Thứ Hai, Tháng 5 18, 2026
* Email: bbt.dongnama@gmail.com *Tòa soạn: 0989011688 - 0768908888
spot_img
[gtranslate]

Chủ tịch Hồ Chí Minh – Ngọn đuốc soi đường cho cách mạng Việt Nam và phong trào giải phóng dân tộc trên thế giới

Bài viết kỷ niệm 136 năm Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh (19/5/1890 – 19/5/2026)

ĐNA -

Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ là lãnh tụ thiên tài và anh hùng giải phóng dân tộc của Việt Nam, mà còn là nhà văn hóa kiệt xuất của nhân loại, người đã để lại dấu ấn sâu sắc trong sự nghiệp đấu tranh vì hòa bình, độc lập dân tộc và tiến bộ xã hội trên toàn thế giới. Người đã tìm ra con đường cứu nước đúng đắn, thức tỉnh tinh thần yêu nước và khơi dậy khát vọng độc lập, tự do của dân tộc Việt Nam, dẫn dắt nhân dân vượt qua muôn vàn gian khó để giành lại độc lập dân tộc. Đến nay, tư tưởng, đạo đức và sự nghiệp cách mạng của Người vẫn là nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

Chủ tịch Hồ Chí Minh – Ngọn đuốc soi đường cho cách mạng Việt Nam và phong trào giải phóng dân tộc trên thế giới. Ảnh tư liệu.

Từ người thanh niên yêu nước đến hành trình tìm đường cứu nước
Vào cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, Việt Nam chìm trong ách thống trị của thực dân Pháp và phong kiến tay sai, nhân dân sống trong cảnh lầm than, mất tự do. Nhiều phong trào yêu nước như Cần Vương, Đông Du, Duy Tân lần lượt thất bại do thiếu đường lối đúng đắn. Trong bối cảnh đó, Nguyễn Tất Thành đã nuôi chí tìm con đường cứu nước mới cho dân tộc.

Ngày 5/6/1911, từ Bến Nhà Rồng, Người ra đi trên con tàu Đô đốc Latouche-Tréville, bắt đầu hành trình tìm đường cứu nước. Người đã đi qua nhiều quốc gia ở châu Âu, châu Phi và châu Mỹ và nhận ra rằng, “Chủ nghĩa tư bản và chủ nghĩa đế quốc là nguồn gốc của mọi đau khổ không chỉ đối với nhân dân các nước thuộc địa mà cả giai cấp công nhân ở chính quốc“. Từ đó, Người thấu hiểu bản chất áp bức của chủ nghĩa thực dân, đồng thời tích lũy vốn sống và kinh nghiệm cách mạng quý báu.

Năm 1920 đánh dấu bước ngoặt lịch sử trong hành trình cứu nước của Nguyễn Ái Quốc khi Người tiếp cận Luận cương của V.I. Lênin về vấn đề dân tộc và thuộc địa. Từ đó, Người tìm ra con đường giải phóng dân tộc đúng đắn theo con đường cách mạng vô sản và khẳng định: cách mạng muốn thành công phải có một chính đảng cách mạng chân chính, lấy chủ nghĩa Mác – Lênin làm nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam hành động. Đây là bước chuyển biến quan trọng từ chủ nghĩa yêu nước đến với chủ nghĩa cộng sản, đưa Nguyễn Ái Quốc trở thành chiến sĩ cộng sản đầu tiên của Việt Nam, gắn sự nghiệp giải phóng dân tộc với phong trào cách mạng thế giới.

Không chỉ truyền bá lý luận cách mạng, Nguyễn Ái Quốc còn đặc biệt chú trọng xây dựng tổ chức và đào tạo cán bộ. Năm 1925, Người thành lập Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên tại Quảng Châu (Trung Quốc), mở nhiều lớp huấn luyện chính trị và đưa thanh niên yêu nước sang đào tạo tại Liên Xô, Trung Quốc. Những hoạt động đó đã tạo nền tảng vững chắc về tư tưởng, chính trị và tổ chức, chuẩn bị đầy đủ các điều kiện cho sự ra đời của một chính đảng vô sản ở Việt Nam.

