Một hợp đồng chuyển nhượng nhà đất đã công chứng, bên bán cho biết đã nhận đủ tiền, bên mua nộp hồ sơ đăng ký biến động theo trình tự. Tuy nhiên, hồ sơ sang tên thửa đất tại phường Trung Mỹ Tây, TPHCM chưa được Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai số 12 giải quyết, vì chờ ý kiến TAND TPHCM liên quan vụ án tranh chấp quyền sử dụng đất thụ lý từ năm 2013 với các thửa đất hoàn toàn khác nhau. Vấn đề là: khi nào tạm dừng hồ sơ và giải thích đến đâu để không ảnh hưởng quyền hợp pháp của người sử dụng đất.

Cần làm rõ căn cứ dừng hồ sơ
Theo đơn kiến nghị của ông Ngô Văn Phòng, thường trú tại số 175 Nguyễn Thị Búp, phường Trung Mỹ Tây, TPHCM, ngày 8/5/2026, ông Phòng cùng vợ là bà Vũ Thị Lan Phương đã ký hợp đồng bán nhà ở và chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho ông Nguyễn Nhật Trường.
Tài sản chuyển nhượng là thửa đất số 538, tờ bản đồ số 6, tọa lạc tại phường Tân Chánh Hiệp, Quận 12, TPHCM (nay là phường Trung Mỹ Tây, TPHCM). Theo trình bày của ông Phòng, nhà đất này đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất do Sở Tài nguyên và Môi trường TPHCM cấp ngày 15/6/2017, đăng ký thay đổi lần cuối ngày 1/6/2021.
Hợp đồng chuyển nhượng được công chứng tại Phòng công chứng Lê Thị Nguyệt, TPHCM. Ông Phòng cho biết bên mua là ông Nguyễn Nhật Trường đã thanh toán đầy đủ số tiền theo thỏa thuận. Sau khi ký kết, ông Trường nộp hồ sơ tại Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai số 12 để thực hiện thủ tục đăng ký biến động do nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất.
Theo quy định pháp luật, đây là bước bắt buộc để hoàn tất giao dịch và xác lập quyền của bên nhận chuyển nhượng. Việc hợp đồng được công chứng, bên bán xác nhận đã nhận đủ tiền và hồ sơ được nộp đúng trình tự là những căn cứ quan trọng để cơ quan đăng ký đất đai xem xét sang tên cho người mua. Với bên nhận chuyển nhượng, đây là bước bảo đảm quyền tài sản được ghi nhận chính thức trên giấy chứng nhận; còn với bên chuyển nhượng, đây là cơ sở xác nhận đã hoàn tất nghĩa vụ theo hợp đồng đã ký kết. Tuy nhiên, hồ sơ sang tên của ông Nguyễn Nhật Trường không được giải quyết ngay sau khi nộp.
Theo văn bản trả lời của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai số 12 gửi ông Trường, cơ quan này xác nhận đã tiếp nhận hồ sơ đăng ký biến động do nhận chuyển nhượng đối với nhà đất thuộc thửa 538, tờ bản đồ số 4, nay là thửa đất số 44 theo tài liệu năm 2005, tại phường Tân Chánh Hiệp, Quận 12, nay là phường Trung Mỹ Tây, TPHCM. Nhà đất hiện đứng tên ông Ngô Văn Phòng và bà Vũ Thị Lan Phương.
Tuy nhiên, sau khi kiểm tra hồ sơ, Chi nhánh số 12 cho biết ngày 20/9/2023, đơn vị này đã nhận được quyết định ngày 13/9/2023 của TAND TPHCM về việc yêu cầu cung cấp tài liệu, chứng cứ liên quan một số thửa đất trong vụ án được Tòa án thụ lý từ năm 2013.
Trên cơ sở đó, Chi nhánh số 12 cho rằng “tạm thời chưa có cơ sở giải quyết hồ sơ” đăng ký biến động của ông Trường; đồng thời đề nghị ông liên hệ bộ phận tiếp nhận và trả kết quả để nhận lại hồ sơ, cũng như liên hệ TAND TPHCM để được hướng dẫn. Văn bản nêu rằng sau khi có ý kiến của TAND TPHCM, Chi nhánh số 12 sẽ xem xét giải quyết hồ sơ theo quy định.
