Thứ Hai, Tháng 5 25, 2026
* Email: bbt.dongnama@gmail.com *Tòa soạn: 0989011688 - 0768908888
spot_img
[gtranslate]

Công tư đồng kiến quốc – phát huy tối ưu nguồn lực phát triển kinh tế Việt Nam hiện nay



ĐNA -

“Công tư đồng kiến quốc” là tư duy quản trị mới chuyển từ cơ chế Nhà nước quản lý sang hợp tác chiến lược giữa khu vực công và tư nhân nhằm cùng thiết lập, hành động và chia sẻ trách nhiệm cho mục tiêu phát triển nhanh, bền vững. Trong bối cảnh kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo, kinh tế tư nhân là động lực quan trọng nhất của nền kinh tế, mô hình này được xem là giải pháp tháo gỡ sức ì hệ thống và các điểm nghẽn thể chế, đặc biệt trong huy động nguồn lực lớn và thúc đẩy đổi mới sáng tạo theo tinh thần các nghị quyết của Đảng và Nhà nước.

Cơ sở lý luận và thực tiễn
Vị thế chiến lược của kinh tế tư nhân trong nền kinh tế Việt Nam hiện nay
Sự ra đời của mô hình “công tư đồng kiến quốc” được xây dựng trên nền tảng chuyển đổi tư duy chính sách mang tính đột phá. Nghị quyết số 68-NQ/TW của Bộ Chính trị đã chính thức khẳng định kinh tế tư nhân là một trong những động lực quan trọng nhất của nền kinh tế Việt Nam.

Hiện khu vực kinh tế tư nhân giữ vai trò tiên phong trong thúc đẩy tăng trưởng, tạo việc làm và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia. Với hơn 940 nghìn doanh nghiệp và trên 5 triệu hộ kinh doanh, khu vực này đóng góp khoảng 50% GDP, hơn 30% tổng thu ngân sách nhà nước và sử dụng tới 82% lực lượng lao động cả nước (theo Báo cáo Toàn cảnh Kinh tế tư nhân Việt Nam 2025).

Vị thế chiến lược của kinh tế tư nhân không chỉ thể hiện qua các con số tăng trưởng mà còn ở vai trò nòng cốt trong xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ, tự lực, tự cường trong bối cảnh hội nhập quốc tế sâu rộng. Đây cũng là lực lượng đi đầu trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi mô hình tăng trưởng theo hướng xanh, tuần hoàn và bền vững.

Theo mục tiêu chiến lược đến năm 2030, Việt Nam phấn đấu có ít nhất 2 triệu doanh nghiệp, khu vực kinh tế tư nhân đóng góp khoảng 55–58% GDP; đến năm 2045, tỷ lệ đóng góp dự kiến vượt 60% GDP. Điều này cho thấy kinh tế tư nhân đang trở thành xung lực mới, góp phần giúp Việt Nam vượt qua nguy cơ tụt hậu và bứt phá trong kỷ nguyên phát triển mới của dân tộc.

Để phát huy tối đa vai trò này, Nhà nước đang tập trung hoàn thiện thể chế, xóa bỏ rào cản và định kiến, đồng thời bảo đảm môi trường cạnh tranh bình đẳng để doanh nghiệp tư nhân tiếp cận hiệu quả các nguồn lực chiến lược cho phát triển.

Hạn chế của các mô hình hợp tác công – tư truyền thống
Mặc dù hợp tác công – tư (PPP) đã được thể chế hóa, song quá trình triển khai trên thực tế vẫn đối mặt với nhiều thách thức. Mô hình PPP truyền thống tại Việt Nam hiện tồn tại nhiều điểm nghẽn thể chế, như thủ tục hành chính phức tạp, khó khăn trong xác định giá trị quyền sử dụng đất và đặc biệt là cơ chế chia sẻ rủi ro chưa rõ ràng, chưa đủ hấp dẫn đối với nhà đầu tư.

