Ở phía Đông Nam của Huế, sau đợt sắp xếp đơn vị hành chính mới, ba xã Phú Vang, Phú Hồ và Phú Vinh (thuộc huyện Phú Vang cũ) đang dần hiện lên như một không gian văn hóa – sinh thái đặc biệt của vùng đất Cố đô. Đó là nơi đầm phá Tam Giang – Cầu Hai gặp biển Đông; nơi những làng chài cổ, lễ hội cầu ngư, nghề truyền thống, di tích Chăm Pa, bãi biển đẹp cùng tồn tại trong một không gian giàu bản sắc.

Nếu trung tâm Huế mang vẻ thâm trầm của Hoàng cung và sông Hương, thì vùng Đông Nam lại mở ra một diện mạo khác: khoáng đạt, mặn mòi và đầy sức sống của cư dân đầm phá ven biển. Đó cũng là vùng đất đang đứng trước một yêu cầu mới: không chỉ nhận diện tiềm năng di sản, cảnh quan và du lịch, mà còn phải đánh giá đúng nền tảng thiết chế văn hóa, thể thao cơ sở, những hạ tầng xã hội mềm quyết định sức sống cộng đồng và khả năng phát triển bền vững sau sáp nhập.
Sau khi sáp nhập, xã Phú Vang có diện tích hơn 86 km², còn lưu giữ nhiều dấu tích văn hóa dân gian đặc sắc của cư dân vùng phá như lễ hội Đu tiên làng Phú Gia, các lễ Thu tế làng và hệ thống di tích gắn với lịch sử kháng chiến, văn hóa làng xã cổ truyền. Trong khi đó, xã Phú Hồ nổi bật với không gian văn hóa dân gian đậm đặc của vùng cửa biển – đầm phá, nơi còn duy trì Lễ rước hến làng Giang Hến, lễ Cầu ngư cùng nhiều tập tục tín ngưỡng cổ truyền. Đặc biệt, xã Phú Vinh, hình thành trên cơ sở sáp nhập các xã Phú Diên, Vinh Xuân, Vinh An và Vinh Thanh đang sở hữu nhiều tiềm năng nổi bật với Tháp Chăm Phú Diên, bãi biển Vinh Thanh nổi tiếng.
Từ tổng hợp báo cáo của chính quyền 3 xã này, có thể thấy hệ thống thiết chế văn hóa, thể thao cơ sở ở khu vực phía Đông Nam Huế đã hình thành một nền tảng khá rộng, tương đối đồng bộ sau sáp nhập đơn vị hành chính. Đây là điểm rất đáng ghi nhận, bởi trong quá trình tổ chức lại địa giới và mô hình quản lý, nếu không giữ được mạng lưới thiết chế cơ sở thì đời sống văn hóa cộng đồng rất dễ bị đứt gãy. Ở cả hai xã, các nhà văn hóa thôn, sân vận động, sân chơi bãi tập, điểm sinh hoạt cộng đồng vẫn tiếp tục đóng vai trò quan trọng trong tổ chức lễ hội, giao lưu văn nghệ, thể thao quần chúng, tuyên truyền chính sách, sinh hoạt đoàn thể và xây dựng đời sống văn hóa nông thôn.
Riêng xã Phú Hồ, sau khi sáp nhập từ ba xã Phú Xuân, Phú Lương và Phú Hồ cũ, địa phương hiện có diện tích 57,72 km², dân số khoảng 23.550 người với 12 thôn. Hệ thống thiết chế văn hóa – thể thao cơ bản phủ kín toàn xã: có 01 Trung tâm Văn hóa – Thể thao diện tích khoảng 500m², sức chứa khoảng 200 chỗ ngồi; có 09 công trình thể dục thể thao gồm 03 sân vận động, 01 sân bóng đá mini, 01 bể bơi cùng nhiều điểm sinh hoạt cộng đồng khác. Đáng chú ý, 12/12 thôn đều có nhà văn hóa và sân thể thao, được trang bị các thiết bị cơ bản phục vụ hội họp, sinh hoạt cộng đồng. Hoạt động văn hóa, văn nghệ, thể dục thể thao ở Phú Hồ diễn ra khá thường xuyên, trung bình khoảng 15–20 đợt mỗi năm tại các thôn; các mô hình câu lạc bộ văn hóa, dưỡng sinh, gia đình văn hóa, hoạt động thanh thiếu nhi vẫn được duy trì. Điều đó cho thấy thiết chế ở cơ sở không phải là những công trình “đóng cửa để đó”, mà vẫn có sức sống thực tế trong cộng đồng.
