Thứ Ba, Tháng 5 5, 2026
* Email: bbt.dongnama@gmail.com *Tòa soạn: 0989011688 - 0768908888
spot_img
[gtranslate]

Rớt giá sầu riêng và bài toán tái cấu trúc vùng cây ăn trái



ĐNA -

Sầu riêng từng được xem là cây trồng giá trị cao, mở cơ hội làm giàu cho nhiều nhà vườn ở Đồng bằng sông Cửu Long. Nhưng đợt giảm giá sâu năm 2026 phơi bày nhiều điểm nghẽn: phụ thuộc xuất khẩu tươi, ách tắc kiểm nghiệm, giá tại thị trường xuất khẩu giảm, sản xuất manh mún, chế biến và tiêu thụ nội địa yếu. Cú rơi giá này không chỉ là chuyện mùa vụ, mà cảnh báo yêu cầu tái cấu trúc ngành hàng trên nền tảng khoa học, thị trường và sinh kế bền vững cho nông dân trong vùng.

Giá sầu riêng tại chợ Phong Điền ngày 4/5/2026, thành phố Cần Thơ.

Bấp bênh giá đến từ nhiều tầng nguyên nhân
Những ngày đầu tháng 5/2026, tại nhiều vùng trồng sầu riêng ở Đồng bằng sông Cửu Long, mùa thu hoạch diễn ra trong không khí trầm lắng hơn hẳn các vụ giá cao trước đó. Ở một số địa phương, sầu riêng không chỉ nằm trong kho, tại điểm thu mua, mà còn xuất hiện dày hơn ở chợ dân sinh, điểm bán ven đường, vỉa hè đô thị. Từ vườn cây đến nơi cân hàng, giá thay đổi liên tục. Người bán dè dặt, người mua thận trọng, còn nông dân phải tính từng ngày, bởi trái đến lứa không thể neo mãi trên cây mà không ảnh hưởng phẩm cấp.

Phản ánh từ Cần Thơ, Đồng Tháp và một số địa bàn trong vùng cho thấy giá sầu riêng tiếp tục giảm, trong đó có tình trạng hàng xuất khẩu gặp khó, phải chuyển hướng tiêu thụ nội địa. Tại Đồng Tháp, việc ách tắc kiểm nghiệm được ghi nhận là một nguyên nhân làm nhịp mua bán chậm lại. Cùng thời điểm, giá sầu riêng tại Trung Quốc giảm mạnh, khiến doanh nghiệp và thương lái trong nước thu hẹp thu mua để phòng rủi ro. Khi đầu ra lớn biến động, giá tại vườn lập tức chịu sức ép.

Ở cấp độ vi mô, sầu riêng là loại cây có giá trị cao nhưng đòi hỏi vốn lớn, kỹ thuật chặt chẽ và thời gian chăm sóc dài. Chi phí phân bón, thuốc bảo vệ thực vật, nhân công, xử lý ra hoa, thu hoạch, vận chuyển đều tạo áp lực đáng kể. Khi giá xuống thấp, nông dân không chỉ mất phần lợi nhuận kỳ vọng mà còn có nguy cơ không đủ bù chi phí đầu tư cho cả vụ. Điểm yếu rõ nhất là nhiều hộ vẫn sản xuất riêng lẻ, bán hàng qua thương lái, hợp đồng miệng hoặc thỏa thuận ngắn hạn.

Khi thị trường thuận lợi, cách làm này giúp bán nhanh, thu tiền nhanh. Nhưng khi thị trường đảo chiều, hộ trồng đơn lẻ hầu như không có năng lực mặc cả. Trái đến kỳ phải cắt; nếu chờ thêm có thể giảm chất lượng, nếu bán vội thì chấp nhận giá thấp. Trong chuỗi đó, nông dân là mắt xích chịu tác động sớm nhất. Chất lượng trái chưa đồng đều cũng làm rủi ro tăng. Hàng xuất khẩu chính ngạch không chỉ cần đẹp mã, đúng giống, đúng độ chín, mà còn phải đáp ứng mã số vùng trồng, cơ sở đóng gói, dư lượng hóa chất và truy xuất nguồn gốc.

Nếu một số lô hàng không đạt hoặc phải chờ kết quả kiểm nghiệm, toàn bộ nhịp mua bán phía sau sẽ chậm lại. Doanh nghiệp giảm mua để tránh tồn hàng; thương lái hạ giá để phòng rủi ro; nhà vườn bị kéo vào vòng xoáy giảm giá dù không phải mọi vườn đều có lỗi về chất lượng. Ở tầng chuỗi cung ứng, kiểm nghiệm là nút thắt đáng chú ý. Với nông sản tươi, thời gian quyết định giá trị. Mỗi ngày chờ kết quả làm tăng chi phí lưu kho, vận chuyển, bảo quản, đồng thời làm dòng tiền doanh nghiệp bị kẹt.