Việc tách rời các yếu tố như hỗ trợ vốn, cơ chế thanh toán và chia sẻ rủi ro khiến nhiều dự án phát sinh rủi ro tài chính phức tạp ngay sau khi đi vào triển khai. Bên cạnh đó, cơ chế hỗ trợ hiện nay vẫn chủ yếu thiên về “đầu vào”, tập trung tạo điều kiện để dự án khởi động nhưng chưa gắn chặt với chất lượng dịch vụ đầu ra và hiệu quả vận hành thực tế. Hệ quả là Nhà nước phải chi ngân sách từ giai đoạn đầu nhưng lại thiếu công cụ đủ mạnh để bảo đảm chất lượng dịch vụ công trong dài hạn.

Ngoài ra, công tác quản trị rủi ro tài khóa còn thiếu tính chủ động. Các nghĩa vụ nợ tiềm tàng phát sinh từ biến động doanh thu hoặc các cam kết tài chính chưa được theo dõi và kiểm soát chặt chẽ, tiềm ẩn nguy cơ tạo áp lực lớn lên ngân sách nhà nước trong tương lai. Sự thiếu phối hợp đồng bộ giữa các cơ quan quản lý đầu tư, tài chính và ngân sách cũng làm giảm tính minh bạch, khả năng dự báo và hiệu quả huy động nguồn lực xã hội của mô hình PPP.

Trong bối cảnh đó, mô hình “công tư đồng kiến quốc” được xem là bước phát triển cao hơn của hợp tác công – tư truyền thống, vượt ra khỏi giới hạn Nhà nước chỉ đóng vai trò kiến tạo còn doanh nghiệp chỉ tham gia tham vấn, kiến nghị. Bản chất của mô hình này là Nhà nước và khu vực tư nhân cùng tạo lập giá trị mới, cùng chia sẻ trách nhiệm và đồng hành giải quyết các bài toán phát triển chung của quốc gia.

Tầm quan trọng của cải cách khu vực Kinh tế Nhà nước
Cải cách khu vực kinh tế nhà nước giữ vai trò then chốt trong quá trình hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, đồng thời là yêu cầu cấp bách nhằm giải phóng và sử dụng hiệu quả các nguồn lực quốc gia. Với vị thế là thành phần kinh tế giữ vai trò chủ đạo, khu vực này không chỉ thực hiện chức năng định hướng, điều tiết vĩ mô mà còn là công cụ quan trọng để Nhà nước can thiệp kịp thời trước các biến động, bảo đảm an ninh kinh tế và quốc phòng.

Quá trình cải cách hướng tới chuyển đổi mạnh mẽ từ tư duy quản lý hành chính sang tư duy kiến tạo phát triển, qua đó tháo gỡ các “điểm nghẽn” thể chế và khai thác hiệu quả hơn các nguồn lực chiến lược như đất đai, tài nguyên số và ngân sách nhà nước. Trên thực tế, nhiều doanh nghiệp nhà nước (DNNN) vẫn hoạt động kém hiệu quả, thiếu tính năng động, còn xảy ra tình trạng thất thoát và lãng phí nguồn lực. Vì vậy, việc tiếp tục cơ cấu lại DNNN và các đơn vị sự nghiệp công lập là yêu cầu cần thiết để khu vực kinh tế nhà nước phát huy vai trò tiên phong trong đổi mới sáng tạo, dẫn dắt tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hình thành mô hình tăng trưởng mới dựa trên khoa học – công nghệ.

Việc ban hành Luật Quản lý và đầu tư vốn nhà nước tại doanh nghiệp (Luật số 68/2025/QH15) được xem là bước tiến chiến lược, thúc đẩy chuyển đổi cơ chế quản lý theo hướng thị trường, đồng thời trao quyền tự chủ và tính linh hoạt cao hơn cho DNNN. Những thay đổi này tạo điều kiện để khu vực kinh tế nhà nước tương tác và hợp tác hiệu quả, lành mạnh hơn với khu vực kinh tế tư nhân. Một khu vực kinh tế nhà nước được quản trị hiện đại, minh bạch và vận hành hiệu quả sẽ là nền tảng quan trọng để xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ, đồng thời tạo động lực giúp Việt Nam hiện thực hóa mục tiêu trở thành quốc gia phát triển, thu nhập cao vào năm 2045.

