Đảng cầm quyền là đảng chính trị đại diện cho một giai cấp đang nắm giữ và lãnh đạo chính quyền để quản lý, điều hành đất nước nhằm hiện thực hoá tôn chỉ, lợi ích của giai cấp mình. Cách mạng Tháng Tám thành công là mốc son chói lọi không chỉ đánh dấu thắng lợi vĩ đại của cách mạng Việt Nam, mà còn đưa Đảng ta trở thành đảng cầm quyền, tạo ra thế và lực mới để lãnh đạo nhân dân đi từ thắng lợi này đến thắng lợi vẻ vang khác. Trước sự phát triển của thực tiễn, Đảng cầm quyền và nâng cao năng lực cầm quyền của Đảng đang đặt ra những yêu cầu cần giải đáp với những luận cứ, luận chứng xác đáng, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới.
Từ khóa: Đảng Cộng sản, Đảng cầm quyền, Việt Nam

Chính quyền là vấn đề cơ bản của mọi cuộc cách mạng và cầm quyền trở thành yếu tố then chốt của mọi tổ chức chính trị trong xã hội có giai cấp sau khi tiến hành thành công cách mạng xã hội, thành lập chính quyền mới. Thực tiễn lịch sử xã hội loài người từ khi phân chia giai cấp đến nay minh chứng sắc nét và khẳng định đanh thép rằng thiết lập và phát huy vai trò của bộ máy quyền lực nhà nước nhằm đảm bảo vững chắc cho vị thế cầm quyền là vấn đề có tính quy luật của tổ chức chính trị đương quyền. Với ý nghĩa đó, nâng cao năng lực cầm quyền giữ vai trò cốt lõi của mọi chính thể giữ vai trò thống trị trong mỗi quốc gia.
Ra đời và lãnh đạo dân tộc đấu tranh giành chính quyền, thành công của Cách mạng Tháng Tám năm 1945 đánh dấu cột mốc trọng đại ghi nhận Đảng ta chính thức trở thành Đảng cầm quyền. Thấu suốt lý luận và thực tiễn, Đảng ta luôn ra sức chăm lo xây dựng, chỉnh đốn Đảng thực sự “đạo đức, văn minh” xứng tầm với yêu cầu, nhiệm vụ cách mạng. Trong đó, nâng cao năng lực cầm quyền được Đảng ta hết sức quan tâm, chú trọng nhằm thực hiện thắng lợi mục tiêu, lý tưởng độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.
Trước sự biến đổi phức tạp của tình hình thế giới, khu vực và những khó khăn, hạn chế trong lãnh đạo cách mạng Việt Nam thời gian qua; các thế lực cơ hội, bất mãn, thù địch đã ráo riết chống phá Đảng ta bằng nhiều chiêu trò, thủ đoạn hết sức thâm độc, sâu cay. Chúng ra sức xuyên tạc vị thế cầm quyền và hạ thấp năng lực cầm quyền của Đảng đi đôi với cổ suý cho tư tưởng “đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập”. Chúng rêu rao rằng Đảng ta độc đoán, chuyên quyền, “tự nhận” quyền lãnh đạo của mình; thành quả của Việt Nam có được là do “ăn may”, “học đòi, bắt chước” từ bên ngoài chứ Đảng Cộng sản Việt Nam chẳng có tài cán gì… và đòi hỏi Đảng ta phải từ bỏ vai trò lãnh đạo cách mạng Việt Nam, đòi xoá bỏ Điều 4 Hiến pháp Nước cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam… Thực tế đó cho thấy, các đối tượng chống phá cách mạng Việt Nam, chống đối Đảng ta đã và đang cố tình “vạch lá tìm sâu”, không từ thủ đoạn để hạ thấp hòng đi đến phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng đối với cách mạng Việt Nam. Dù cố tình “thay trắng, đổi đen”, song sự thật lịch sử vẫn mãi vẹn nguyên và mọi thể chế chính trị trong xã hội có giai cấp vẫn sẽ “vận hành” theo những quy luật vốn có của nó, mà đảng cầm quyền là yếu tố đóng vai trò then chốt.
