương gì chưa mà lúc nào cũng “Đồi hoa sim” với “Nỗi buồn hoa phượng”. Những lúc rảnh rỗi, bên cuốn sổ tay nhỏ, Thận viết những bài thơ về mẹ, đọc lên thật cảm động.
Tuy dáng người gầy xương xương, nhưng Thận khỏe mạnh, chịu khó, tính nết lại cẩn thận. Có cậu ta đi cùng, tôi rất yên tâm. Trong những trận đánh, chiến dịch khi được phân công đi với tôi, Thận luôn hoàn thành rất tốt phần việc của mình.
Giống như một số đồng đội ở chiến trường ngày ấy, Thận rất tin vào những điều gọi là “điềm báo”. Cậu ta luôn cẩn thận kiêng cữ với quan niệm: “Có thờ có thiêng, có kiêng có lành”. Tôn trọng suy nghĩ của bạn, tôi không phản đối, nhưng cũng không tham gia hay góp chuyện gì.
Có lần bọn tôi được tăng cường cho C6 đánh quân dã ngoại trên Đường 14. Tiểu đoàn Biệt động quân ngụy bị quân ta đánh cho tan tác, vỡ trận tháo chạy, bỏ lại rất nhiều quân tư trang. Trong lúc tôi lo nhận và chuyển điện, Thận theo cánh bộ binh tranh thủ kiếm chút chiến lợi phẩm của địch mang về cải thiện.
Vừa chuyển xong bức điện của Đại đội trưởng C6 gửi về tiểu đoàn, tôi đã thấy Thận đeo trước ngực một ba lô chiến lợi phẩm nặng trĩu. Lúc rút về kiềng chờ lệnh đánh tiếp, hai thằng mở đồ hộp và cơm sấy chiến lợi phẩm ra ăn, chiếc bộ đàm vẫn để ở chế độ chờ nhận lệnh.
Thận nhìn trước ngó sau rồi quay sang tôi, thì thầm: Tôi lấy được hai chiếc nhẫn vàng nhé, cắn thử rồi, vàng thật ông ạ. Đang tính mỗi thằng một chiếc. Mẹ tôi ở nhà nghèo lắm, cả đời bà chưa dám mơ có một chiếc nhẫn vàng…!
Tôi lưỡng lự một chút rồi bảo: Ở chiến trường, mấy thứ này chả có giá trị gì. Giữ nó trong người, nhiều khi cũng rách việc lắm đấy.
Vẻ mặt đăm chiêu, bỗng Thận cầm hai chiếc nhẫn vàng ném rất mạnh vào vạt rừng phía trước rồi quay sang nhìn tôi: Ông nói đúng. Đi đánh nhau mà giữ vàng trong người là đen lắm. Ở nhà, mẹ tôi vẫn bảo: “Giữ bạc thì sang, giữ vàng thì lụi”. Nghe mấy ông bên vận tải kể, nhiều lần họ đi làm công tác chính sách, thấy trong người tử sĩ thường đem theo vàng…
Không thực sự tin vào những chuyện như thế, nhưng tôi vẫn gật gù tán thưởng.
Đầu năm 1974, trong chiến dịch đánh quân lấn chiếm ở khu R, Thận đi cùng tôi tăng cường cho C7. Buổi chiều hôm anh Dũng bên hữu tuyến đi kiểm tra đường dây rồi trúng pháo địch hy sinh, Thận đến chỗ tôi với vẻ mặt đầy vẻ quan trọng, thì thầm: Ông à, tối hôm qua tự dưng anh Dũng kể với tôi rằng, đợt anh ấy nhập ngũ có bảy thằng trong làng cùng đi, bọn họ hy sinh hết, chỉ còn mỗi mình anh ấy là còn sống… điềm báo đấy!
Tôi gật đầu: Ừ, chắc ông ấy gở miệng. Chiều lòng bạn, tôi nói vậy, nhưng trong thâm tâm lại nghĩ rằng chiến tranh thì chẳng ai nói trước được điều gì.
