Chủ Nhật, Tháng 5 17, 2026
* Email: bbt.dongnama@gmail.com *Tòa soạn: 0989011688 - 0768908888
spot_img
[gtranslate]

Từ tình cảm của Bác với miền Nam đến khát vọng phát triển Đồng bằng sông Cửu Long

Bài viết Kỷ niệm 136 năm, ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh (19/5/1890 - 19/5/2026)

ĐNA -

Thực hiện di nguyện thiêng liêng của Bác Hồ, hôm nay, Đồng bằng sông Cửu Long đang đứng trước bước chuyển mình mạnh mẽ: tinh gọn bộ máy, phát triển nông nghiệp xanh và khơi thông kinh tế biển. Hành trình đổi mới đầy thách thức ấy không chỉ mở ra lời giải cho bài toán phát triển bền vững trong thời đại số, mà còn là sự tiếp nối khát vọng dựng xây đất nước hùng cường. Trong mỗi bước đi của vùng đất phương Nam vẫn hiện hữu tầm nhìn về độc lập dân tộc cùng tình cảm sâu nặng mà Chủ tịch Hồ Chí Minh dành cho đồng bào Nam Bộ, nguồn động lực và kim chỉ nam soi sáng tương lai Đồng bằng sông Cửu Long hôm nay.

Phối cảnh tuyến đường sắt đô thị nối từ sân bay đến Trung tâm hội nghị APEC, Phú Quốc.

Miền Tây vươn mình trong không gian mới
Bước vào năm 2026, Đồng bằng sông Cửu Long vận hành trong không gian hành chính mới sau quá trình sắp xếp đơn vị cấp tỉnh và tổ chức chính quyền địa phương theo mô hình hai cấp. Theo nghị quyết của Quốc hội, Cần Thơ hợp nhất với Hậu Giang và Sóc Trăng; An Giang hợp nhất với Kiên Giang; Đồng Tháp hợp nhất với Tiền Giang; Vĩnh Long hợp nhất với Bến Tre và Trà Vinh; Cà Mau hợp nhất với Bạc Liêu. Long An hợp nhất với Tây Ninh, trở thành cửa ngõ kết nối miền Tây với vùng Đông Nam Bộ và TP.HCM.

Việc kết thúc hoạt động của cấp huyện không đơn thuần là thay đổi về tổ chức hành chính, mà còn mở ra yêu cầu mới trong quản trị và phát triển vùng. Với Đồng bằng sông Cửu Long, nơi đặc trưng bởi hệ thống sông ngòi chằng chịt, nhiều cù lao, vùng sâu và ven biển, bộ máy mới phải bảo đảm quản lý hiệu quả nhưng vẫn gần dân, sát dân. Tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước của dân, do dân, vì dân vì thế càng đặt ra thước đo cụ thể cho quá trình tinh gọn bộ máy: người dân làm thủ tục phải thuận tiện hơn, chính sách an sinh phải đến đúng đối tượng, hồ sơ đất đai, hộ tịch, bảo hiểm phải minh bạch, còn đội ngũ cán bộ cơ sở phải hiểu dân, trách nhiệm với dân và phục vụ dân tốt hơn.

Trong tiến trình ấy, chuyển đổi số chỉ là phương tiện, không phải đích đến. Giá trị thực sự của chuyển đổi số nằm ở những điều thiết thực: một hồ sơ trực tuyến được giải quyết đúng hạn; dữ liệu dân cư được cập nhật chính xác; cảnh báo hạn mặn đến kịp thời với người dân; hay mã số vùng trồng giúp nông sản miền Tây tiếp cận những thị trường khó tính. Nếu công nghệ không góp phần giảm phiền hà cho người dân, không giúp nông dân nâng cao giá trị sản phẩm, không hỗ trợ hiệu quả cho phòng chống thiên tai và thích ứng biến đổi khí hậu, thì vẫn chưa chạm đến tinh thần “việc gì có lợi cho dân thì hết sức làm” mà Chủ tịch Hồ Chí Minh từng căn dặn.

Đồng bằng sông Cửu Long vẫn giữ vai trò chiến lược đối với nền kinh tế quốc gia. Theo các số liệu trong quy hoạch và báo cáo ngành, vùng hiện đóng góp khoảng 50% sản lượng lúa, 65% sản lượng nuôi trồng thủy sản, 70% sản lượng trái cây và khoảng 95% lượng gạo xuất khẩu của cả nước. Tuy nhiên, những con số ấy cũng phản ánh một thực tế cần thay đổi: miền Tây không thể tiếp tục phát triển chỉ dựa vào sản lượng, càng không thể để người nông dân gánh phần lớn rủi ro trong chuỗi giá trị nông nghiệp. Con đường phát triển của vùng phải chuyển mạnh sang nâng cao chất lượng, giá trị gia tăng, năng lực chế biến và khả năng thích ứng với biến đổi khí hậu, để nông nghiệp không chỉ là “trụ đỡ”, mà còn trở thành động lực phát triển bền vững trong giai đoạn mới.