Cốt lõi năng lực cầm quyền của Đảng là năng lực lãnh đạo Nhà nước và xã hội đã được nêu trong Hiến pháp năm 2013, được thực hiện thông qua hệ thống tổ chức đảng và đội ngũ đảng viên trong hệ thống chính trị nhằm xây dựng, phát triển đất nước theo đúng quỹ đạo cách mạng vô sản mà lịch sử dân tộc Việt Nam đã nhất quán lựa chọn, khẳng định từ năm 1930. Chỉ 15 năm sau khi ra đời, Đảng đã lãnh đạo cả dân tộc làm nên thắng lợi Tháng Tám (1945), khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà – Nhà nước công nông đầu tiên ở khu vực Đông Nam châu Á và chính thức trở thành Đảng cầm quyền, lãnh đạo Nhà nước và xã hội. Những thành quả vĩ đại mang tầm vóc thời đại của cách mạng Việt Nam là sự khẳng định tính đúng đắn của con đường cách mạng mà dân tộc ta lựa chọn và cũng chính là sự thừa nhận của lịch sử về vai trò lãnh đạo cách mạng của Đảng Cộng sản Việt Nam. Bởi trước khi Đảng ra đời, cách mạng Việt Nam đã rơi vào bế tắc, khủng hoảng về đường lối cứu nước, giải phóng dân tộc mặc dù các phong trào khởi nghĩa và đấu tranh theo các khuynh hướng khác nhau (phong kiến, tư sản, tiểu tư sản), diễn ra sôi nổi với ý chí quả cảm, đức hy sinh song chung một kết cục thất bại. Thực tế đó cho thấy, sự ra đời của Đảng không chỉ là tất yếu, mà còn khẳng định đó là sự lựa chọn của chính lịch sử dân tộc Việt Nam vào vai trò lãnh đạo của Đảng bằng những minh chứng không thể chối bỏ với chiến công nối tiếp chiến công và xác lập vóc dáng, vị thế, uy tín Việt Nam trên trường quốc tế.
Với bản chất của một đảng mácxít chân chính, Đảng ta không chỉ nhận thức rõ sứ mệnh cao quý và tình cảm thiêng liêng mà dân tộc trao trọn; Đảng luôn thấu suốt trọng trách và đặc biệt chú trọng công tác xây dựng Đảng trong sạch vững mạnh về mọi mặt ngang tầm yêu cầu, nhiệm vụ cách mạng để Đảng thực sự xứng tầm vị thế, vai trò lãnh đạo, cầm quyền.
V.I.Lênin là người đầu tiên nêu ra thuật ngữ “Đảng cầm quyền”: “Đảng ta là một đảng cầm quyền và những quyết định do đại hội của đảng thông qua là những điều mà toàn nước Cộng hòa phải tuân theo”. Thấm nhuần lý luận cách mạng, thấu suốt thực tiễn Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn đặt ra những yêu cầu cao trong công tác xây dựng Đảng và mẫu mực làm gương. Trong Di chúc, Người đã khẳng định “Đảng ta là một đảng cầm quyền, mỗi hành khách và có thể bộ phải thực sự mềm dẻo đạo đức cách mạng, thật sự cần thiết, Tiết kiệm, liêm chính, chính công vô tư. Phải giữ Đảng ta thật trong sạch, phải xứng đáng là người đạo, là người đầy đủ trung thành của nhân dân”. Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (Bổ sung, phát triển năm 2011) cũng nêu rõ: “Đảng Cộng sản Việt Nam là Đảng cầm quyền”. Vai trò cầm quyền, lãnh đạo của Đảng ta luôn được nhân dân thừa nhận, tin tưởng và suy tôn, được hiến định trong Hiến pháp và pháp luật. Quan điểm cầm quyền là sự hội tụ “ý Đảng” với “lòng dân”, được kiểm nghiệm qua bao thử thách khắc nghiệt mà lịch sử dân tộc đã trải qua. Như vậy, hoàn toàn không phải Đảng ta tự nhận hay suy tôn mình lên vị thế cầm quyền mà đó là sự lựa chọn của lịch sử, được nhân dân tin yêu trao gửi.
