Thứ Sáu, Tháng 5 8, 2026
* Email: bbt.dongnama@gmail.com *Tòa soạn: 0989011688 - 0768908888
spot_img
[gtranslate]

Phản bác các luận điệu “rửa mặt” chế độ Ngụy quyền Sài Gòn (1954-1975) – nhìn từ sự kiện Phật giáo 8/5/1963



ĐNA -

Sự kiện đàn áp Phật giáo ngày 8/5/1963 tại Huế không chỉ là một bi kịch lịch sử mà còn phơi bày rõ bản chất độc tài, gia đình trị của chính quyền Ngô Đình Diệm. Bất chấp những luận điệu ngày nay nhằm tô hồng chế độ Ngụy quyền Sài Gòn là “dân chủ”, “phồn vinh”, “tự do tôn giáo”, lịch sử từ “Biến cố Đài Phát thanh Huế” năm 1963 đến sự sụp đổ ngày 30/4/1975 đã chứng minh đó là một bộ máy lệ thuộc ngoại bang, đàn áp nhân dân và đi ngược lợi ích dân tộc. Nhìn lại sự kiện 8/5/1963 giúp nhận diện rõ bản chất phản dân tộc của chế độ này và phản bác các luận điệu xuyên tạc lịch sử hiện nay.

Cuộc diễu hành rước Phật từ chùa Diệu Đế lên chùa Từ Đàm (Huế – 8/5/1963).

Sự kiện 8/5/1963 – dấu mốc phơi bày bản chất độc tài và phản dân tộc
Sự kiện ngày 8/5/1963 tại Huế không chỉ là một biến cố tôn giáo đơn thuần, mà còn trở thành dấu mốc lịch sử phơi bày rõ bản chất độc tài, gia đình trị và phản dân tộc của chính quyền Ngô Đình Diệm. Dưới chiêu bài xây dựng một nền “Cộng hòa tự do”, chế độ Ngụy quyền Sài Gòn thực chất vận hành theo mô hình tập trung quyền lực vào gia đình họ Ngô, với Ngô Đình Diệm, Ngô Đình Nhu và Ngô Đình Thục thao túng hầu hết các vị trí then chốt về chính trị, quân sự và tôn giáo. Dựa vào học thuyết Nhân vị và hệ thống Cần lao Nhân vị, gia đình Ngô Đình Diệm tiến hành kiểm soát xã hội, đàn áp các lực lượng đối lập và duy trì một cơ chế cai trị lệ thuộc sâu sắc vào Mỹ.

Trong bối cảnh đó, chính sách phân biệt tôn giáo kéo dài nhiều năm đã làm dấy lên sự bất bình rộng khắp trong quần chúng Phật tử miền Nam. Việc chính quyền ban hành Công điện số 505 cấm treo cờ Phật giáo đúng dịp Đại lễ Phật đản năm 1963, trong khi trước đó cờ Vatican vẫn được treo công khai nhân lễ của Tổng Giám mục Ngô Đình Thục, đã trở thành “giọt nước tràn ly”, thổi bùng làn sóng phản kháng mạnh mẽ của tăng ni, Phật tử và nhân dân yêu chuộng công bằng, tự do tín ngưỡng.

Tối 8/5/1963, hàng nghìn tăng ni, Phật tử và quần chúng tập trung trước Đài Phát thanh Huế để yêu cầu được phát thanh bản tuyên ngôn đòi quyền bình đẳng tôn giáo. Tuy nhiên, thay vì đối thoại và giải quyết bằng biện pháp hòa bình, chính quyền Ngô Đình Diệm đã huy động lực lượng quân đội, xe bọc thép, sử dụng lựu đạn cay và nổ súng đàn áp đám đông tay không. Cuộc trấn áp đẫm máu khiến nhiều người thiệt mạng và bị thương, trong đó có cả phụ nữ và trẻ em. Máu của đồng bào đổ xuống ngay trong mùa Phật đản không chỉ gây chấn động dư luận trong nước mà còn làm rung động cộng đồng quốc tế, bóc trần hoàn toàn bộ mặt phản dân chủ và đàn áp nhân quyền của chế độ Sài Gòn.