Nghị quyết số 79-NQ/TW ngày 6/1/2026 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế nhà nước tiếp tục khẳng định mạnh mẽ vai trò chủ đạo của khu vực này trong mối quan hệ tương hỗ và dẫn dắt đối với khu vực kinh tế tư nhân. Theo đó, trong mối quan hệ với các thành phần kinh tế khác, đặc biệt là kinh tế tư nhân, kinh tế nhà nước không chỉ đóng vai trò “bà đỡ” mà còn phải “tiên phong kiến tạo phát triển, dẫn dắt, mở đường” nhằm thúc đẩy quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Mối quan hệ chiến lược này được thể hiện trên một số phương diện chủ yếu sau:

Thứ nhất, vai trò dẫn dắt và hỗ trợ phát triển: Một trong những mục tiêu tổng quát của Nghị quyết 79-NQ/TW là nâng cao hiệu quả của khu vực kinh tế nhà nước để dẫn dắt và hỗ trợ các thành phần kinh tế khác cùng phát triển. Theo đó, các doanh nghiệp nhà nước quy mô lớn được định hướng trở thành lực lượng tiên phong trong các ngành, lĩnh vực then chốt, tạo động lực thúc đẩy tăng trưởng, đồng thời thu hút doanh nghiệp tư nhân tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị và chuỗi cung ứng toàn cầu.

Thứ hai, bảo đảm bình đẳng và hợp tác lành mạnh: Mặc dù giữ vai trò chủ đạo, kinh tế nhà nước vẫn hoạt động trên nguyên tắc bình đẳng trước pháp luật và cạnh tranh lành mạnh với khu vực kinh tế tư nhân. Nhà nước cam kết xây dựng môi trường kinh doanh minh bạch, công bằng và thuận lợi, bảo đảm các thành phần kinh tế được tiếp cận bình đẳng đối với các nguồn lực phát triển quốc gia.

Thứ ba, lan tỏa công nghệ và tri thức: Nghị quyết 79-NQ/TW yêu cầu doanh nghiệp nhà nước phải đi đầu trong đổi mới sáng tạo, nghiên cứu và ứng dụng khoa học – công nghệ. Đồng thời, khu vực này cần có cơ chế chia sẻ và lan tỏa công nghệ, tri thức quản trị nhằm hỗ trợ các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác, đặc biệt là khu vực tư nhân, nâng cao năng lực cạnh tranh và tham gia hiệu quả hơn vào nền kinh tế số và chuỗi giá trị toàn cầu.

Thứ tư, thúc đẩy hợp tác công – tư hiệu quả: Nghị quyết khuyến khích tăng cường kết hợp nguồn lực nhà nước và tư nhân thông qua các mô hình hợp tác công – tư (PPP), cho phép khu vực tư nhân tham gia quản lý, khai thác tài nguyên và vận hành kết cấu hạ tầng do Nhà nước đầu tư. Đây được xem là giải pháp quan trọng nhằm tối ưu hóa hiệu quả sử dụng tài sản công, đồng thời huy động mạnh mẽ hơn nguồn lực xã hội cho phát triển.

Tóm lại, Nghị quyết 79-NQ/TW khẳng định kinh tế nhà nước và kinh tế tư nhân không phải là hai khu vực tách rời hay đối lập, mà có mối quan hệ gắn kết hữu cơ và bổ trợ lẫn nhau. Trong đó, kinh tế nhà nước giữ vai trò nòng cốt, dẫn dắt và mở đường, tạo không gian phát triển và cơ hội để kinh tế tư nhân bứt phá, cùng hướng tới mục tiêu xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ và hiện đại trong giai đoạn phát triển mới của đất nước.

Đề xuất mô hình “công tư đồng kiến quốc”
Mô hình “công tư đồng kiến quốc” cần được thiết lập như một nền tảng kết nối chặt chẽ, xuyên suốt giữa khu vực công và khu vực tư, vận hành liên tục, đồng hành và cùng chịu trách nhiệm trong dài hạn đối với các mục tiêu phát triển quốc gia.

Về cơ cấu tổ chức và chức năng, mô hình cần được thiết kế theo cấu trúc song hành, bảo đảm sự tham gia của cả khu vực công và khu vực tư ở hai cấp độ: hoạch định chiến lược và triển khai theo ngành, lĩnh vực.