Đảng cầm quyền là vấn đề cực kỳ hệ trọng, hết sức phong phú và vô cùng phức tạp. Nhưng xuyên suốt hơn 95 năm qua, vượt qua muôn vàn khó khăn, thử thách và bất chấp những xuyên tạc, bóp méo, phủ nhận của các thế lực thù địch; với vị thế cầm quyền, Đảng ta thực sự xứng đáng là người “đứng mũi chịu sào” trước dân tộc, đã lãnh đạo chính quyền nhân dân đấu tranh giành độc lập dân tộc, thống nhất Tổ quốc, tiến hành công cuộc đổi mới toàn diện đất nước đạt nhiều thành tựu to lớn. Đó là sự xác nhận trên thực tiễn năng lực cầm quyền của Đảng, nên Đảng Cộng sản Việt Nam được Nhân dân tin tưởng, gửi gắm, trao cho sứ mệnh lãnh đạo cách mạng, duy nhất cầm quyền ở nước ta. Trải qua thực tiễn, Đảng đã không ngừng tích luỹ, tiếp tục làm phong phú hơn nhiều vấn đề lý luận, thực tiễn trên bình diện cơ bản, trọng yếu này… Song, thực tế vẫn đang tồn tích, đặt ra một số vấn đề cơ bản cả về lý luận và tổ chức thực tiễn cần tiếp tục nghiên cứu, tổng kết, kiến giải, làm sáng tỏ, phát triển ngang tầm trọng trách lịch sử và yêu cầu thời đại. Thực trạng đó đã được Đảng ta chỉ rõ: “Công tác nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn chưa làm sáng tỏ được một số vấn đề về đảng cầm quyền, về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta”. Hạn chế đó trở thành “mảnh đất” màu mỡ mà các thế lực chống đối khai thác, khoét sâu, tô hồng, bóp méo… để hạ bệ uy tín và năng lực cầm quyền của Đảng. Vì thế, vấn đề Đảng cầm quyền trở nên cấp thiết hơn, thực sự hệ trọng, xuyên suốt các quyết sách chính trị và thực tiễn cầm quyền của Đảng. Với ý nghĩa then chốt đó, nâng cao năng lực cầm quyền được Đảng ta đặc biệt quan tâm, chú trọng.
Mục tiêu, lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội – lợi ích cao nhất của dân tộc Việt Nam là sự hội tụ lòng dân với ý Đảng. Nguyện vọng, lợi ích chính đáng của Nhân dân luôn gắn kết với sự nghiệp của Đảng và lý tưởng, ý chí của Đảng cũng là khát vọng và mong ước của Nhân dân. Bởi thế, thực chất cái “quyền” mà Đảng “cầm” chính là “quyền” lực tối thượng của dân, do Nhân dân giao phó để Đảng lo cho Nhân dân, dân tộc, đất nước ngày càng phồn vinh, hạnh phúc. Đây chính là mấu chốt khác biệt về chất so với việc cầm quyền của các đảng phái trong xã hội tư bản chỉ vì lợi ích một bộ phận của giai cấp tư sản mà thôi!. Dù thực tế lịch sử đó là không thể chối bỏ, song các nhà “đa nguyên, đa đảng” có đủ “dũng khí” để thừa nhận hay không?.
Với bản lĩnh và đạo đức cách mạng sáng ngời; Đảng luôn nhận thức đúng vai trò lãnh đạo và đòi hỏi mỗi cán bộ, đảng viên thấm nhuần bản chất cầm quyền của Đảng mà nhận thức cho đầy đủ vai trò, trách nhiệm, sứ mệnh được trao; hiểu rõ “quyền” mà Nhân dân giao phó là để phục vụ Nhân dân, chịu sự giám sát của Nhân dân, chịu trách nhiệm trước Nhân dân về những quyết sách của mình. Đồng thời, Đảng phải khẳng định được năng lực cầm quyền. Bởi vậy, bất cứ thế lực nào, dưới bất kỳ hình thức nào hòng xóa bỏ vai trò lãnh đạo, địa vị cầm quyền của Đảng đều là muốn xóa bỏ quyền lực từ tay Nhân dân, xóa bỏ nhà nước của dân, do dân, vì dân.
Thực tế trong những năm qua, vấn đề đảng cầm quyền và sự cầm quyền của Đảng trong điều kiện xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa vẫn tồn đọng những hạn chế, yếu kém, nhất là việc giải quyết mối quan hệ giữa quyền lãnh đạo của Đảng với quyền lực của Nhà nước. Vừa có biểu hiện Đảng làm thay nhà nước, vừa có tình trạng Đảng buông lỏng lãnh đạo Nhà nước; cơ chế kiểm soát quyền lực trong Đảng và Nhà nước chưa đầy đủ, đồng bộ, hiệu lực, hiệu quả chưa cao; nhiều nơi vẫn còn tình trạng lúng túng, chưa phân biệt rõ chức năng, nhiệm vụ giữa Đảng và chính quyền; có nơi, có lúc chính quyền lấn át quyền lực… Thực tế đó cho thấy vấn đề Đảng cầm quyền chưa được nhận thức đầy đủ, thấu đáo và phương thức lãnh đạo, cầm quyền của Đảng cần được tiếp tục đổi mới, hoàn thiện theo chiều sâu, thực chất và có hiệu quả cao hơn.