Sau biến cố Huế, cuộc khủng hoảng Phật giáo nhanh chóng lan rộng trên toàn miền Nam. Đỉnh điểm là sự kiện Hòa thượng Thích Quảng Đức tự thiêu ngày 11/6/1963 tại Sài Gòn để phản đối chính sách đàn áp tôn giáo của chính quyền Diệm. Hình ảnh ngọn lửa thiêu thân của vị hòa thượng đã gây chấn động thế giới và trở thành biểu tượng tố cáo sự khủng hoảng nghiêm trọng về tính chính danh của Ngụy quyền Sài Gòn. Nhiều hãng thông tấn quốc tế và ngay cả báo chí Mỹ khi đó cũng công khai chỉ trích chính quyền Ngô Đình Diệm là một chế độ mất lòng dân, đi ngược các giá trị dân chủ mà Mỹ từng tuyên truyền. Đặc biệt, phát ngôn vô cảm của Trần Lệ Xuân gọi vụ tự thiêu là “một cuộc nướng thịt” càng làm dư luận thế giới phẫn nộ, phơi bày sự tàn nhẫn và thái độ coi thường sinh mạng nhân dân của giới cầm quyền.

Các tài liệu ngoại giao Mỹ được giải mật sau này cho thấy chính Washington cũng nhiều lần cảnh báo anh em Ngô Đình Diệm về hậu quả của chính sách đàn áp Phật giáo, bởi điều đó làm suy sụp hình ảnh “thế giới tự do” mà Mỹ dựng lên tại miền Nam Việt Nam. Điều này cho thấy cuộc khủng hoảng Phật giáo năm 1963 không phải là một “sai lầm cá biệt” hay “sự cố ngoài ý muốn” như một số luận điệu xuyên tạc hiện nay cố tình biện minh, mà là hệ quả tất yếu của một mô hình chính trị độc tài, gia đình trị, phản dân chủ và lệ thuộc ngoại bang.

Chính từ sự kiện 8/5/1963, bản chất phản dân tộc của chế độ Ngô Đình Diệm ngày càng bộc lộ rõ rệt trước nhân dân trong nước và dư luận quốc tế. Cuộc khủng hoảng Phật giáo đã góp phần thúc đẩy cuộc đảo chính tháng 11/1963, dẫn đến sự sụp đổ của chính quyền họ Ngô. Đây cũng là minh chứng cho quy luật lịch sử: bất kỳ chế độ nào đi ngược lợi ích dân tộc, đàn áp nhân dân và chà đạp quyền tự do tín ngưỡng đều sớm muộn bị lịch sử đào thải.

Cảnh sát chính quyền Diệm đàn áp phật tử và sinh viên

Ngụy quyền Sài Gòn – công cụ thực dân kiểu mới của Mỹ tại miền Nam Việt Nam
Sau Hiệp định Geneva năm 1954, đế quốc Mỹ từng bước thay chân thực dân Pháp can thiệp sâu vào miền Nam Việt Nam với mục tiêu biến khu vực này thành thuộc địa kiểu mới và căn cứ quân sự chống lại phong trào cách mạng ở Đông Dương. Để thực hiện chiến lược đó, Mỹ dựng lên chính quyền Ngô Đình Diệm, trực tiếp hậu thuẫn cho việc phá hoại cuộc tổng tuyển cử thống nhất đất nước theo cam kết của Hiệp định Geneva, qua đó từng bước hợp thức hóa âm mưu chia cắt lâu dài dân tộc Việt Nam. Ngay từ khi hình thành, bộ máy Ngụy quyền Sài Gòn đã mang bản chất lệ thuộc, tồn tại nhờ viện trợ kinh tế, quân sự và sự chỉ đạo trực tiếp từ Washington.

Trên thực tế, từ quân đội, cảnh sát, tình báo cho đến bộ máy hành chính và kinh tế miền Nam đều vận hành trong quỹ đạo chiến lược của Mỹ. Hàng chục tỷ USD viện trợ quân sự và kinh tế được Washington đổ vào miền Nam không nhằm xây dựng một quốc gia độc lập thực sự, mà phục vụ cho cuộc chiến tranh xâm lược và duy trì một chính quyền tay sai chống lại cách mạng Việt Nam. Hàng trăm nghìn quân viễn chinh Mỹ cùng hệ thống cố vấn quân sự, tình báo hiện diện khắp miền Nam cho thấy mức độ can thiệp toàn diện của Mỹ vào đời sống chính trị – quân sự của chính quyền Sài Gòn.