Đến cuối năm 1929, trước yêu cầu cấp bách của phong trào cách mạng, các tổ chức cộng sản trong nước đã nhận thức rõ sự cần thiết phải thống nhất lực lượng. Với vai trò và uy tín của mình, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đã chủ trì Hội nghị hợp nhất các tổ chức cộng sản tại Hương Cảng (Trung Quốc) vào đầu năm 1930. Hội nghị đã dẫn tới sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam, tạo bước ngoặt vĩ đại của cách mạng Việt Nam, mở ra thời kỳ mới trong sự nghiệp đấu tranh giành độc lập dân tộc.

Lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đã chủ trì Hội nghị hợp nhất các tổ chức cộng sản tại Hương Cảng (Trung Quốc) vào đầu năm 1930. Ảnh minh họa

Chủ tịch Hồ Chí Minh và sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam
Trước năm 1930, phong trào yêu nước Việt Nam lâm vào cuộc khủng hoảng sâu sắc về đường lối cứu nước và lực lượng lãnh đạo cách mạng. Sự ra đời riêng rẽ của các tổ chức cộng sản ở ba miền đã dẫn đến tình trạng phân tán lực lượng, thiếu thống nhất trong hành động, thậm chí tranh giành ảnh hưởng, khiến phong trào cách mạng chưa thể tạo nên sức mạnh tổng hợp. Trong bối cảnh đó, lịch sử đặt ra yêu cầu cấp bách phải có một tổ chức lãnh đạo thống nhất để tập hợp và dẫn dắt toàn dân tộc đấu tranh giành độc lập.

Nhận thức rõ yêu cầu lịch sử ấy, với uy tín và tầm nhìn chiến lược của mình, Nguyễn Ái Quốc đã chủ trì Hội nghị hợp nhất các tổ chức cộng sản tại Hương Cảng (Trung Quốc) vào đầu năm 1930. Bằng bản lĩnh chính trị và khả năng thuyết phục sâu sắc, Người đã xóa bỏ những bất đồng, đưa các tổ chức cộng sản đi đến thống nhất, dẫn tới sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam.

Sự kiện thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam là bước ngoặt vĩ đại của lịch sử dân tộc, chấm dứt hoàn toàn thời kỳ khủng hoảng về đường lối cứu nước kéo dài nhiều thập kỷ. Các văn kiện do Nguyễn Ái Quốc soạn thảo như Chánh cương vắn tắtSách lược vắn tắt đã trở thành Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng, xác định rõ mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, đồng thời đề ra phương hướng và nhiệm vụ chiến lược của cách mạng Việt Nam. Những văn kiện này không chỉ thể hiện tư duy lý luận sắc bén mà còn phản ánh đúng khát vọng độc lập, tự do của nhân dân.

Ngay sau khi ra đời, dưới sự lãnh đạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đảng đã khẳng định vai trò lãnh đạo thông qua việc tổ chức và lãnh đạo cao trào cách mạng 1930 – 1931 với đỉnh cao là Xô viết Nghệ Tĩnh. Tiếp đó, Đảng tiếp tục lãnh đạo cao trào dân chủ 1936 – 1939, tập hợp và giác ngộ đông đảo quần chúng, tạo tiền đề cho những bước phát triển tiếp theo của cách mạng. Qua thực tiễn đấu tranh gian khổ, tư tưởng Hồ Chí Minh ngày càng chứng minh giá trị soi đường, giúp Đảng trưởng thành về bản lĩnh chính trị và năng lực lãnh đạo trước mọi âm mưu đàn áp của kẻ thù.

Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng đặt nền móng vững chắc cho đường lối cách mạng Việt Nam bằng việc xây dựng một Đảng gắn bó máu thịt với nhân dân. Người luôn nhấn mạnh tư tưởng “lấy dân làm gốc”, coi nhân dân là nguồn sức mạnh quyết định mọi thắng lợi của cách mạng. Sự kết hợp sáng tạo giữa chủ nghĩa Mác – Lênin với phong trào công nhân và phong trào yêu nước đã giúp Đảng bén rễ sâu trong lòng dân tộc, nhanh chóng trở thành lực lượng lãnh đạo duy nhất, được nhân dân tin tưởng và đi theo.

Bác Hồ chủ trì Hội nghị Trung ương Đảng lần thứ tám tại lán Khuổi Nậm (Pắc Pó). Tranh: T.L

Hội nghị Trung ương 8 năm 1941 – tầm nhìn chiến lược đối với dân tộc
Ngày 28/1/1941, sau ba mươi năm bôn ba tìm đường cứu nước, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc trở về Tổ quốc và trực tiếp lãnh đạo phong trào cách mạng tại Pác Bó, Cao Bằng. Lúc bấy giờ, Chiến tranh thế giới thứ hai đang bước vào giai đoạn khốc liệt; thực dân Pháp đầu hàng phát xít Nhật, đẩy nhân dân Việt Nam vào cảnh “một cổ hai tròng” đầy áp bức và cơ cực. Trước tình hình đó, yêu cầu cấp thiết đặt ra là phải kịp thời chuyển hướng chiến lược cách mạng nhằm nắm bắt thời cơ, tiến tới giải phóng dân tộc.

Tháng 5/1941, Nguyễn Ái Quốc chủ trì Hội nghị Trung ương 8 của Đảng, đưa ra quyết sách mang ý nghĩa lịch sử: đặt nhiệm vụ giải phóng dân tộc lên hàng đầu, cao hơn mọi nhiệm vụ giai cấp hay điền địa. Đây là sự vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin vào thực tiễn Việt Nam, thể hiện tầm nhìn chiến lược sắc bén của Người trong việc xác định đúng mâu thuẫn chủ yếu của xã hội lúc bấy giờ là mâu thuẫn giữa toàn thể dân tộc Việt Nam với chủ nghĩa đế quốc và phát xít xâm lược. Việc tạm gác khẩu hiệu cách mạng ruộng đất để tập trung cho mục tiêu độc lập dân tộc là một quyết định đúng đắn, linh hoạt và có ý nghĩa quyết định đối với thắng lợi của cách mạng.

Để thực hiện đường lối đó, Hội nghị quyết định thành lập Mặt trận Việt Nam Độc lập Đồng minh (Việt Minh) nhằm tập hợp mọi lực lượng yêu nước, không phân biệt giai cấp, tôn giáo hay xu hướng chính trị. Dưới ngọn cờ đại đoàn kết dân tộc của Mặt trận Việt Minh, sức mạnh của toàn dân được khơi dậy mạnh mẽ, tạo nên phong trào cách mạng rộng khắp từ miền núi đến đồng bằng, từ nông thôn đến thành thị.

Hội nghị Trung ương 8 cũng mở ra quá trình chuẩn bị toàn diện cho cuộc Tổng khởi nghĩa Tháng Tám năm 1945. Dưới sự lãnh đạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh, các căn cứ địa cách mạng được xây dựng và mở rộng, lực lượng vũ trang cách mạng từng bước hình thành với sự ra đời của Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân. Sự kết hợp chặt chẽ giữa đấu tranh chính trị và đấu tranh vũ trang đã tạo nên sức mạnh tổng hợp to lớn, đặt nền tảng quyết định cho thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945.

Ngày 2-9-1945, tại Quảng trường Ba Đình, Hà Nội, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn Độc lập, khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, mở ra kỷ nguyên mới cho lịch sử dân tộc. Ảnh tư liệu.