Tháng 2/1975, Thận có quyết định chuyển sang bộ phận hữu tuyến; người thay vị trí của cậu ta đi với tôi là Việt, quê Lâm Thao, Phú Thọ, một đồng đội trẻ rất đáng mến.
Hôm đơn vị chuẩn bị vào chiếm lĩnh trận địa đánh Đồng Dù, Thận về thăm tiểu đội cũ. Bọn tôi chuyện trò và chúc nhau vào trận bình an. Lúc ra về, Thận bảo: Ông à, nghĩ mà thương mẹ quá, tôi bất hiếu, chẳng biết còn trông mong gì…
Cảm thông với bạn, tôi động viên: Chiến tranh, bao giờ phụ nữ cũng là người chịu nhiều thiệt thòi nhất.
Khi cậu ta chào tôi và anh em trong tiểu đội vô tuyến để ra về, trong lòng tôi bỗng dấy lên một linh cảm rất khó lý giải, không biết có phải cậu ta lại gở miệng hay không. Tôi vội gạt ngay ý nghĩ ấy, rồi tự an ủi: chắc chỉ là một câu nói ngẫu nhiên…
Chiến tranh vốn rất nghiệt ngã. Khoảng gần 10 giờ ngày 29/4/1975, sau khi hướng tấn công của Tiểu đoàn 1 và Tiểu đoàn 3 đã đánh chiếm được cửa mở và phát triển vào tung thâm căn cứ Đồng Dù, Tiểu đoàn 2 của chúng tôi mới nhận lệnh xuất kích.
Vận động trong đội hình của tiểu đoàn, đeo trên lưng chiếc P105D cồng kềnh, tôi có nhiệm vụ bám sát Tiểu đoàn trưởng Nguyễn Hữu Hạ. Đội hình tiểu đoàn tiến qua hai chiếc xe tăng của ta vừa bị địch bắn hỏng, theo cửa mở mà hướng Tiểu đoàn 1 đã mở đường tiến vào căn cứ.
Trận đánh diễn ra vô cùng khốc liệt. Bọn địch cố thủ trong các lô cốt và xe tăng ở cửa mở, bắn dữ dội vào đội hình quân ta, khiến bộ đội thương vong rất nhiều. Các chiến sĩ của chúng ta hy sinh nằm gối lên nhau, rải dọc theo con đường dẫn lên cửa mở.
Khi đội hình Tiểu đoàn 2 tiến đến sát bờ đất phòng thủ của căn cứ thì vấp phải một hàng rào lửa do địch bắn chặn hết sức quyết liệt. Theo quan sát của tôi, ít nhất có hai ụ đại liên đang nhả đạn như vãi, cày nát mặt đường nhựa ngay phía trước. Tôi đứng ngay sau Tiểu đoàn trưởng Hạ, chờ lệnh.
Cùng lúc ấy, nhóm thứ hai của tiểu đoàn bộ, do Chính trị viên trưởng tiểu đoàn Nguyễn Văn Tiến, quê Phú Thọ, chỉ huy, cũng vừa tới bờ đất. Đi bên Chính trị viên Tiến là công vụ Tố, người Thái Bình, cùng năm chiến sĩ hữu tuyến của tiểu đoàn. Bùi Xuân Thận đeo bên người chiếc máy K65, tay xách theo cuộn dây hữu tuyến nhẹ tênh…
Tiểu đoàn trưởng Nguyễn Hữu Hạ quan sát nhanh địa hình rồi quay sang nói với chúng tôi: Chớp thời cơ, hết loạt đạn này của địch thì nhanh chóng vận động vào tung thâm ngay. Chần chừ sẽ rất nguy hiểm, vị trí chúng ta đang đứng rất dễ ăn pháo tăng của địch ngoài Đường 1 bắn vào…
Loạt đạn đại liên của địch vừa dứt, Tiểu đoàn trưởng Hạ hô lớn: Xung phong!