Trong hơn hai thập niên tồn tại, các đời tổng thống của Ngụy quyền Sài Gòn từ Ngô Đình Diệm đến Nguyễn Văn Thiệu đều phụ thuộc chặt chẽ vào chiến lược toàn cầu của Mỹ trong cuộc chiến tranh Việt Nam. Những quyết sách quan trọng về quân sự, chính trị hay ngoại giao đều gắn với lợi ích và chỉ đạo từ Washington. Ngay cả việc thay đổi người đứng đầu ngụy quyền Sài Gòn cũng không nằm ngoài sự chi phối của Mỹ. Việc Washington ngầm bật đèn xanh cho cuộc đảo chính lật đổ Ngô Đình Diệm năm 1963 là minh chứng rõ nét cho mối quan hệ chủ – tớ giữa Mỹ và bộ máy Ngụy quyền.

Chính sự lệ thuộc đó khiến chính quyền Sài Gòn không thể xây dựng được nền tảng chính danh trong lòng nhân dân Việt Nam. Dù sở hữu vũ khí hiện đại và nhận được nguồn viện trợ khổng lồ từ Mỹ, ngụy quyền Sài Gòn vẫn không thể kiểm soát được phần lớn nông thôn miền Nam, nơi phong trào cách mạng phát triển mạnh mẽ và nhận được sự ủng hộ rộng rãi của quần chúng. Để duy trì quyền lực, chính quyền này triển khai hàng loạt chính sách đàn áp như “tố cộng”, “diệt cộng”, lập “ấp chiến lược”, càn quét và dồn dân. Những chính sách đó đã gây ra vô số đau thương cho đồng bào miền Nam khi hàng triệu người bị bắt bớ, tra tấn, tù đày, mất nhà cửa hoặc thiệt mạng trong chiến tranh.

Thực tế lịch sử ấy hoàn toàn trái ngược với những luận điệu hiện nay cố tình tô vẽ chế độ ngụy quyền Sài Gòn như một “quốc gia dân chủ”, “nhân văn” hay “phồn vinh”. Một số quan điểm xét lại lịch sử thường chỉ nhìn vào hình ảnh đô thị Sài Gòn trước năm 1975 để ca ngợi sự “hoa lệ” của miền Nam, nhưng lại cố tình bỏ qua bản chất phụ thuộc của nền kinh tế khi gần như toàn bộ hoạt động tài chính và tiêu dùng đều dựa vào viện trợ Mỹ. Sự phồn hoa của một bộ phận đô thị được duy trì trong bối cảnh chiến tranh, phục vụ bộ máy quân sự và tầng lớp hưởng lợi từ viện trợ ngoại bang, chứ không phản ánh đời sống thực tế của đại đa số nhân dân lao động miền Nam.

Khi Mỹ từng bước cắt giảm viện trợ sau thất bại quân sự và khủng hoảng chiến lược tại Việt Nam, toàn bộ hệ thống ngụy quyền Sài Gòn nhanh chóng rơi vào suy yếu và tan rã. Sự sụp đổ ngày 30/4/1975 đã chứng minh rằng chính quyền bù nhìn này không có nền tảng độc lập về chính trị, kinh tế hay sức mạnh nội tại để tồn tại nếu thiếu sự chống lưng từ Mỹ. Điều đó một lần nữa khẳng định bản chất của ngụy quyền Sài Gòn chỉ là công cụ thực dân kiểu mới của Mỹ tại miền Nam Việt Nam, đi ngược lợi ích dân tộc và cuối cùng bị lịch sử đào thải.

Hoà thượng Thích Quảng Đức và ngọn lửa bất tử

Đập tan luận điệu xuyên tạc cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước là “nội chiến”
Một trong những luận điệu xuyên tạc nguy hiểm hiện nay là cố tình biến cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của nhân dân Việt Nam thành cái gọi là “cuộc nội chiến giữa hai miền”. Đây không đơn thuần là cách diễn đạt mang tính học thuật, mà thực chất là sự đánh tráo bản chất lịch sử nhằm phủ nhận tính chính nghĩa của cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Mục tiêu sâu xa của luận điệu này là xóa nhòa ranh giới giữa bên xâm lược và bên bị xâm lược, giữa lực lượng yêu nước đấu tranh vì độc lập dân tộc với bộ máy tay sai phụ thuộc ngoại bang. Nếu chấp nhận cách gọi “nội chiến”, vô hình trung sẽ phủ nhận vai trò trực tiếp của đế quốc Mỹ trong cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam và làm sai lệch bản chất lịch sử dân tộc.