Đối với Phú Vang, dù cần tiếp tục rà soát, chuẩn hóa số liệu sau sáp nhập, có thể nhận thấy quy mô thiết chế văn hóa – thể thao lớn hơn đáng kể nhờ lợi thế địa bàn rộng, dân số đông và điều kiện phát triển kinh tế gắn với biển, đầm phá. Hệ thống nhà văn hóa, sân vận động, sân chơi bãi tập cơ bản đã phủ kín nhiều khu dân cư; phong trào văn hóa – thể thao quần chúng phát triển tương đối mạnh, nhất là tại các địa bàn ven biển, vùng đầm phá và khu vực đông dân cư. Chính mạng lưới thiết chế này tạo nên nền tảng để Phú Vang không chỉ bảo tồn lễ hội, phong tục, văn nghệ dân gian mà còn tổ chức các hoạt động thể thao, sự kiện cộng đồng và các mô hình du lịch trải nghiệm bản địa.
Tuy nhiên, điểm đáng lưu ý là mạng lưới thiết chế rộng không đồng nghĩa với chất lượng đã đồng bộ. Báo cáo của Phú Hồ cho thấy nhiều nhà văn hóa đã cũ, diện tích nhỏ, hệ thống âm thanh – loa máy xuống cấp, bàn ghế còn thiếu, dụng cụ thể thao hạn chế, kinh phí bảo trì chưa đáp ứng yêu cầu. Đây cũng là tình trạng khá phổ biến ở nhiều địa phương sau sáp nhập: số lượng công trình nhiều nhưng chất lượng chưa tương xứng; có nơi đạt tiêu chí “có công trình” nhưng chưa đạt tiêu chí “hoạt động hiệu quả”. Nếu không có kế hoạch đầu tư bổ sung trong vài năm tới, nhiều công trình sẽ nhanh chóng xuống cấp, làm giảm vai trò của thiết chế văn hóa trong đời sống cộng đồng.
Một điểm nghẽn khác là nhân lực và kinh phí vận hành. Cán bộ văn hóa ở cơ sở thường phải kiêm nhiệm nhiều việc; nhân sự chuyên trách còn mỏng; mạng lưới cộng tác viên chủ yếu hoạt động tự nguyện; người trực tiếp quản lý nhà văn hóa thôn chưa có cơ chế hỗ trợ ổn định. Riêng Phú Hồ, mạng lưới quản lý ở thôn chủ yếu do trưởng thôn kiêm nhiệm. Đây là vấn đề cần nhìn nhận nghiêm túc, bởi thiết chế văn hóa không chỉ là công trình xây dựng, mà trước hết là con người, chương trình hoạt động và năng lực tổ chức. Không có người vận hành đủ tâm huyết và kỹ năng, nhà văn hóa rất dễ chỉ còn là nơi họp hành hành chính, hoặc sử dụng rời rạc theo từng sự vụ.
Dẫu vậy, công tác quy hoạch quỹ đất dành cho văn hóa – thể thao ở các xã này là một điểm sáng. Riêng Phú Hồ đã quy hoạch đủ quỹ đất cho 12/12 thôn theo quy định. Trong bối cảnh đô thị hóa nhanh, việc giữ được quỹ đất công cho văn hóa, thể thao là quyết định có ý nghĩa dài hạn. Bởi một khi không gian công cộng bị thu hẹp, địa phương sẽ rất khó khôi phục các điểm sinh hoạt cộng đồng, sân chơi, bãi tập, thư viện, không gian văn hóa cho thanh thiếu nhi và người cao tuổi.
Từ thực tiễn đó, yêu cầu đặt ra cho vùng Đông Nam Huế không chỉ là “có thiết chế” mà phải chuyển từ tư duy thiết chế hành chính sang không gian văn hóa cộng đồng. Nhà văn hóa, sân thể thao, điểm sinh hoạt cộng đồng cần từng bước trở thành nơi bảo tồn văn nghệ dân gian, tổ chức lễ hội truyền thống, phát triển không gian đọc sách, học tập cộng đồng, sinh hoạt thanh thiếu nhi, thể thao quần chúng và xây dựng đời sống văn hóa nông thôn mới. Đặc biệt với khu vực đầm phá – ven biển, các thiết chế này cần gắn với bản sắc làng chài, lễ hội cầu ngư, dân ca gắn với biển, nghề truyền thống, ẩm thực vùng phá, sinh hoạt cộng đồng ven Tam Giang. Khi ấy, thiết chế cơ sở không chỉ phục vụ dân sinh, mà còn trở thành hạt nhân cho du lịch cộng đồng và công nghiệp văn hóa quy mô nhỏ.
Nói đến vùng đất này, không thể không nhắc đến Tháp Phú Diên, một trong những phát hiện khảo cổ đặc biệt nhất của miền Trung Việt Nam cuối thế kỷ XX. Ngôi tháp Chăm cổ được phát hiện nằm sâu dưới cồn cát ven biển, gần như bị vùi lấp hoàn toàn suốt nhiều thế kỷ. Đây được xem là tháp Chăm cổ đầu tiên trên thế giới được khai quật và bảo tồn trong trạng thái nằm dưới cát ven biển, một hiện tượng rất hiếm gặp về khảo cổ và địa chất.