Nghị quyết 120/NQ-CP của Chính phủ về phát triển bền vững Đồng bằng sông Cửu Long thích ứng với biến đổi khí hậu đã mở ra tư duy phát triển “thuận thiên” — tôn trọng quy luật tự nhiên để phát triển bền vững. Trên nền tảng đó, Quy hoạch vùng Đồng bằng sông Cửu Long thời kỳ 2021–2030, tầm nhìn đến năm 2050 tiếp tục nhấn mạnh yêu cầu liên kết vùng, phát triển hạ tầng chiến lược, quản trị tài nguyên nước và chuyển đổi mô hình tăng trưởng. Đề án phát triển 1 triệu ha lúa chất lượng cao, phát thải thấp đến năm 2030 chính là bước đi cụ thể cho hướng chuyển đổi ấy: hạt gạo miền Tây không chỉ cần nhiều hơn, mà phải sạch hơn, xanh hơn, có khả năng truy xuất nguồn gốc, giảm phát thải và mang lại thu nhập cao hơn cho người trồng lúa.

Đó cũng là cách tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh về lao động sản xuất, thực hành tiết kiệm và chăm lo đời sống nhân dân được hiện thực hóa trên đồng ruộng hôm nay. Làm nông nghiệp xanh không phải để làm đẹp báo cáo hay chạy theo khẩu hiệu, mà để người nông dân giảm phụ thuộc vào thương lái, giảm rủi ro thị trường và có vị thế vững chắc hơn trong chuỗi cung ứng toàn cầu. Giá trị của chuyển đổi không nằm ở những con số tăng trưởng đơn thuần, mà ở việc người dân sống ổn định hơn, sản xuất hiệu quả hơn và được hưởng thành quả phát triển công bằng hơn.

Trong cấu trúc hành chính và phát triển mới, thành phố Cần Thơ càng phải khẳng định vai trò trung tâm vùng. Nghị quyết 59-NQ/TW của Bộ Chính trị xác định Cần Thơ là trung tâm của Đồng bằng sông Cửu Long về thương mại, dịch vụ, y tế, giáo dục – đào tạo, khoa học – công nghệ, văn hóa, du lịch và logistics. Vai trò ấy không chỉ được đo bằng vị trí địa lý, mà còn bằng năng lực kết nối và điều phối phát triển vùng: kết nối vùng nguyên liệu với cảng biển và thị trường; kết nối bệnh viện tuyến cuối với y tế cơ sở; kết nối trường đại học với doanh nghiệp và nhu cầu nhân lực; kết nối dữ liệu với hoạch định chính sách và quản trị hiện đại.

Liên kết vùng vì thế trở thành yêu cầu sống còn đối với Đồng bằng sông Cửu Long. Dòng Mekong không chảy theo ranh giới hành chính; xâm nhập mặn không dừng lại ở địa phận một tỉnh; còn sạt lở, thiếu nước, hạ tầng logistics, lao động hay thị trường đều là những vấn đề mang tính liên vùng. Sau sáp nhập, không gian phát triển rộng lớn hơn đòi hỏi tư duy quản trị cũng phải rộng mở hơn: cùng quy hoạch vùng nguyên liệu, cùng bảo vệ nguồn nước, cùng phát triển hạ tầng và cùng xây dựng thương hiệu nông sản chung cho toàn vùng. Đó cũng là tinh thần đại đoàn kết trong thời bình: đoàn kết để phát triển, để chia sẻ nguồn lực và vượt qua mọi thách thức.

Miền Tây đồng thời cũng là vùng hướng biển, với không gian phát triển biển ngày càng rộng mở sau quá trình sắp xếp địa giới hành chính. An Giang có thêm không gian biển từ Kiên Giang; Cà Mau gắn với trục phát triển Cà Mau – Bạc Liêu; Vĩnh Long kết nối dải ven biển Bến Tre – Trà Vinh; còn Cần Thơ có thêm cửa ngõ ra biển qua Sóc Trăng. Nghị quyết 36-NQ/TW về Chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam xác định mục tiêu đưa đất nước trở thành quốc gia mạnh về biển, giàu từ biển, đồng thời bảo đảm vững chắc quốc phòng, an ninh, quyền chủ quyền và quyền tài phán quốc gia trên biển.

Với Đồng bằng sông Cửu Long, kinh tế biển không chỉ gói gọn trong khai thác và nuôi trồng thủy sản, mà còn mở ra dư địa lớn cho phát triển cảng biển, logistics, năng lượng tái tạo, bảo tồn rừng ngập mặn, du lịch sinh thái và nâng cao sinh kế cho cộng đồng ngư dân. Xa hơn, đó còn là xây dựng “thế trận lòng dân” nơi tuyến biển Tây Nam của Tổ quốc, nền tảng quan trọng để phát triển bền vững gắn với bảo vệ chủ quyền quốc gia trong giai đoạn mới.

Người dân miền Tây chụp ảnh lưu niệm bên tượng đài Bác Hồ tại Bến Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ.