Khi cơ sở đóng gói, doanh nghiệp xuất khẩu và thương lái cùng chậm nhịp, giá thu mua tại vườn bị ảnh hưởng ngay. Đây không phải sự cố cục bộ của vài điểm bán, mà phản ánh năng lực hậu cần, kiểm nghiệm, bảo quản và tổ chức xuất khẩu chưa tương xứng với tốc độ phát triển ngành hàng. Ở tầng thị trường quốc tế, Trung Quốc vẫn là đầu ra quan trọng của sầu riêng Việt Nam. Khi giá tại thị trường này giảm, sức ép truyền ngược về vùng trồng. Cạnh tranh còn đến từ Thái Lan, Malaysia và thay đổi trong cung cầu, tiêu chuẩn nhập khẩu, kiểm soát chất lượng của bạn hàng.

Một thị trường càng lớn thì tác động lan tỏa càng mạnh; phụ thuộc quá nhiều vào một đầu ra sẽ khiến nông dân và doanh nghiệp trong nước đối diện nguy cơ giá ngoài biên giới giảm, vườn trong nước lao đao. Với Đồng bằng sông Cửu Long, câu chuyện còn phức tạp vì đây là vùng sản xuất đặc thù: đất đai chia nhỏ, kênh rạch dày đặc, sản xuất nông hộ phổ biến, thủy lợi phụ thuộc từng tiểu vùng, trong khi hạn mặn, sụt lún, thiếu nước ngọt và biến đổi khí hậu ngày càng rõ.

Sầu riêng lại là cây mẫn cảm với mặn, cần nguồn nước ổn định và kỹ thuật chăm sóc chặt chẽ. Vì vậy, mở rộng diện tích theo phong trào, nhất là tại nơi chưa bảo đảm nước ngọt, giao thông, sơ chế và hạ tầng đóng gói, sẽ làm rủi ro vượt khỏi câu chuyện giá bán. Sau những năm giá cao, nhiều hộ chuyển từ cây trồng khác sang sầu riêng với kỳ vọng thu nhập tốt hơn. Nhu cầu chuyển đổi là chính đáng, nhưng nếu thiếu quy hoạch, dự báo cung cầu và kiểm soát vùng phù hợp, dư cung cục bộ, chất lượng không đồng đều là điều khó tránh.

Câu chuyện rơi giá vì thế không thể quy cho một nguyên nhân, mà là tổng hợp của nguồn cung, tiêu chuẩn, kiểm nghiệm và thị trường.

Phó Chủ tịch UBND tỉnh Đồng Tháp Nguyễn Phước Thiện chủ trì cuộc họp tháo gỡ khó khăn vướng mắc trong sản xuất, tiêu thụ sầu riêng trên địa bàn tỉnh.

Tái cấu trúc để phá vòng trồng nóng bán tháo
Nếu chỉ nhìn đợt giảm giá như biến động ngắn hạn, ngành sầu riêng sẽ bỏ lỡ cơ hội sửa những lỗi căn bản đang tích tụ nhiều năm. Ngược lại, nếu coi đây là tín hiệu cảnh báo, Đồng bằng sông Cửu Long có thể tái cấu trúc ngành hàng theo hướng bền vững hơn, giảm lệ thuộc hơn và đủ sức chống chịu trước biến động thị trường. Cú sốc lần này buộc các địa phương nhìn lại từ quy hoạch vùng trồng đến kiểm nghiệm, chế biến, tiêu thụ và trách nhiệm của từng mắt xích liên kết.

Trước hết, vai trò chính sách của Nhà nước là then chốt. Với cây trồng giá trị cao như sầu riêng, không thể để diện tích phát triển tự phát theo giá từng vụ. Các địa phương cần rà soát vùng trồng trên cơ sở khoa học: đất, nước, độ mặn, khả năng tưới tiêu, lịch sử hạn mặn, điều kiện giao thông, năng lực sơ chế và khoảng cách đến cơ sở đóng gói. Vùng thiếu nước ngọt ổn định, nguy cơ mặn cao, hạ tầng yếu không nên được khuyến khích mở rộng bằng mọi giá nữa ngay. Quy hoạch không nhằm cản nông dân làm giàu, mà để tránh rủi ro lớn hơn sau vài năm đầu tư.

Cùng với quy hoạch, cần xây dựng hệ thống dữ liệu ngành hàng theo thời gian thực. Mỗi địa phương phải nắm diện tích, sản lượng dự kiến, lịch ra hoa, lịch thu hoạch, số mã vùng trồng, cơ sở đóng gói, kho lạnh và chế biến. Dữ liệu ấy không chỉ phục vụ báo cáo hành chính, mà phải thành công cụ cảnh báo cung cầu cho doanh nghiệp, hợp tác xã và nông dân mỗi mùa vụ mới.