Không đồ sộ như các cụm tháp Chăm ở Ninh Thuận hay Quảng Nam, nhưng Tháp Phú Diên mang một vẻ đẹp đặc biệt: nhỏ bé, bí ẩn và cô độc giữa cát trắng và tiếng sóng biển. Di tích này gợi nhớ rằng, vùng đất Huế hôm nay từng là không gian giao thoa văn hóa Việt – Chăm sâu sắc suốt nhiều thế kỷ. Điều đáng nói hơn là Tháp Phú Diên không chỉ là một di tích khảo cổ. Nếu được đầu tư đúng mức, nơi đây hoàn toàn có thể trở thành hạt nhân cho một không gian du lịch văn hóa biển độc đáo phía Đông Nam Huế. Từ tháp cổ, du khách có thể kết nối đến các làng chài ven phá, trải nghiệm lễ hội cầu ngư, ẩm thực hải sản, nghề làm nước mắm, đánh bắt truyền thống và các bãi biển đẹp còn giữ được nét nguyên sơ.
Trong số đó, bãi biển Vinh Thanh là một điểm đến giàu tiềm năng. Không quá đông đúc như nhiều bãi biển du lịch khác, Vinh Thanh vẫn giữ được vẻ hoang sơ với bờ cát dài, làn nước trong và nhịp sống bình dị của cư dân vùng biển. Những năm gần đây, nơi này dần được biết đến như một không gian nghỉ dưỡng yên tĩnh, phù hợp với xu hướng du lịch sinh thái và trải nghiệm bản địa. Từ Vinh Thanh nhìn ra xa là biển Đông rộng lớn; quay vào trong là hệ đầm phá Tam Giang – Cầu Hai mênh mang nước bạc. Chính sự giao hòa ấy tạo nên bản sắc riêng của vùng Đông Nam Huế: một bên là biển khơi mạnh mẽ, một bên là đầm phá hiền hòa, sâu lắng.
Điều đáng quý nhất ở ba xã phía Đông Nam Huế không chỉ nằm ở từng điểm đến riêng lẻ, mà ở chính tổng thể không gian văn hóa đầm phá – ven biển mà nơi đây đang sở hữu. Đó là những lễ hội cầu ngư vẫn còn vang tiếng trống, những chiếc nò sáo giữa phá Tam Giang, những phiên chợ cá sớm mai, những món ăn mang hương vị biển khơi và những làng quê vẫn còn giữ nhịp sống chậm rãi của miền duyên hải. Nếu được kết nối với mạng lưới thiết chế văn hóa – thể thao cơ sở, các giá trị ấy sẽ có thêm không gian để trình diễn, trao truyền, giáo dục cộng đồng và phát triển thành sản phẩm du lịch bền vững.
Trong bối cảnh Huế đã trở thành thành phố trực thuộc Trung ương và đang hướng tới mô hình “đô thị di sản, văn hóa, sinh thái, cảnh quan”, vùng Đông Nam không nên chỉ được nhìn như khu vực ven biển thuần túy. Đây cần được xem là một không gian chiến lược để phát triển du lịch sinh thái – văn hóa cộng đồng gắn với đầm phá và biển, đồng thời là địa bàn thử nghiệm cách tổ chức đời sống văn hóa mới ở nông thôn ven đô sau sáp nhập. Muốn vậy, thành phố cần có chương trình đầu tư trung hạn cho thiết chế văn hóa cơ sở; ưu tiên sửa chữa, nâng cấp nhà văn hóa xuống cấp; chuẩn hóa âm thanh, ánh sáng, trang thiết bị; có cơ chế hỗ trợ người trực tiếp quản lý thiết chế ở thôn; tăng xã hội hóa nhưng không “khoán trắng” cho người dân; gắn thiết chế văn hóa với chuyển đổi số, thư viện số, hoạt động thanh niên, thể thao cộng đồng và du lịch trải nghiệm.
Huế không chỉ có Đại Nội mà Huế còn có biển, có phá, có làng chài, có văn hóa Chăm Pa, có những không gian tâm linh đặc biệt và những cộng đồng cư dân vẫn đang gìn giữ ký ức văn hóa hàng trăm năm tuổi. Và biết đâu, trong tương lai không xa, chính vùng Đông Nam ấy sẽ trở thành một trong những “gương mặt mới” hấp dẫn nhất của du lịch Huế, nơi du khách có thể cảm nhận đầy đủ nhất sự giao hòa giữa di sản, thiên nhiên và đời sống con người miền biển; đồng thời nhìn thấy sức sống của những thiết chế văn hóa, thể thao cơ sở khi chúng được đánh thức như không gian văn hóa sống động của cộng đồng.
Hương Bình