Đáp ứng đòi hỏi của thực tiễn, Đại hội XIV xác lập chủ trương: “Xây dựng Đảng và hệ thống chính trị, nâng cao vai trò lãnh đạo và năng lực cầm quyền của Đảng” thể hiện rõ mối quan hệ gắn kết chặt chẽ, tác động tương hỗ lẫn nhau, tạo điều kiện, tiền đề, bổ sung và chuyển hóa cho nhau. Do đó, Đảng ta không chỉ nhấn mạnh “Trong những năm tới phải đặc biệt coi trọng và đẩy mạnh hơn nữa xây dựng, chỉnh đốn Đảng toàn diện về chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức và cán bộ”; mà còn khẳng định một trong những nhiệm vụ trọng tâm trong nhiệm kỳ Đại hội XIV là “Đổi mới, nâng cao năng lực lãnh đạo, cầm quyền của Đảng đối với quá trình xây dựng, hoàn thiện nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam”. Đây thực sự là quyết sách đúng đắn, kịp thời nhằm phát huy ưu điểm, khắc phục khuyết điểm và nâng cao vị thế, năng lực cầm quyền của Đảng để Đảng hoàn thành xuất sắc trọng trách lịch sử và “quyền năng” được Nhân dân trao gửi trong giai đoạn phát triển mới.
Đảng cầm quyền hoàn toàn không phải là sự “tham quyền cố vị” như những kẻ chống phá áp đặt rêu rao, bởi lãnh đạo và cầm quyền là hai hình thái hoạt động không thể tách rời trong cùng một chủ thể, một quá trình tác động của Đảng đối với Nhà nước. Lãnh đạo là sự định hướng, dẫn dắt hoạt động của Nhà nước theo mục tiêu chính trị của Đảng; cầm quyền là nắm giữ quyền lực nhà nước, thông qua hoạt động của Nhà nước để hiện thực hóa mục tiêu chính trị của Đảng. Lãnh đạo thông qua vai trò của tổ chức đảng trong cơ quan nhà nước; cầm quyền thông qua các cơ quan nhà nước để quán triệt chủ trương, đường lối trong quá trình thực thi quyền lực nhà nước. Do đó, phương thức lãnh đạo và phương thức cầm quyền gắn bó chặt chẽ với nhau, song không đồng nhất. Phương thức cầm quyền là tổng thể các cách thức, phương pháp, nghệ thuật nắm giữ, giám sát, kiểm soát quyền lực nhà nước theo khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật; được thể hiện trong quá trình lập pháp, thực thi quyền lực Nhà nước và tổ chức bộ máy nhà nước, bố trí đội ngũ cán bộ. Nội dung cốt lõi của Đảng cầm quyền là thể chế hóa quan điểm, đường lối, chính sách của Đảng thành pháp luật Nhà nước và phải tuân thủ đúng pháp luật để thực hiện cầm quyền. Do đó, đề cao pháp luật, tôn trọng pháp luật, gương mẫu thực hiện pháp luật là nguyên tắc cầm quyền tối thượng của Đảng. Hoạt động cầm quyền của Đảng nghĩa là phải xác lập quyền lực đối với Nhà nước theo quy định của pháp luật, theo quy trình pháp lý và tuân thủ quy luật khách quan. Đảng phải phát huy dân chủ trong quá trình xây dựng chủ trương, đường lối và thể chế hóa thành chính sách, pháp luật của Nhà nước; trong tổ chức xây dựng Nhà nước và bố trí đội ngũ cán bộ tham gia bộ máy nhà nước. Mục đích cầm quyền của Đảng là phấn đấu vì lợi ích của Nhân dân; đại diện cho quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của Nhân dân. Đảng cầm quyền không có mục đích nào khác vì sự phồn vinh của đất nước, vì hạnh phúc của nhân dân. Như vậy, bản chất cầm quyền của Đảng Cộng sản Việt Nam là cầm quyền vì lợi ích của nhân dân, cầm quyền theo pháp luật, cầm quyền một cách dân chủ và khoa học, đó cũng là phương châm, nguyên tắc cầm quyền của Đảng.