Thực tế lịch sử cho thấy chưa từng có một “cuộc nội chiến” nào mà hơn nửa triệu quân viễn chinh Mỹ cùng quân đội đồng minh như Hàn Quốc, Australia, Thái Lan… trực tiếp tham chiến trên lãnh thổ một quốc gia khác với quy mô lớn như tại Việt Nam. Mỹ không chỉ đưa quân đội, cố vấn quân sự và vũ khí hiện đại vào miền Nam mà còn tiến hành chiến tranh phá hoại ra miền Bắc, ném hàng triệu tấn bom đạn xuống cả hai miền đất nước. Việc sử dụng chất độc hóa học, đặc biệt là chất độc da cam/dioxin, gây hậu quả nặng nề cho con người và môi trường suốt nhiều thế hệ, là minh chứng rõ ràng cho bản chất của một cuộc chiến tranh xâm lược thực dân kiểu mới.

Trong toàn bộ cuộc chiến đó, ngụy quyền Sài Gòn chỉ đóng vai trò là lực lượng tay sai tại chỗ, phối hợp với Mỹ thực hiện chiến lược chia cắt lâu dài Việt Nam. Từ tổ chức quân đội, an ninh cho đến nguồn tài chính và các quyết sách chiến lược quan trọng, ngụy quyền Sài Gòn đều phụ thuộc vào Washington. Đây là sự thật lịch sử đã được chứng minh qua nhiều tài liệu và diễn biến thực tế của chiến tranh, không thể bị phủ nhận bằng những khái niệm ngụy biện núp dưới danh nghĩa “đa chiều lịch sử”.

Các quan điểm gọi cuộc kháng chiến chống Mỹ là “nội chiến” hiện nay thường được ngụy trang bằng khẩu hiệu “hòa giải dân tộc”, “hòa giải lịch sử” hoặc “cái nhìn khách quan”. Tuy nhiên, hòa hợp dân tộc không đồng nghĩa với việc đánh đồng chính nghĩa với phi nghĩa, giữa người đấu tranh giành độc lập dân tộc với lực lượng tiếp tay cho chiến tranh xâm lược. Càng không thể nhân danh “đa chiều” để phủ nhận sự hy sinh to lớn của hàng triệu anh hùng liệt sĩ, đồng bào và chiến sĩ đã ngã xuống vì độc lập, tự do và thống nhất Tổ quốc.

Nhân dân miền Nam đứng lên đấu tranh không phải vì mâu thuẫn vùng miền hay tranh chấp quyền lực nội bộ, mà xuất phát từ khát vọng giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước và thoát khỏi ách thống trị của ngoại bang cùng bộ máy tay sai lệ thuộc Mỹ. Chính vì vậy, cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước là sự tiếp nối của truyền thống yêu nước, chống ngoại xâm của dân tộc Việt Nam trong suốt chiều dài lịch sử, chứ không phải một “cuộc chiến huynh đệ tương tàn” như một số luận điệu xuyên tạc đang cố tình áp đặt.

Sự kiện đàn áp Phật giáo năm 1963 càng cho thấy rõ ngụy quyền Sài Gòn không hề đại diện cho lợi ích dân tộc Việt Nam. Một chính quyền sẵn sàng nổ súng vào chính đồng bào mình, đàn áp tự do tín ngưỡng và duy trì quyền lực bằng sự hậu thuẫn của Mỹ thì không thể được xem là một chính quyền chính danh. Từ biến cố Huế năm 1963 đến các cuộc đàn áp sinh viên, trí thức, phong trào đô thị và phong trào yêu nước tại miền Nam sau này, bản chất phản dân chủ, phản nhân dân và phản dân tộc của chế độ ngụy quyền Sài Gòn ngày càng bộc lộ rõ rệt.