Ở cấp độ hoạch định chiến lược, cần hình thành một cơ quan điều hành cấp cao với sự tham gia của đại diện Chính phủ và các doanh nghiệp, doanh nhân tiêu biểu có đóng góp lớn đối với sự phát triển của khu vực kinh tế tư nhân. Cơ quan này có chức năng xây dựng khung chiến lược phát triển kinh tế – xã hội theo hướng bền vững và dài hạn; đề xuất các quy hoạch trọng điểm quốc gia; đồng thời giám sát tính minh bạch, hiệu quả của các chương trình và dự án thuộc mô hình công tư đồng kiến quốc.

Ở cấp độ chuyên ngành, mô hình cần được tổ chức theo các nhóm ngành có tiềm năng đột phá và giá trị dẫn dắt cao, như công nghệ cao (AI, công nghiệp bán dẫn…), hạ tầng quốc gia (cảng biển, logistics…), công nghiệp chế biến, chế tạo gắn với các sản phẩm xuất khẩu chủ lực, phát triển nguồn nhân lực và dịch vụ chất lượng cao. Trên cơ sở thực tiễn và định hướng phát triển của từng lĩnh vực, các nhóm chuyên ngành sẽ chủ động đề xuất, triển khai và phối hợp thực hiện các chương trình, dự án trọng điểm của ngành mình.

Về cơ chế hợp tác, thay vì duy trì mô hình Nhà nước điều hành và doanh nghiệp chỉ tham gia kiến nghị, cần xác lập mô hình “công tư đồng kiến quốc” dựa trên các trụ cột hợp tác chiến lược giữa khu vực công và khu vực tư.

Thứ nhất, xây dựng nền tảng kết nối thực chất. Cần phát triển một cơ chế đối thoại và hợp tác thường xuyên giữa Nhà nước và khu vực tư nhân, hoạt động liên tục thay vì chỉ giới hạn trong các diễn đàn tham vấn định kỳ. Thông qua nền tảng này, hai bên có thể cùng tham gia xây dựng chiến lược phát triển ngành, xác định ưu tiên đầu tư và tháo gỡ khó khăn trong quá trình triển khai chính sách.

Thứ hai, tăng cường vai trò tham gia của khu vực tư nhân trong hoạch định chính sách. Khu vực tư không chỉ là lực lượng thực thi mà cần được tham gia ngay từ khâu xây dựng chiến lược, quy hoạch và thiết kế chính sách phát triển. Điều này giúp bảo đảm các định hướng phát triển bám sát thực tiễn thị trường, nhu cầu của doanh nghiệp và xu hướng công nghệ mới.

Thứ ba, thiết lập cơ chế báo cáo, giám sát và đo lường theo thời gian thực. Việc xây dựng hệ thống dữ liệu và chỉ số động giúp nâng cao tính minh bạch, giảm thiểu chi phí không chính thức và phản ánh chính xác mức độ thông thoáng của môi trường kinh doanh. Đồng thời, cơ chế này cho phép cơ quan quản lý nhanh chóng phát hiện các điểm nghẽn, biểu hiện trì trệ hoặc cản trở trong quá trình thực thi để có biện pháp điều chỉnh kịp thời dựa trên dữ liệu thực tế.

Thứ tư, thúc đẩy chia sẻ và khai thác hiệu quả tài nguyên số. Trong bối cảnh kinh tế số phát triển mạnh mẽ, tài nguyên số cần được xem là nguồn lực chiến lược quốc gia. Việc hoàn thiện khung pháp lý liên quan đến dữ liệu, viễn thông và quyền tiếp cận tài nguyên số sẽ tạo điều kiện thúc đẩy kinh tế dữ liệu, đổi mới sáng tạo và bảo đảm môi trường cạnh tranh bình đẳng giữa khu vực công và khu vực tư.

Cơ chế hợp tác giữa khu vực tư nhân với nhau
Để khắc phục tình trạng phát triển phân tán, “mạnh ai nấy làm” và phát huy sức mạnh tổng thể của khu vực tư nhân, cần hình thành cơ chế liên kết nội khối hiệu quả và bền vững.

Thứ nhất, phát huy vai trò dẫn dắt của doanh nghiệp lớn. Cần xác lập các chỉ tiêu và cơ chế khuyến khích doanh nghiệp quy mô lớn hỗ trợ, dẫn dắt doanh nghiệp vừa và nhỏ tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị, chuỗi cung ứng và hệ sinh thái sản xuất – kinh doanh của mình. Qua đó, nâng cao năng lực cạnh tranh và khả năng tham gia thị trường quốc tế của toàn bộ khu vực tư nhân.