Khi biết trước thời điểm sản lượng dồn nhiều, ngành nông nghiệp có thể khuyến cáo rải vụ, kết nối tiêu thụ, chuẩn bị kiểm nghiệm, kho lạnh và vận chuyển phù hợp. Nút thắt kiểm nghiệm cần được xử lý bằng giải pháp cụ thể. Với vùng sản xuất lớn như Đồng bằng sông Cửu Long, tăng năng lực phòng kiểm nghiệm đạt chuẩn là yêu cầu cấp bách. Hàng hóa giá trị cao không thể chờ đợi kéo dài chỉ vì thiếu năng lực lấy mẫu, xét nghiệm và trả kết quả đúng hạn cho doanh nghiệp vùng.

Cần tổ chức tiền kiểm ngay từ vùng trồng, xét nghiệm đất, nước ở khu vực có nguy cơ, kiểm soát dư lượng trước thu hoạch thay vì chỉ xử lý khi hàng đã vào cơ sở đóng gói hoặc sát giờ xuất khẩu. Làm sớm sẽ giảm thiệt hại cho cả chuỗi. Bên cạnh đó, Nhà nước phải kiểm soát nghiêm mã số vùng trồng và cơ sở đóng gói. Mã số không chỉ là thủ tục xuất khẩu, mà là cam kết về quy trình sản xuất và trách nhiệm truy xuất đến từng lô hàng cụ thể.

Tình trạng mượn mã, trộn hàng hoặc đưa sản phẩm không đúng vùng vào chuỗi xuất khẩu nếu xảy ra phải bị xử lý nghiêm, vì một số vi phạm cũng có thể làm giảm uy tín cả ngành hàng. Với thị trường nhập khẩu, niềm tin là tài sản lớn. Mất niềm tin không chỉ khiến một lô hàng bị trả về, mà còn làm nhiều vùng trồng chịu thiệt hại. Chính sách tín dụng cũng cần hướng vào điểm yếu của chuỗi, nhất là kho lạnh, sơ chế, cấp đông, chế biến múi, puree, sấy và nguyên liệu.

Sầu riêng tươi có giá trị cao nhưng dễ tổn thương khi xuất khẩu chậm lại. Nếu công nghiệp chế biến đủ mạnh, hàng không đạt chuẩn xuất khẩu tươi vẫn có thể đi vào kênh chế biến, giảm áp lực bán tháo. Thị trường nội địa gần một trăm triệu dân rất quan trọng, nhưng không thể hấp thụ sản lượng lớn bằng bán tự phát ven đường. Muốn khai thác thị trường trong nước, phải có phân loại, bảo quản, thương hiệu, truy xuất nguồn gốc và hệ thống phân phối chuyên nghiệp. Đâycũng  là tầng đệm cần phải có trong vận hành cung ứng.

Doanh nghiệp giữ vai trò tổ chức thị trường. Một ngành hàng bền vững không thể chỉ dựa vào thương lái mua nhanh, bán nhanh. Doanh nghiệp xuất khẩu cần xây dựng vùng nguyên liệu liên kết hợp tác xã, ký hợp đồng rõ về tiêu chuẩn, sản lượng, thời điểm thu hoạch và cơ chế chia sẻ rủi ro khi thị trường biến động. Nếu doanh nghiệp chỉ xuất hiện lúc giá tốt rồi rút lui khi thị trường khó, nông dân sẽ bị bỏ lại ở cuối chuỗi rủi ro. Ngược lại, liên kết tốt giảm thiệt hại.

Vai trò của nông dân không thể xem nhẹ. Nông dân không quyết định toàn bộ thị trường, nhưng quyết định chất lượng từ gốc. Khi tiêu chuẩn nhập khẩu ngày càng chặt, người trồng phải chuyển từ tư duy trồng được bán được sang trồng đúng bán đúng chuẩn. Việc này bắt đầu từ tham gia hợp tác xã, ghi nhật ký canh tác, dùng vật tư đúng danh mục, quản lý nước tưới, cắt trái đúng độ chín và không phá vỡ liên kết khi giá tăng. Hàng không rõ quy trình không nên vào chuỗi xuất khẩu.

Nông dân bán sầu riêng ven đường tại Cần Thơ.

Đối với Đồng bằng sông Cửu Long, giải pháp khoa học phải gắn với thực địa. Tiểu vùng nước ngọt quanh năm khác vùng nguy cơ mặn; nơi có đê bao, giao thông thuận lợi khác vùng sâu kênh rạch chia cắt. Cần bản đồ hóa vùng trồng theo đất, nước, mặn, hạ tầng; hướng dẫn tưới tiết kiệm, trữ nước ngọt, cải tạo đất, phòng bệnh và rải vụ hợp lý. Nếu giá thấp kéo dài, nông dân có thể giảm đầu tư, làm chất lượng vụ sau suy giảm. Sầu riêng nên đi bằng kỷ luật và uy tín.

Trọng Nguyễn