Từ phía người chuyển nhượng, ông Ngô Văn Phòng cho rằng việc chưa thực hiện đăng ký biến động đã khiến gia đình ông rơi vào tình thế khó khăn, bởi hợp đồng mua bán đã được công chứng và bên mua đã thanh toán đầy đủ tiền theo thỏa thuận.
Điểm đáng chú ý là sự khác biệt giữa các thửa đất, giấy chứng nhận và chủ thể được nhắc đến trong các văn bản liên quan. Theo hồ sơ giao dịch, việc chuyển nhượng giữa ông Phòng, bà Phương với ông Trường liên quan đến thửa đất số 538, giấy chứng nhận số CH 760980. Trong khi đó, văn bản mà Chi nhánh số 12 viện dẫn lại đề cập yêu cầu cung cấp tài liệu của TAND TPHCM đối với thửa đất số 522, giấy chứng nhận số AM 772837, đứng tên ông Phạm Văn Thạnh và bà Lê Minh Hồng.
Sự khác biệt này làm phát sinh câu hỏi liệu vụ án mà TAND TPHCM đang thụ lý có liên quan trực tiếp đến thửa đất đang được chuyển nhượng hay không, và đâu là căn cứ pháp lý cụ thể để cơ quan đăng ký đất đai tạm dừng giải quyết hồ sơ sang tên của ông Nguyễn Nhật Trường.
Từ các tài liệu hiện có, chưa có cơ sở để khẳng định các thửa đất nêu trong hồ sơ và trong vụ án có cùng nguồn gốc, có quan hệ do tách thửa, hợp thửa, chỉnh lý bản đồ địa chính hay có dấu hiệu chồng lấn ranh giới hay không. Việc xác định mối liên hệ này thuộc trách nhiệm chuyên môn của cơ quan quản lý hồ sơ địa chính cũng như cơ quan tiến hành tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án.
Tuy nhiên, chính tại điểm này, câu chuyện không còn dừng ở một hồ sơ sang tên riêng lẻ. Nếu cơ quan đăng ký đất đai cho rằng hồ sơ chuyển nhượng của ông Nguyễn Nhật Trường có liên quan đến vụ án đang được TAND TPHCM thụ lý, thì người dân cần được thông tin rõ: liên quan ở điểm nào, căn cứ trên tài liệu nào, thửa đất nào đang tranh chấp, thửa đất nào bị yêu cầu cung cấp chứng cứ và thửa đất nào thuộc diện bị ngăn chặn giao dịch. Một thông báo chung rằng “tạm thời chưa có cơ sở giải quyết hồ sơ” là chưa đủ để người dân nhận diện đầy đủ quyền, nghĩa vụ và hướng bảo vệ quyền lợi hợp pháp của mình.
Đáng chú ý, các tài liệu hiện thể hiện nhiều số thửa khác nhau. Thông báo thụ lý năm 2024 và yêu cầu bổ sung tài liệu liên quan đến thửa 525 và thửa 526. Trong khi đó, văn bản của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai số 12 năm 2026 lại viện dẫn yêu cầu cung cấp tài liệu đối với thửa 522. Còn hồ sơ chuyển nhượng mà ông Trường đang thực hiện lại liên quan đến thửa 538.
Việc xuất hiện đồng thời nhiều số thửa đất khác nhau trong cùng khu vực phường Tân Chánh Hiệp trước đây đặt ra yêu cầu cơ quan chuyên môn phải đối chiếu, giải thích bằng hồ sơ địa chính cụ thể, thay vì chỉ dừng ở nhận định mang tính khái quát. Bởi chỉ khi xác định rõ mối liên hệ pháp lý giữa các thửa đất, cơ quan nhà nước mới có thể áp dụng biện pháp tạm dừng hoặc hạn chế giao dịch đúng phạm vi, tránh ảnh hưởng đến quyền lợi hợp pháp của người dân không liên quan trực tiếp đến vụ án.