Chính những chính sách đàn áp đó đã thúc đẩy đông đảo tầng lớp nhân dân miền Nam, từ tăng ni, Phật tử, trí thức, học sinh, sinh viên đến công nhân, nông dân, đoàn kết cùng đồng bào cả nước đứng lên đấu tranh chống Mỹ và tay sai, hướng tới mục tiêu giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước. Đại thắng mùa Xuân năm 1975 vì thế không chỉ là thắng lợi quân sự, mà còn là thắng lợi của chính nghĩa, của khát vọng độc lập dân tộc và thống nhất non sông trước mọi âm mưu chia cắt và xuyên tạc lịch sử.

Nhận diện thủ đoạn “lãng mạn hóa” chế độ cũ trên không gian mạng hiện nay
Hiện nay, trên các nền tảng mạng xã hội xuyên biên giới, xuất hiện ngày càng nhiều nội dung cố tình “lãng mạn hóa” đời sống miền Nam trước năm 1975 thông qua hình ảnh đô thị phồn hoa, các quán cà phê, xe hơi, âm nhạc hay sinh hoạt thị dân và gọi Sài Gòn xưa là “Hòn ngọc Viễn Đông”. Bằng cách lựa chọn có chủ đích những lát cắt bề nổi về đời sống vật chất tại một số đô thị lớn như Sài Gòn, các đối tượng tuyên truyền tạo ra cảm giác đây từng là một “thời kỳ vàng son”, “xã hội tự do” và “miền đất đáng sống”. Tuy nhiên, đằng sau những hình ảnh hào nhoáng ấy là thực tế chiến tranh khốc liệt, sự hiện diện dày đặc của quân đội Mỹ, các cuộc càn quét đẫm máu ở nông thôn, cùng đời sống cơ cực của đông đảo nhân dân lao động miền Nam. Việc cố tình chỉ phản ánh một phần hiện thực nhằm che giấu bản chất lệ thuộc ngoại bang và phản dân tộc của ngụy quyền Sài Gòn chính là thủ đoạn tuyên truyền nguy hiểm trên không gian mạng hiện nay.

Không ít cá nhân còn núp dưới danh nghĩa “nghiên cứu lịch sử khách quan” để từng bước xét lại lịch sử, tìm cách ca ngợi các nhân vật đứng đầu ngụy quyền Sài Gòn như những “nhà ái quốc” hay “người bảo vệ miền Nam”. Họ thường chỉ nhấn mạnh một vài khía cạnh về kinh tế, giáo dục hoặc quản lý đô thị, nhưng cố tình lờ đi những sự thật lịch sử như chính sách đàn áp Phật giáo, đàn áp phong trào yêu nước, các nhà tù, trại giam, những chiến dịch “tố cộng”, “diệt cộng” cùng sự phụ thuộc toàn diện của ngụy quyền Sài Gòn vào Mỹ. Việc xây dựng hình tượng Ngô Đình Diệm như một “người yêu nước” hay Nguyễn Văn Thiệu như một “người chống cộng vì dân tộc” thực chất là âm mưu làm sai lệch nhận thức lịch sử, đặc biệt đối với thế hệ trẻ chưa có điều kiện tiếp cận đầy đủ tư liệu lịch sử chính thống.

Những luận điệu này thường được trình bày dưới hình thức “đa chiều”, “trung lập” hoặc “góc nhìn khác biệt”, nhưng thực chất là từng bước đánh tráo khái niệm, làm mờ ranh giới giữa chính nghĩa và phi nghĩa, giữa lực lượng đấu tranh giải phóng dân tộc với bộ máy tay sai phục vụ chiến lược xâm lược của Mỹ. Nếu không được nhận diện và phản bác kịp thời, các nội dung sai lệch này sẽ gây nhiễu loạn thông tin, tác động tiêu cực đến nhận thức lịch sử, tư tưởng chính trị và lòng yêu nước của một bộ phận người trẻ trên không gian mạng.