Tôi xốc chiếc bộ đàm trên lưng, ra hiệu cho Việt cùng xuất phát. Vượt qua bờ đất, tiến được chừng gần chục mét, bỗng tôi có cảm giác như một lực rất mạnh xô người mình chúi về phía trước. Cùng lúc ấy, hai tiếng nổ lớn “ục, ục” vang lên phía sau. Ngoái đầu nhìn lại nơi mình vừa đứng chân, tôi chỉ thấy hai cột khói đen ngòm bốc thẳng lên.
Linh cảm mách bảo có chuyện chẳng lành, nhưng nhiệm vụ của tôi là phải bám theo tiểu đoàn trưởng, nên dù muốn cũng không thể quay lại được.
Các mũi tấn công của Tiểu đoàn 2 liên tục nổ súng tiêu diệt địch trong căn cứ. Bọn chúng vẫn co cụm ở một số ụ phòng ngự, ngoan cố chống trả. Điện từ C6 báo về: Đại đội trưởng Mông Văn Ơn cho biết Tích “ngỗng”, đài trưởng 2W, bị thương rất nặng. Lúc này, các đơn vị của E48 về cơ bản đã làm chủ căn cứ, nhưng vẫn chưa bắt được tên Lý Tòng Bá, Sư đoàn trưởng Sư đoàn 25 ngụy. Một trận mưa rào bất chợt đổ xuống, phần nào làm dịu đi cái nóng hừng hực đang phủ kín căn cứ…
Khoảng đầu giờ chiều, quân ta đã hoàn toàn làm chủ căn cứ, nhưng vẫn chưa thấy bộ phận hữu tuyến của tiểu đoàn kéo dây máy đến sở chỉ huy. Mọi người đều rất lo lắng cho bộ phận đi sau, song không ai dám đưa ra một dự đoán nào.
Ít phút sau, bộ phận trinh sát báo về: bảy người của Tiểu đoàn bộ 2, do còn ở lại bờ đất và chưa kịp xuất phát cùng đội hình, đã bị hai quả pháo tăng của địch bắn trúng, hy sinh toàn bộ. Trong số đó có Chính trị viên trưởng tiểu đoàn Nguyễn Văn Tiến và người đồng đội thân thiết của tôi, Bùi Xuân Thận.
Tôi hiểu rằng mọi sự hy sinh cho độc lập, tự do của Tổ quốc đều thiêng liêng và có giá trị như nhau. Nhưng sự ngã xuống của các đồng đội trong trận đánh cuối cùng, ngay trước thời khắc toàn thắng, vẫn để lại trong lòng tôi một nỗi tiếc nuối khôn nguôi, một khoảng trống không gì có thể bù đắp.
Tôi lặng lẽ nhặt những chiếc lá khô vương trên mộ bạn. Dẫu biết rằng, cho dù có nhặt kỹ đến đâu, thì ngày mai trên những ngôi mộ của đồng đội vẫn sẽ lại đầy lá rụng… nhưng tôi vẫn cặm cụi nhặt từng chiếc một. Những chiếc lá vàng, vàng đến nhức mắt, như gợi lên bao ký ức đau đáu của một thời máu lửa không thể nào quên.
Các anh đã gửi lại tuổi xuân nơi chiến trường, gửi lại những ước mơ còn dang dở, những người mẹ già mòn mỏi chờ con, những mái nhà chưa kịp trở về đoàn tụ, để đất nước có được ngày độc lập, hòa bình hôm nay. Mỗi nấm mộ nơi đây là một phần máu thịt của Tổ quốc, là sự đánh đổi bằng tuổi trẻ, bằng cuộc đời của biết bao người con ưu tú.
Thế Nguyễn/nguồn: Facebook Hoàng Tiến Thắng cựu chiến sĩ 2W D2E48F320QĐ3