Cung cấp chứng cứ không đồng nghĩa với ngăn chặn giao dịch
Luật Đất đai 2024 quy định người sử dụng đất được thực hiện quyền chuyển nhượng khi đáp ứng các điều kiện như: có giấy chứng nhận hợp pháp; đất không có tranh chấp hoặc tranh chấp đã được giải quyết bằng bản án, quyết định có hiệu lực; quyền sử dụng đất không bị kê biên, không bị áp dụng biện pháp bảo đảm thi hành án; còn thời hạn sử dụng; và không thuộc trường hợp bị áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời theo quy định của pháp luật.
Theo luật, chuyển nhượng quyền sử dụng đất là trường hợp bắt buộc phải đăng ký biến động. Đây không đơn thuần là một thủ tục hành chính, mà là căn cứ để Nhà nước chính thức ghi nhận sự thay đổi chủ sử dụng đất và chủ sở hữu tài sản gắn liền với đất.
Trong vụ việc này, vấn đề cần làm rõ là liệu việc Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai số 12 viện dẫn các quy định pháp luật nêu trên đã đủ căn cứ cụ thể để tạm dừng giải quyết hồ sơ của ông Nguyễn Nhật Trường hay chưa.
Một điểm pháp lý quan trọng cần phân biệt là: yêu cầu cung cấp tài liệu, chứng cứ không đồng nghĩa với quyết định ngăn chặn giao dịch. Theo Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án có quyền yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân cung cấp hồ sơ, tài liệu phục vụ giải quyết vụ án. Trong trường hợp này, cơ quan đăng ký đất đai có trách nhiệm cung cấp hồ sơ địa chính, hồ sơ cấp giấy chứng nhận hoặc tài liệu kỹ thuật thửa đất theo yêu cầu của Tòa án.
Tuy nhiên, việc Tòa án yêu cầu cung cấp tài liệu không mặc nhiên đồng nghĩa với việc quyền chuyển nhượng quyền sử dụng đất bị hạn chế. Chỉ khi có quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời, quyết định kê biên tài sản, văn bản ngăn chặn giao dịch hoặc một quyết định tố tụng khác có nội dung hạn chế chuyển dịch quyền theo đúng quy định pháp luật thì cơ quan đăng ký đất đai mới có căn cứ pháp lý rõ ràng để dừng thủ tục sang tên.
Đây là ranh giới pháp lý cần được xác định minh bạch. Nếu không phân biệt rõ giữa hoạt động thu thập chứng cứ và biện pháp ngăn chặn giao dịch, một yêu cầu tố tụng thông thường có thể bị hiểu như căn cứ để “treo” hồ sơ của người dân trong thời gian không xác định. Trong khi đó, quyền sử dụng đất là quyền tài sản có giá trị lớn; việc hạn chế quyền này, dù chỉ tạm thời, cũng phải dựa trên căn cứ cụ thể, đúng thẩm quyền và đúng phạm vi áp dụng.
Thực tế giải quyết tranh chấp đất đai cho thấy các vụ án liên quan nguồn gốc đất, cấp giấy chứng nhận, tách thửa, hợp thửa hay chỉnh lý bản đồ địa chính thường kéo dài do phải thu thập hồ sơ qua nhiều giai đoạn lịch sử. Vì vậy, việc cơ quan đăng ký đất đai thận trọng khi phát hiện hồ sơ có dấu hiệu liên quan vụ án là điều có thể hiểu được. Nhưng sự thận trọng đó phải đi kèm trách nhiệm giải trình rõ ràng.
Trong vụ việc này, điều người dân cần không phải là một kết luận thay cho Tòa án, mà là một văn bản hành chính đủ cụ thể để xác định: thửa đất số 538 có phải là đối tượng tranh chấp trong vụ án được thụ lý từ năm 2013 hay không; nếu không phải đối tượng tranh chấp thì thửa đất này có liên hệ trực tiếp gì với các thửa 522, 525, 526 thông qua hồ sơ tách thửa, hợp thửa, chỉnh lý bản đồ hay không; có quyết định nào của TAND TPHCM cấm chuyển dịch quyền đối với thửa 538 hay không; và có văn bản kê biên, ngăn chặn nào từ cơ quan thi hành án hoặc cơ quan có thẩm quyền khác hay không.
Chỉ khi làm rõ được các nội dung này, việc tạm dừng hay tiếp tục giải quyết hồ sơ mới bảo đảm đúng quy định pháp luật, đồng thời tránh biến sự thận trọng hành chính thành rủi ro pháp lý kéo dài đối với người dân.