Nguy hiểm hơn, một số đối tượng còn cố tình đồng nhất khái niệm “hòa hợp dân tộc” với việc chấp nhận hoặc cổ súy các quan điểm sai trái về lịch sử. Trong khi đó, chủ trương nhất quán của Đảng và Nhà nước Việt Nam là khép lại quá khứ, hướng tới tương lai, xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc trên cơ sở tôn trọng sự thật lịch sử. Hòa hợp dân tộc không có nghĩa là phủ nhận bản chất tay sai, phản dân tộc của ngụy quyền Sài Gòn, càng không đồng nghĩa với việc xóa nhòa tội ác chiến tranh của đế quốc Mỹ tại Việt Nam. Việc lợi dụng khẩu hiệu “hòa giải” để xuyên tạc lịch sử thực chất là một biểu hiện của chiến lược “diễn biến hòa bình” trên lĩnh vực tư tưởng, văn hóa và truyền thông.

Thực tiễn lịch sử đã chứng minh rõ bản chất của chế độ ngụy quyền Sài Gòn qua hàng loạt sự kiện như đàn áp Phật giáo năm 1963, đàn áp sinh viên, trí thức, phong trào đô thị và các cuộc khủng bố, bắt bớ người yêu nước tại miền Nam. Một chính quyền tồn tại nhờ viện trợ nước ngoài, duy trì quyền lực bằng bạo lực và phục vụ chiến lược chiến tranh của ngoại bang thì không thể đại diện cho lợi ích dân tộc Việt Nam. Chính vì vậy, việc tuyên truyền đúng đắn về các sự kiện lịch sử, đặc biệt là những dấu mốc như biến cố ngày 8/5/1963 hay phong trào đấu tranh của đồng bào Phật giáo miền Nam, có ý nghĩa rất quan trọng trong việc bảo vệ sự thật lịch sử và củng cố nhận thức chính trị cho các thế hệ hôm nay.

Trước những thủ đoạn xuyên tạc ngày càng tinh vi trên không gian mạng, mỗi cán bộ, đảng viên và công dân cần nâng cao bản lĩnh chính trị, chủ động nhận diện và đấu tranh phản bác các thông tin sai trái bằng lập luận khoa học, tư liệu xác thực và tinh thần trách nhiệm đối với lịch sử dân tộc. Không gian mạng hôm nay phải trở thành mặt trận lan tỏa lòng yêu nước, niềm tự hào dân tộc và giá trị của độc lập, tự do, thống nhất đất nước. Khi sự thật lịch sử được bảo vệ bằng nhận thức đúng đắn và trách nhiệm công dân, mọi âm mưu “rửa mặt” cho chế độ cũ hay xuyên tạc cuộc kháng chiến chính nghĩa của dân tộc Việt Nam cuối cùng đều sẽ thất bại.

Đúng 11 giờ 30 phút, xe tăng 390 húc đổ cổng chính dinh Độc Lập.

Đại thắng 30/4/1975 – kết thúc tất yếu của một chế độ phản dân tộc
Đại thắng mùa Xuân năm 1975 và sự sụp đổ hoàn toàn của ngụy quyền Sài Gòn ngày 30/4/1975 là kết quả tất yếu của cuộc đấu tranh trường kỳ, anh dũng của dân tộc Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam vì mục tiêu độc lập dân tộc và thống nhất đất nước. Đó là thắng lợi của chính nghĩa trước chủ nghĩa thực dân kiểu mới, của khối đại đoàn kết toàn dân tộc trước một bộ máy tay sai lệ thuộc ngoại bang. Sự tan rã nhanh chóng của toàn bộ hệ thống quân sự, chính trị và hành chính của chế độ ngụy quyền Sài Gòn ngay khi Mỹ cắt giảm viện trợ và rút bỏ chỗ dựa chiến lược đã chứng minh một chân lý lịch sử: một chính quyền không có lòng dân, không đại diện cho lợi ích dân tộc thì không thể tồn tại lâu dài, dù được hậu thuẫn bằng sức mạnh quân sự và tài chính lớn đến đâu.