Chủ tịch Hồ Chí Minh và vai trò lãnh đạo thiên tài trong các cuộc kháng chiến cứu nước
Mùa Thu năm 1945, dưới sự lãnh đạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, nhân dân Việt Nam đã vùng lên làm nên thắng lợi vĩ đại của Cách mạng Tháng Tám. Ngày 2/9/1945, tại Quảng trường Ba Đình lịch sử, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc bản Tuyên ngôn Độc lập, khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Sự kiện trọng đại này đã chấm dứt ách thống trị của thực dân, phong kiến, đưa nhân dân ta từ thân phận nô lệ trở thành người làm chủ đất nước, mở ra kỷ nguyên mới: kỷ nguyên độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội.

Tuy nhiên, nền độc lập non trẻ ngay lập tức phải đối mặt với cuộc xâm lược trở lại của thực dân Pháp. Trước tình thế hiểm nghèo của dân tộc, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ra Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến, khẳng định ý chí sắt đá: “Chúng ta thà hy sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ”. Người đề ra đường lối kháng chiến toàn dân, toàn diện, trường kỳ và tự lực cánh sinh, biến sức mạnh yêu nước của toàn dân thành lực lượng chiến đấu to lớn, đưa cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp đến thắng lợi vẻ vang.

Sau chiến thắng Điện Biên Phủ năm 1954, đất nước tiếp tục bước vào cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ nhằm giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc. Trong giai đoạn lịch sử đầy cam go ấy, tư tưởng Hồ Chí Minh về độc lập dân tộc, tự chủ và chiến tranh nhân dân tiếp tục phát huy giá trị to lớn. Người khẳng định chân lý bất hủ: “Không có gì quý hơn độc lập, tự do”, trở thành nguồn động viên mạnh mẽ cho toàn dân tộc trong cuộc đấu tranh giải phóng đất nước.

Tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh là sự kết hợp hài hòa giữa chủ nghĩa yêu nước Việt Nam với sức mạnh của thời đại, góp phần tranh thủ sự đồng tình, ủng hộ rộng rãi của bạn bè quốc tế đối với cuộc kháng chiến chính nghĩa của nhân dân Việt Nam. Di sản tinh thần vô giá ấy đã góp phần làm nên thắng lợi của Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, đưa đến Đại thắng mùa Xuân năm 1975, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước.

Thắng lợi vĩ đại đó tiếp tục khẳng định giá trị trường tồn của tư tưởng Hồ Chí Minh trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc và xây dựng đất nước. Hình ảnh và tư tưởng của Người mãi là ngọn đuốc soi đường, nguồn sức mạnh tinh thần to lớn dẫn dắt dân tộc Việt Nam vững bước trên con đường phát triển và hội nhập.

Quân đội nhân dân Việt Nam hôm nay, không ngừng trưởng thành, lớn mạnh cả về tư tưởng, tổ chức và trình độ tác chiến.

Giá trị trường tồn của tư tưởng Hồ Chí Minh trong thời đại hôm nay
Trong giai đoạn cách mạng hiện nay, Đảng ta tiếp tục khẳng định chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh là nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho mọi hành động. Những giá trị cốt lõi trong tư tưởng của Người, đặc biệt là quan điểm độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, vẫn giữ nguyên ý nghĩa thời sự và giá trị thực tiễn sâu sắc. Trong quá trình đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế, tư tưởng Hồ Chí Minh chính là cơ sở định hướng để đất nước giữ vững mục tiêu phát triển xã hội chủ nghĩa trước những biến động phức tạp của thế giới.

Tư tưởng đại đoàn kết toàn dân tộc của Người tiếp tục là nguồn sức mạnh to lớn cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Việc phát huy vai trò của mọi tầng lớp nhân dân, trong đó có cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài, là nhân tố quan trọng để thực hiện khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc. Đảng và Nhà nước luôn quán triệt quan điểm mọi chủ trương, chính sách phải xuất phát từ lợi ích chính đáng của nhân dân, lấy nhân dân làm trung tâm và là chủ thể của sự phát triển. Chính sức mạnh của lòng dân là nền tảng vững chắc bảo vệ chế độ và đất nước.

Việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh đã trở thành phong trào chính trị sâu rộng trong toàn Đảng, toàn dân và toàn quân. Đây là giải pháp quan trọng nhằm xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên có bản lĩnh chính trị vững vàng, phẩm chất đạo đức trong sáng và tinh thần phục vụ nhân dân. Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn căn dặn cán bộ, đảng viên phải thực sự là “người đầy tớ trung thành của nhân dân”, kiên quyết chống quan liêu, tham nhũng, lãng phí và các biểu hiện suy thoái về tư tưởng, đạo đức, lối sống. Tấm gương đạo đức cách mạng của Người đến nay vẫn là chuẩn mực để mỗi cán bộ, đảng viên tự soi và tự rèn luyện.

Bên cạnh đó, công tác đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch nhằm bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng là nhiệm vụ vừa cấp bách, vừa lâu dài. Các thế lực thù địch luôn tìm cách xuyên tạc cuộc đời, sự nghiệp và tư tưởng Hồ Chí Minh nhằm làm suy giảm niềm tin của nhân dân đối với Đảng và chế độ. Vì vậy, việc giữ gìn, bảo vệ và phát huy giá trị tư tưởng Hồ Chí Minh không chỉ là trách nhiệm chính trị mà còn là nhiệm vụ thiêng liêng của toàn Đảng, toàn quân và toàn dân, góp phần bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng và gìn giữ những giá trị bền vững của dân tộc Việt Nam.

Ngọn đuốc Hồ Chí Minh mãi soi sáng cho dân tộc Việt Nam và các dân tộc thuộc địa trên thế giới. Ảnh minh họa.

Ngọn đuốc Hồ Chí Minh mãi soi sáng cho dân tộc Việt Nam và các dân tộc thuộc địa trên thế giới
Nhìn lại chặng đường lịch sử của dân tộc Việt Nam trong thế kỷ XX, có thể khẳng định Chủ tịch Hồ Chí Minh là người đã tìm ra con đường cứu nước đúng đắn, sáng lập và rèn luyện Đảng Cộng sản Việt Nam, lãnh đạo nhân dân giành độc lập dân tộc và đặt nền móng cho con đường đi lên chủ nghĩa xã hội. Công lao to lớn của Người không chỉ nằm ở việc giải phóng dân tộc khỏi ách nô lệ, khơi dậy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân, hun đúc ý chí tự lực, tự cường và khát vọng vươn lên của dân tộc Việt Nam, mà còn soi sáng con đường đấu tranh giải phóng dân tộc cho các quốc gia thuộc địa trên toàn thế giới, trở thành nguồn cảm hứng và biểu tượng của phong trào giải phóng dân tộc trong thế kỷ XX.

Cuộc đời và sự nghiệp của Chủ tịch Hồ Chí Minh là biểu tượng cao đẹp của lòng yêu nước, đức hy sinh và tinh thần cống hiến trọn đời cho nhân dân, cho Tổ quốc. Tư tưởng, đạo đức và phong cách của Người đã trở thành di sản tinh thần vô giá, mãi soi đường cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước trong mọi giai đoạn cách mạng. Không chỉ có ý nghĩa đối với Việt Nam, tư tưởng Hồ Chí Minh còn mang giá trị nhân văn sâu sắc đối với phong trào đấu tranh vì hòa bình, độc lập dân tộc và tiến bộ xã hội trên thế giới.

Trong giai đoạn phát triển mới của đất nước, việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh càng có ý nghĩa quan trọng để củng cố niềm tin, phát huy sức mạnh dân tộc và hiện thực hóa khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc. Ánh sáng tư tưởng của Người sẽ mãi là ngọn đuốc soi đường, dẫn dắt dân tộc Việt Nam vững bước trên con đường đổi mới, hội nhập và phát triển bền vững.

Thế Nguyễn – Minh Văn