Thụ lý vụ án đân sự cẩu thả gây thiệt hại cho người dân và giảm uy tín của cơ quan công quyền
Theo Thông báo thụ lý vụ án số 213.2/TB-TLVA do thẩm phán Nguyễn Thị Thoa ký ngày 29/5/2024, TAND TPHCM cho biết vụ án dân sự số 213/2013/TLST-DS về “Tranh chấp quyền sử dụng đất” đã được thụ lý từ ngày 24/6/2013 theo đơn khởi kiện của bà Lê Thị Thu Hà, hiện định cư tại Mỹ.
Nội dung thông báo thể hiện bà Hà yêu cầu đòi lại diện tích đất có giá trị tương đương 6 tỷ đồng từ bị đơn Võ Văn Nước. Tuy nhiên, theo chính nội dung văn bản, ngoài đơn khởi kiện, nguyên đơn không cung cấp được tài liệu, chứng cứ liên quan.
Đến ngày 23/5/2024, tức hơn 10 năm sau khi vụ án được thụ lý, bà Lê Thị Thu Hà tiếp tục sửa đổi, bổ sung yêu cầu khởi kiện. Lần này, bà yêu cầu TAND TPHCM công nhận và buộc bà Lê Minh Hồng cùng ông Phạm Văn Thanh trả lại diện tích 516m² đất, gồm phần diện tích thuộc thửa 525 và thửa 526, tờ bản đồ số 6, xã Tân Chánh Hiệp, Quận 12, TPHCM. Hai thửa đất này đã được UBND Quận 12 cấp giấy chứng nhận cho ông Thanh và bà Hồng từ năm 2008.
Đáng chú ý, theo nội dung hồ sơ mà các bên cung cấp, dù thay đổi yêu cầu khởi kiện và thay đổi cả chủ thể bị kiện, bà Hà vẫn không xuất trình được tài liệu, chứng cứ chứng minh quyền sử dụng đất hoặc mối liên hệ pháp lý đối với các thửa đất đang tranh chấp.
Trong quá trình giải quyết vụ án, ngày 13/9/2023, TAND TPHCM ban hành Quyết định số 12433/2023/QĐ-CCCC yêu cầu Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai Quận 12 (nay là Chi nhánh số 12) cung cấp hồ sơ, tài liệu liên quan đến thửa đất số 522, tờ bản đồ số 6, diện tích 583,4m², giấy chứng nhận số AM 772837 đứng tên ông Phạm Văn Thanh và bà Lê Minh Hồng.
Ngày 6/10/2023, Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai Quận 12 đã có văn bản phúc đáp yêu cầu này. Đến ngày 21/5/2026, Chi nhánh số 12 tiếp tục gửi công văn đến TAND TPHCM để xin ý kiến liên quan hồ sơ đăng ký biến động của ông Nguyễn Nhật Trường đối với thửa đất số 538. Hai lần Chi nhánh số 12 tiếp tục gửi công văn đến TAND TPHCM để xin ý kiến liên quan hồ sơ nhưng đều không được Tòa án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh trả lời.
Sau đó, Chi nhánh số 12 thông báo “tạm thời chưa có cơ sở giải quyết hồ sơ” sang tên của ông Trường và hướng dẫn người dân liên hệ TAND TPHCM để được hướng dẫn thêm.
Điều gây tranh cãi là vụ án mà TAND TPHCM đang giải quyết liên quan các thửa 522, 525 và 526, trong khi giao dịch chuyển nhượng của ông Ngô Văn Phòng và ông Nguyễn Nhật Trường lại liên quan đến thửa 538. Từ các tài liệu hiện có, chưa thấy văn bản nào thể hiện thửa 538 là đối tượng tranh chấp, bị kê biên, bị áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời hay bị ngăn chặn giao dịch.
Việc một vụ án được thụ lý kéo dài hơn 10 năm, nhiều lần thay đổi yêu cầu khởi kiện, thay đổi đối tượng tranh chấp nhưng vẫn chưa xác định rõ phạm vi tài sản liên quan, trong khi các cơ quan hành chính lại dè dặt dừng giải quyết hồ sơ của người dân, đang đặt ra câu hỏi về tính chặt chẽ trong hoạt động tố tụng và sự phối hợp giữa Tòa án với cơ quan đăng ký đất đai.