Thứ hai, phát triển các cụm liên kết ngành. Việc hình thành các cụm ngành theo lợi thế cạnh tranh sẽ giúp tối ưu hóa chi phí sản xuất, logistics và hạ tầng dùng chung, đồng thời tạo hiệu ứng cộng hưởng về công nghệ, thị trường và nguồn nhân lực. Đây cũng là nền tảng để thúc đẩy đổi mới sáng tạo và nâng cao giá trị gia tăng trong từng ngành kinh tế.

Thứ ba, thúc đẩy cơ chế lan tỏa tri thức và công nghệ. Các doanh nghiệp lớn và doanh nghiệp đầu ngành cần đóng vai trò hạt nhân trong việc chia sẻ công nghệ, kinh nghiệm quản trị, tiêu chuẩn vận hành và đào tạo nguồn nhân lực cho doanh nghiệp vừa và nhỏ trong cùng hệ sinh thái ngành. Cơ chế này sẽ góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh tổng thể của khu vực tư nhân trong bối cảnh hội nhập sâu rộng và chuyển đổi số.

Giải pháp thúc đẩy thực thi mô hình “công tư đồng kiến quốc”

Trước hết, hoàn thiện khung thể chế theo hướng “đồng kiến tạo”. Cần chuyển từ tư duy “phê duyệt – cấp phép” sang tư duy “hợp tác – đồng hành”, tạo lập môi trường pháp lý cho các chủ thể công và tư cùng tham gia thiết kế chính sách, chia sẻ trách nhiệm và hưởng lợi ích. Điều này đòi hỏi sửa đổi, bổ sung các quy định liên quan đến đầu tư công, hợp tác công – tư (PPP) và quản lý tài sản công theo hướng linh hoạt, minh bạch và có khả năng dự báo cao. Đặc biệt, cơ chế chia sẻ rủi ro cần được thể chế hóa theo nguyên tắc thị trường nhằm giảm thiểu bất định và tăng sức hấp dẫn đối với khu vực tư nhân.

Thứ hai, xây dựng bộ máy điều phối đủ thẩm quyền và năng lực. Cơ quan điều hành cấp chiến lược cần được trao quyền thực chất để điều phối liên ngành, liên vùng và xử lý hiệu quả các xung đột lợi ích giữa các bên tham gia. Đồng thời, đội ngũ cán bộ công quyền cần được nâng cao năng lực theo hướng chuyển từ “quản lý hành chính” sang “quản trị phát triển”, có tư duy hợp tác, hiểu biết thị trường và khả năng đồng hành cùng doanh nghiệp trong các dự án phức tạp.

Thứ ba, phát triển hạ tầng dữ liệu và nền tảng số phục vụ đồng kiến tạo. Việc xây dựng hệ thống dữ liệu mở, liên thông giữa cơ quan nhà nước và doanh nghiệp sẽ góp phần nâng cao tính minh bạch, giảm chi phí giao dịch và hỗ trợ ra quyết định dựa trên dữ liệu. Các nền tảng số cũng cần được thiết kế để theo dõi, đánh giá tiến độ và hiệu quả các chương trình, dự án theo thời gian thực, qua đó tăng cường trách nhiệm giải trình của các bên liên quan.

Thứ tư, thiết lập cơ chế khuyến khích và bảo vệ các chủ thể tiên phong. Nhà nước cần có chính sách ưu đãi có chọn lọc đối với các doanh nghiệp tham gia các dự án đồng kiến tạo mang tính chiến lược, đặc biệt trong các lĩnh vực công nghệ cao, hạ tầng trọng điểm và chuyển đổi xanh. Song song với đó là cơ chế bảo vệ phù hợp trước các rủi ro mang tính hệ thống hoặc rủi ro chính sách nhằm tạo niềm tin dài hạn cho khu vực tư nhân khi tham gia các dự án quy mô lớn, có vòng đời dài.