Đảng cầm quyền theo nguyên tắc tập trung, thống nhất, có sự phân công, phối hợp chặt chẽ và giám sát lẫn nhau giữa các cơ quan nhà nước trong thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp. Đảng Cộng sản Việt Nam là chính đảng duy nhất cầm quyền, giữ vai trò hạt nhân lãnh đạo trong hệ thống chính trị. Đảng Cộng sản nắm giữ vai trò cầm quyền bằng thể chế hóa đường lối, chính sách thành hiến pháp, pháp luật và cầm quyền theo pháp luật; đồng thời thông qua tổ chức đảng, những cán bộ, đảng viên ưu tú được bố trí, sắp xếp trong các cơ quan nhà nước. Đảng Cộng sản xác lập và củng cố vai trò cầm quyền bằng uy tín chính trị, hiệu quả lãnh đạo, phát huy dân chủ để Nhân dân ủng hộ, tham gia xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền nhà nước trong sạch vững mạnh.
Đảng Cộng sản Việt Nam cầm quyền khác hẳn mô hình cầm quyền trong xã hội tư bản – nơi mà thể chế nhà nước được tổ chức theo nguyên tắc tam quyền phân lập. Các đảng chính trị cạnh tranh cầm quyền, đảng thắng cử sẽ nắm giữ quyền lực nhà nước, kiểm soát các nhánh quyền lực, các đảng đối lập bằng các đối sách trong nghị viện. Để thực hiện vai trò cầm quyền, đảng cầm quyền lựa chọn đại biểu chính trị của mình nắm giữ các vị trí chủ chốt trong nhà nước, điều hành công việc của nhà nước theo chính sách của đảng và pháp luật. Vai trò cầm quyền của chính đảng chủ yếu được thực hiện thông qua các đại biểu chính trị, trong đó vị trí quan trọng nhất là người đứng đầu cơ quan hành pháp. Đảng cầm quyền luôn phải đối phó với các đảng đối lập, tìm cách củng cố vai trò cầm quyền của mình bằng những chính sách phù hợp với luật pháp theo ý chí của giai cấp tư sản, đồng thời tranh thủ sự ủng hộ các nhóm xã hội và công chúng.
Như vậy, Đảng Cộng sản Việt Nam cầm quyền không chỉ lãnh đạo chính trị chung chung, thuần tuý, không chịu trách nhiệm gì trước Nhân dân và dân tộc; mà Đảng phải chăm lo mọi mặt cho dân giầu, nước mạnh, phồn vinh, hạnh phúc. Trở thành đảng cầm quyền, Đảng không chỉ đại diện cho lợi ích giai cấp mình – giai cấp công nhân mà còn là đại biểu cho lợi ích của nhân dân, là đội tiên phong chính trị của cả dân tộc. Khi là đảng cầm quyền, Đảng lãnh đạo chủ yếu bằng Nhà nước, thông qua Nhà nước, đề cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu, khẳng định được vị thế và năng lực cầm quyền của mình. Do đó, sự bổ sung, nhấn mạnh “nâng cao năng lực cầm quyền” trong mối quan hệ tương hỗ với nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng ở Đại hội XIV là minh chứng cho chiều sâu trí tuệ, tư duy sắc sảo và tầm nhìn chiến lược của Đảng ta. Đại hội XIV không chỉ dừng lại ở khẳng định vấn đề “là đảng cầm quyền” như Đảng đã xác lập; mà còn góp phần làm sáng rõ hơn một số vấn đề lý luận – thực tiễn trong nhận thức về vai trò lãnh đạo, vị thế và năng lực cầm quyền của Đảng. Theo đó cho thấy yêu cầu toàn diện, triệt để đòi hỏi Đảng vừa phải có đủ năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu để xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa; vừa phải đủ năng lực, bản lĩnh để chiến thắng bệnh quyền lực; vừa phải không ngừng nâng cao năng lực và đổi mới phương thức lãnh đạo, cầm quyền của Ðảng trong điều kiện mới. Đây là bước đột phá trong nhận thức lý luận và tư duy chính trị của Đảng trong kết hợp hài hòa giữa năng lực lãnh đạo và năng lực cầm quyền, giữa xây dựng với chỉnh đốn Ðảng; giữa xây dựng Ðảng với bảo vệ Ðảng trong điều kiện mới. Điều đó chứng tỏ, Đảng ta ngày càng coi trọng nâng cao năng lực cầm quyền của Đảng, coi đó là nhân tố quyết định uy tín chính trị, quyết định thắng lợi của sự nghiệp đổi mới vì độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội.