Bởi về nguyên tắc tố tụng, việc Tòa án yêu cầu cung cấp chứng cứ không mặc nhiên đồng nghĩa với việc toàn bộ các giao dịch liên quan khu vực đó đều phải dừng lại. Nếu không có quyết định ngăn chặn cụ thể, không xác định rõ tài sản tranh chấp và phạm vi áp dụng, thì nguy cơ ảnh hưởng đến quyền tài sản hợp pháp của những người không phải đương sự là điều có thể xảy ra.
Việc TAND TPHCM chấp nhận thụ lý vụ án dân sự này cũng đang đặt ra nhiều vấn đề về trách nhiệm xem xét chứng cứ ban đầu của cơ quan tố tụng. Theo các tài liệu thể hiện trong hồ sơ, nguyên đơn là bà Lê Thị Thu Hà, một Việt kiều đang sinh sống tại Mỹ, khởi kiện tranh chấp quyền sử dụng đất nhưng ngoài đơn khởi kiện hầu như không cung cấp được tài liệu, chứng cứ chứng minh quyền sử dụng đất, quá trình tạo lập tài sản hay nguồn gốc hình thành diện tích đất tranh chấp.
Đáng chú ý, vụ kiện liên quan tài sản có giá trị lớn nhưng các yếu tố nền tảng của quan hệ tranh chấp dường như chưa được làm rõ ngay từ giai đoạn thụ lý. Chẳng hạn, nếu nguyên đơn cho rằng có góp vốn, tạo lập hoặc đầu tư đối với nhà đất tại Việt Nam thì nguồn tiền được chuyển từ nước ngoài về bằng con đường nào, thông qua giao dịch ngân hàng nào, có chứng từ chuyển tiền, xác nhận nhận tiền hay tài liệu chứng minh việc đầu tư hay không cũng là những vấn đề cần được xác minh trong quá trình giải quyết vụ án.
Đây không chỉ là câu chuyện chứng minh quyền tài sản, mà còn liên quan việc đánh giá căn cứ khởi kiện và xác định phạm vi tranh chấp ngay từ đầu. Bởi theo nguyên tắc tố tụng dân sự, đương sự có nghĩa vụ cung cấp chứng cứ để bảo vệ yêu cầu khởi kiện của mình. Trong khi đó, việc một vụ án được thụ lý và kéo dài nhiều năm dù thiếu tài liệu chứng minh cơ bản có thể dẫn đến hệ quả pháp lý lan rộng, ảnh hưởng đến cả những người không phải đương sự trong vụ án.
Trường hợp hồ sơ sang tên của ông Nguyễn Nhật Trường bị tạm dừng là ví dụ điển hình. Cho đến nay, chưa thấy tài liệu nào thể hiện thửa đất số 538 là đối tượng tranh chấp trực tiếp hoặc bị áp dụng biện pháp ngăn chặn giao dịch. Tuy nhiên, chỉ từ việc tồn tại một vụ án dân sự kéo dài với nhiều thay đổi về đối tượng và phạm vi tranh chấp, quyền đăng ký biến động của người dân vẫn bị ảnh hưởng trên thực tế.
Điều dư luận đặt ra không phải là kết luận thay cho Tòa án, mà là yêu cầu minh bạch hơn về căn cứ thụ lý, phạm vi tranh chấp và trách nhiệm rà soát các văn bản tố tụng đã ban hành, để tránh tình trạng một vụ án kéo dài trở thành lý do khiến hàng loạt giao dịch dân sự hợp pháp bị đình trệ.
Đáng chú ý, vụ án được thụ lý từ năm 2013 nhưng sau hơn 10 năm, yêu cầu khởi kiện tiếp tục thay đổi, đối tượng tranh chấp thay đổi và phạm vi các thửa đất liên quan cũng thay đổi theo từng giai đoạn. Trong khi đó, các vấn đề quan trọng như nguồn tiền được cho là dùng để tạo lập tài sản, quá trình chuyển tiền từ nước ngoài về Việt Nam, giao dịch dân sự giữa các bên hay căn cứ xác lập quyền sử dụng đất của nguyên đơn dường như chưa được làm rõ ngay từ đầu.