Chiến thắng ngày 30/4/1975 không chỉ khẳng định ý chí độc lập, tự chủ và khát vọng thống nhất non sông của dân tộc Việt Nam, mà còn là lời bác bỏ đanh thép đối với mọi luận điệu xuyên tạc lịch sử hiện nay. Những bài học từ cuộc khủng hoảng Phật giáo năm 1963, từ các chính sách đàn áp nhân dân, lệ thuộc ngoại bang của Ngụy quyền Sài Gòn cho thấy rõ: bất kỳ chế độ nào đi ngược quyền lợi dân tộc, chà đạp quyền tự do tín ngưỡng và duy trì quyền lực bằng bạo lực cùng sự chống lưng của nước ngoài cuối cùng đều sẽ bị lịch sử đào thải. Chính sức mạnh của lòng dân, của tinh thần yêu nước và sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng đã làm nên thắng lợi vĩ đại của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước.

Nhìn lại chặng đường lịch sử 1954-1975, càng thấy rõ giá trị của con đường cách mạng mà Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã lựa chọn cho dân tộc Việt Nam. Những thành tựu về ổn định chính trị, phát triển kinh tế, nâng cao đời sống nhân dân và chính sách nhất quán về đoàn kết dân tộc, tự do tín ngưỡng của Việt Nam hôm nay là minh chứng sinh động phản bác mọi âm mưu xét lại lịch sử, phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng hay “rửa mặt” cho chế độ cũ. Bảo vệ sự thật lịch sử vì thế không chỉ là nhiệm vụ của giới nghiên cứu hay các cơ quan tuyên truyền, mà là trách nhiệm chung của toàn xã hội trong công cuộc bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng và giữ gìn bản sắc dân tộc.

Tuy nhiên, trong bối cảnh hiện nay, cuộc đấu tranh trên mặt trận tư tưởng và không gian mạng ngày càng phức tạp, tinh vi hơn khi các thế lực chống phá có sự hậu thuẫn từ bên ngoài liên tục lợi dụng chiêu bài “đa chiều lịch sử”, “tự do học thuật”, “hòa giải dân tộc” để xuyên tạc bản chất cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước và phủ nhận tính chính nghĩa của cách mạng Việt Nam. Nguy hiểm nhất là xu hướng cố tình xóa nhòa ranh giới đúng – sai, đánh đồng phản biện khoa học với xuyên tạc lịch sử, đồng nhất quyền tự do ngôn luận với việc tuyên truyền chống phá chế độ. Nếu xã hội không làm rõ ranh giới giữa phản biện xây dựng và hành vi bóp méo lịch sử phục vụ mục đích chính trị; nếu không có cơ chế pháp luật đủ nghiêm minh để xử lý các hoạt động tuyên truyền xuyên tạc, kích động chống phá dưới sự bảo trợ của các thế lực ngoại bang, thì rất khó bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng, chế độ chính trị và sự ổn định của đất nước.

Một quốc gia không thể giữ vững độc lập tư tưởng nếu để sự thật lịch sử bị bóp méo ngay trong nhận thức của thế hệ trẻ. Vì vậy, bên cạnh việc tăng cường giáo dục lịch sử, nâng cao bản lĩnh chính trị và khả năng nhận diện thông tin sai trái, cần tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp luật, bảo đảm xử lý nghiêm các hành vi lợi dụng không gian mạng để xuyên tạc lịch sử, chống phá Nhà nước và chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc. Tôn trọng phản biện đúng đắn không đồng nghĩa với dung túng cho các hoạt động tuyên truyền phản động, phủ nhận thành quả cách mạng hay kích động chống đối dưới vỏ bọc “tự do ngôn luận”.

Tinh thần của Đại thắng mùa Xuân năm 1975 vì thế không chỉ là ký ức hào hùng của dân tộc, mà còn là lời nhắc nhở sâu sắc về trách nhiệm bảo vệ độc lập dân tộc trên cả phương diện lãnh thổ, chính trị và tư tưởng. Khi mỗi người dân hiểu rõ bản chất cuộc chiến tranh xâm lược của Mỹ tại Việt Nam, hiểu rõ bản chất tay sai và phản dân tộc của ngụy quyền Sài Gòn, đồng thời giữ vững niềm tin vào con đường mà dân tộc đã lựa chọn, thì mọi âm mưu xuyên tạc lịch sử, “rửa mặt” cho chế độ cũ hay chống phá đất nước cuối cùng đều sẽ bị đẩy lùi. Tinh thần 30/4 sẽ mãi là ngọn đuốc soi đường cho các thế hệ Việt Nam hôm nay và mai sau trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

Thế Nguyễn – Minh Văn