Đột phá trong chủ trương nâng cao năng lực cầm quyền của Đảng đặt ra những đòi hỏi mới tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận về đảng cầm quyền, xác định rõ và hoàn thiện mục đích cầm quyền, phương thức cầm quyền, nội dung cầm quyền, điều kiện cầm quyền; vấn đề phát huy dân chủ trong điều kiện duy nhất một Đảng cầm quyền; các nguy cơ phải phòng ngừa đối với đảng cầm quyền… Vấn đề trọng tâm để nâng cao năng lực cầm quyền của Đảng hiện nay là nâng cao trình độ trí tuệ, năng lực hoạch định cương lĩnh, đường lối, chính sách phù hợp với quy luật khách quan và đặc thù của Việt Nam, tạo bước đột phá để phát triển; nâng cao năng lực tổ chức thực hiện đường lối, nghị quyết của Đảng, đặc biệt Đảng lãnh đạo Nhà nước thể chế hoá các quan điểm, đường lối, chủ trương của Đảng thành chính sách, pháp luật, lãnh đạo xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức đủ phẩm chất và năng lực, lãnh đạo tổ chức thực hiện thắng lợi các chủ trương, chính sách và hệ thống pháp luật; chú trọng đổi mới, nâng cao chất lượng lập pháp, cải cách hành chính và cải cách tư pháp; nâng cao năng lực kiểm tra, giám sát và kỷ luật đảng; các tổ chức đảng và đảng viên phải gương mẫu tuân thủ Hiến pháp và pháp luật. Đồng thời, tăng cường phát triển đảng, kết nạp những người ưu tú trong các tầng lớp nhân dân để bổ sung cho Đảng nguồn nhân lực chất lượng cao; đi đôi với làm tốt việc thanh lọc đội ngũ đảng viên, mạnh dạn cắt bỏ khỏi cơ thể Đảng những tế bào thoái hóa, biến chất, kiên quyết đưa những đảng viên không đủ tư cách ra khỏi Đảng… nhằm đảm bảo cho Đảng luôn trong sạch, mẫu mực tiêu biểu, thực sự “là đạo đức, là văn minh”, nâng cao năng lực lãnh đạo, năng lực cầm quyền, sức chiến đấu, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ cách mạng giai đoạn mới.
Được lịch sử lựa chọn và Nhân dân trao quyền, thực tế lịch sử hơn 95 năm lãnh đạo cách mạng Việt Nam càng khẳng định địa vị và năng lực cầm quyền của Đảng một cách tất yếu, đáp ứng khát vọng của nhân dân và phù hợp với xu thế thời đại. Hiện nay, quy mô, tốc độ, chiều sâu của sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc diễn ra trong bối cảnh thế giới biến động rất phức tạp, khôn lường… nhằm hiện thực hoá những mục tiêu mà Đại hội XIV xác lập đặt ra trước Đảng những trọng trách mới, với cả thời cơ và thách thức đan xen. Con đường dân tộc đi tới mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, do Đảng lãnh đạo, đã rõ ràng và nhất quán, nhưng đang chất đầy những khó khăn, cản trở, chông gai và cạm bẫy. Đó là quy luật tự nhiên và vì thế, trọng trách lịch sử của Đảng, vị thế, vai trò, năng lực cầm quyền càng phải được tiếp tục khẳng định và không ngừng nâng cao, ngang tầm nhiệm vụ nhằm đưa dân tộc tiến cùng thời đại, sánh vai với các cường quốc năm châu. Đó cũng là minh chứng đanh thép khẳng định vai trò cầm quyền, năng lực cầm quyền của Đảng trong công cuộc cách mạng và là vũ khí lý luận sắc bén đập tan mọi mưu đồ chống đối Đảng ta, chống phá cách mạng Việt Nam. Với hướng đi đúng đắn, ý Đảng hợp với lòng dân; phát huy sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân tộc, toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta sẽ lập nên những kỳ tích mới, vững bước tiến vào kỷ nguyên mới- kỷ nguyên vươn mình của đất nước.
Trung tá, TS. Lê Tuấn Anh – Học viện chính trị
Tài liệu tham khảo
- Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011.
- Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Văn phòng Trung ương Đảng, Hà Nội, 2016.
- Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2026, Tập I.
- Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2026, Tập II.
- Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011, tập 15.
- V.I.Lênin, Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội 2006, tập 43.