Thứ năm, thúc đẩy văn hóa hợp tác và củng cố niềm tin giữa khu vực công và khu vực tư. Việc khơi dậy khát vọng phát triển quốc gia trong cộng đồng doanh nhân không thể chỉ dừng ở lời kêu gọi mà cần được cụ thể hóa bằng các thiết chế và cơ chế hợp tác rõ ràng. Doanh nhân cần được tái định vị như một chủ thể đồng kiến tạo chính sách, được tham gia thực chất vào quá trình hoạch định và triển khai chiến lược phát triển. Đồng thời, cần xây dựng cơ chế chia sẻ lợi ích và rủi ro minh bạch, có thể dự báo; hình thành hệ sinh thái tôn vinh những doanh nhân có đóng góp cho quốc gia; và bảo đảm tính ổn định, nhất quán của chính sách. Khi doanh nhân có vai trò, có lợi ích chính đáng và được bảo vệ trong một môi trường minh bạch, họ sẽ trở thành lực lượng đồng hành mạnh mẽ và bền vững cùng Nhà nước trong giải quyết các bài toán lớn của nền kinh tế.

Cuối cùng, triển khai các dự án thí điểm quy mô quốc gia theo cơ chế đồng kiến tạo. Các dự án thí điểm nên tập trung vào những lĩnh vực có tính lan tỏa cao như hạ tầng số, năng lượng tái tạo, logistics và công nghiệp công nghệ cao. Thành công của các mô hình này sẽ tạo cơ sở thực tiễn cho việc hoàn thiện thể chế, củng cố niềm tin giữa các chủ thể tham gia và thúc đẩy nhân rộng mô hình “công tư đồng kiến quốc” trên phạm vi toàn nền kinh tế.

Mô hình “công tư đồng kiến quốc” thể hiện sự chuyển đổi căn bản trong tư duy huy động và phát huy nguồn lực công cũng như nguồn lực tư nhân cho phát triển kinh tế, đặc biệt được thúc đẩy bởi tinh thần của Nghị quyết 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân và Nghị quyết 79-NQ/TW về phát triển kinh tế nhà nước. Trong mô hình này, khu vực kinh tế tư nhân không còn chỉ là đối tượng được quản lý mà được nâng lên thành chủ thể đồng hành và đồng kiến tạo cùng Nhà nước. Khu vực công và khu vực tư cùng tham gia thiết lập chiến lược, tạo lập giá trị mới và chia sẻ trách nhiệm trong quá trình phát triển đất nước.

Bên cạnh mối quan hệ công – tư, mô hình cũng đặt ra yêu cầu xây dựng mối liên kết thực chất giữa các doanh nghiệp tư nhân với nhau. Theo đó, các doanh nghiệp lớn và doanh nghiệp đầu ngành cần phát huy vai trò dẫn dắt, hỗ trợ doanh nghiệp vừa và nhỏ tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị và hệ sinh thái sản xuất – kinh doanh. Các doanh nghiệp không chỉ cần chủ động, linh hoạt và hành động nhanh, mà còn phải theo đuổi cam kết dài hạn, thực chất, cùng với việc xây dựng cơ chế quản trị hiện đại dựa trên tính minh bạch và khả năng đo lường hiệu quả rõ ràng.

Tuy nhiên, để mô hình “công tư đồng kiến quốc” có thể vận hành hiệu quả, thách thức lớn nhất là vượt qua sức ì của hệ thống vốn đã quen với cách tiếp cận và phương thức vận hành cũ. Bên cạnh đó là những rào cản từ tư duy quản lý truyền thống, lợi ích cục bộ và tình trạng chi phí không chính thức. Việc tháo gỡ các điểm nghẽn này sẽ quyết định khả năng hiện thực hóa một mô hình phát triển mới dựa trên hợp tác chiến lược, minh bạch và cùng chia sẻ trách nhiệm giữa Nhà nước và khu vực tư nhân.

Th.S. Vũ Thị Quý/Học viện Chính trị khu vực II

Tài liệu tham khảo:
1.Bộ Chính trị. (2025), Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân
2.Bộ Chính trị. (2026), Nghị quyết số 79-NQ/TW về phát triển kinh tế nhà nước
3.Quốc hội. (2025), Luật số 68/2025/QH15: Luật Quản lý và đầu tư vốn nhà nước tại doanh nghiệp
4.Tạp chí Đầu tư Tài chính (2025), Báo cáo Toàn cảnh Kinh tế tư nhân Việt Nam 2025.