Bác Hồ với miền Nam
Với miền Nam, tình cảm của Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn là tình cảm máu thịt, sâu nặng và đặc biệt thiêng liêng. Nhiều tư liệu lịch sử đã ghi lại những lần Người nhắc đến đồng bào, chiến sĩ miền Nam bằng nỗi nhớ thương da diết. Câu nói: “Tôi thương miền Nam nhiều, tôi nhớ miền Nam nhiều lắm” không chỉ là lời bộc bạch của một vị lãnh tụ, mà còn là tiếng lòng của một người con đất Việt luôn đau đáu về sự chia cắt của non sông. Trong trái tim Người, miền Nam chưa bao giờ là một phần tách rời của Tổ quốc; đó là nơi kết tinh khát vọng thống nhất đất nước, độc lập dân tộc và đoàn tụ Bắc – Nam một nhà.

Ở chiều ngược lại, tình cảm của đồng bào Nam Bộ dành cho Bác cũng trở thành một hiện tượng chính trị – xã hội giàu sức lay động trong lịch sử dân tộc. Trong những năm tháng chiến tranh khốc liệt, nhiều gia đình miền Tây gìn giữ ảnh Bác, lập bàn thờ Bác như một điểm tựa tinh thần giữa bom đạn, tù đày và chia cắt. Dưới góc nhìn khoa học chính trị, đó là biểu hiện sinh động của niềm tin của nhân dân đối với cách mạng, đối với tính chính danh của một sự nghiệp vì độc lập dân tộc và thống nhất đất nước. Còn dưới góc nhìn văn hóa và đạo lý Việt Nam, đó là nghĩa tình thủy chung son sắt giữa lãnh tụ với Nhân dân, một mối gắn bó được hình thành không chỉ bằng lý tưởng, mà còn bằng tình cảm và sự hy sinh chung cho Tổ quốc.

Chính từ nền tảng ấy, tư tưởng Hồ Chí Minh không chỉ dừng lại như một giá trị lịch sử hay ký ức của chiến tranh, mà tiếp tục soi sáng những vấn đề phát triển của Đồng bằng sông Cửu Long hôm nay. Đó là câu chuyện tổ chức bộ máy sao cho gần dân hơn, hiệu quả hơn; phát triển nông nghiệp thế nào để người nông dân có đời sống khá hơn; liên kết vùng ra sao để vượt qua tư duy cục bộ hành chính; ứng phó với biến đổi khí hậu như thế nào để bảo vệ sinh kế và tương lai của hàng triệu người dân; hay phát triển kinh tế biển ra sao để vừa làm giàu từ biển, vừa giữ vững chủ quyền quốc gia. Những vấn đề ấy tuy mang dáng dấp của thời đại số và hội nhập toàn cầu, nhưng cốt lõi vẫn là tinh thần “vì dân” mà Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn đặt ở vị trí trung tâm.

Đồng bằng sông Cửu Long hôm nay vẫn là một phần không thể tách rời trong mạch nguồn khát vọng Việt Nam, khát vọng mà Bác Hồ từng khẳng định bằng chân lý bất biến: “Nước Việt Nam là một. Dân tộc Việt Nam là một. Sông có thể cạn, núi có thể mòn, song chân lý ấy không bao giờ thay đổi”. Từ tinh thần ấy, miền Tây đang học tập và làm theo lời Bác bằng những hành động rất cụ thể: xây dựng chính quyền gần dân hơn; phát triển nền nông nghiệp xanh và bền vững hơn; liên kết vùng chặt chẽ hơn; bảo vệ vững chắc không gian biển đảo; đồng thời nâng cao chất lượng sống của người dân trong bối cảnh mới.

Có thể thấy, giữa tư tưởng hội nhập của Chủ tịch Hồ Chí Minh và tính cách văn hóa của vùng đất phương Nam tồn tại một sự gặp gỡ tự nhiên. Miền Tây được hình thành từ quá trình khai phá không ngừng của cư dân Việt, Khmer, Hoa, Chăm trên nền không gian sông nước, ruộng đồng, chợ nổi và cửa biển. Con người nơi đây trọng nghĩa tình, thực tế, linh hoạt, cởi mở với cái mới nhưng vẫn gìn giữ gốc rễ cộng đồng. Đó cũng chính là tinh thần hội nhập mà Chủ tịch Hồ Chí Minh sớm xác lập: tiếp thu tinh hoa nhân loại nhưng giữ vững độc lập dân tộc; mở cửa với thế giới nhưng không lệ thuộc; sẵn sàng làm bạn với các dân tộc yêu chuộng hòa bình nhưng kiên quyết không nhân nhượng về chủ quyền và lợi ích quốc gia. Trong dòng chảy phát triển hôm nay, tinh thần ấy tiếp tục trở thành nền tảng để Đồng bằng sông Cửu Long tự tin bước vào tương lai, một vùng đất vừa giàu bản sắc, vừa năng động hội nhập cùng đất nước.

Trọng Nguyễn