Dư luận đặt câu hỏi: với một vụ kiện tranh chấp tài sản có giá trị lớn, nguyên đơn không cung cấp được tài liệu chứng minh quyền lợi liên quan, vì sao vụ án vẫn được thụ lý và kéo dài trong nhiều năm. Bởi theo nguyên tắc tố tụng dân sự, nghĩa vụ chứng minh thuộc về đương sự yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình.
Hệ quả của việc thụ lý kéo dài và thiếu xác định rõ phạm vi tranh chấp không chỉ dừng ở quan hệ giữa các đương sự trong vụ án, mà còn ảnh hưởng đến quyền lợi của những người khác không trực tiếp tham gia tố tụng. Trường hợp ông Nguyễn Nhật Trường là một ví dụ, khi hồ sơ đăng ký biến động đối với thửa đất số 538 bị “treo” dù hiện chưa thấy tài liệu nào xác định thửa đất này là đối tượng tranh chấp hoặc bị áp dụng biện pháp ngăn chặn giao dịch.
Theo phản ánh từ nhiều nguồn thông tin, vụ án dân sự nói trên thậm chí đã có quyết định đình chỉ ở một số giai đoạn. Tuy nhiên, nếu đúng như vậy, vấn đề tiếp theo đặt ra là liệu TAND TPHCM đã rà soát, thu hồi hoặc đính chính các văn bản liên quan đã gửi đến cơ quan đăng ký đất đai hay chưa. Bởi trong thực tế, chỉ cần một văn bản tố tụng chưa được làm rõ hiệu lực hoặc phạm vi áp dụng cũng có thể khiến cơ quan hành chính tiếp tục dè dặt xử lý hồ sơ, kéo theo quyền lợi hợp pháp của người dân bị ảnh hưởng trong thời gian dài.
Trong một nhà nước pháp quyền, việc bảo vệ quyền tài sản không chỉ đòi hỏi sự thận trọng của cơ quan công quyền, mà còn đòi hỏi trách nhiệm cập nhật, rà soát và minh bạch thông tin tố tụng để tránh tình trạng người dân trở thành “nạn nhân ngoài vụ án” của những tranh chấp kéo dài nhiều năm.
Kết lại, không chỉ cơ quan đăng ký đất đai mà cả phía TAND TPHCM cũng cần được đặt trong yêu cầu minh bạch trách nhiệm. Nếu vụ án thụ lý từ năm 2013 thực sự có liên quan đến thửa đất đang giao dịch, Tòa án cần xác định rõ phạm vi tranh chấp, đối tượng áp dụng và có văn bản ngăn chặn hoặc yêu cầu cụ thể gửi cơ quan đăng ký đất đai theo đúng trình tự tố tụng. Ngược lại, nếu các thửa đất trong vụ án hoàn toàn khác với thửa đất người dân đang làm thủ tục sang tên, thì việc để cơ quan hành chính “chờ ý kiến Tòa án” suốt thời gian dài mà không có căn cứ rõ ràng cũng tạo ra khoảng trống trách nhiệm.
Trong quan hệ này, người dân gần như bị đặt vào thế bị động: hồ sơ không được giải quyết, nhưng cũng không có quyết định tạm dừng rõ ràng để thực hiện quyền khiếu nại hay khởi kiện. Việc hướng dẫn người dân tự liên hệ Tòa án để được giải thích càng cho thấy sự đùn đẩy giữa các cơ quan, bởi người dân không phải chủ thể có thẩm quyền yêu cầu Tòa án xác nhận thay cho cơ quan đăng ký đất đai.
Một nền hành chính và tư pháp vận hành đúng không chỉ cần tránh sai sót, mà còn phải tránh để sự thiếu rõ ràng của cơ quan công quyền trở thành rủi ro pháp lý cho người dân. Khi quyền tài sản bị ảnh hưởng bởi một vụ án kéo dài hơn 10 năm nhưng chưa xác định được liên quan trực tiếp hay không, thì trách nhiệm giải thích thuộc về cả cơ quan đăng ký đất đai lẫn cơ quan tố tụng, chứ không thể chuyển gánh nặng chứng minh và đi lại cho người dân.
Trọng Nguyễn


