Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng đã xác định yêu cầu phát triển đất nước nhanh, bền vững với những mục tiêu, yêu cầu rất rõ. Đào tạo nguồn nhân lực khoa học, công nghệ giữ vai trò then chốt, có ý nghĩa quyết định nâng cao năng xuất lao động, chất lượng tăng trưởng và năng lực cạnh tranh quốc gia. Bài viết làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn của đào tạo khoa học, công nghệ theo tinh thần Đại hội XIV; phân tích thực trạng đào tạo nguồn nhân lực khoa học, công nghệ ở Việt Nam hiện nay trong mối quan hệ với yêu cầu phát triển đất nước nhanh, bền vững. Từ đó, đề xuất giải pháp góp phần hiện thực hóa mục tiêu phát triển đất nước trong giai đoạn tới.
Từ khóa: Đại hội XIV; đào tạo nguồn nhân lực; khoa học, công nghệ; phát triển đất nước.

Mở đầu
Khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo ngày càng trở thành yếu tố quyết định năng lực cạnh tranh và vị thế phát triển của mỗi quốc gia. Cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, với sự bùng nổ của công nghệ số, trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn, công nghệ sinh học và vật liệu mới, đang làm thay đổi sâu sắc phương thức sản xuất, quản trị xã hội và mô hình tăng trưởng kinh tế trên phạm vi toàn cầu. Trong bối cảnh đó, các quốc gia muốn phát triển nhanh và bền vững đều phải đặt con người, đặc biệt là nguồn nhân lực khoa học và công nghệ, ở vị trí trung tâm của chiến lược phát triển.
Nghị quyết Đại hội XIV nhấn mạnh mục tiêu phát triển đất nước trong giai đoạn tới với yêu cầu rất cao: “Phấn đấu đạt tốc độ tăng trưởng tổng sản phẩm trong nước (GDP) bình quân cho giai đoạn 2026-2030 từ 10%/năm trở lên; GDP bình quân đầu người đến năm 2030 đạt khoảng 8.500 USD”. Để hiện thực hóa mục tiêu này, Đại hội khẳng định phải: “Xác lập mô hình tăng trưởng mới với mục tiêu nâng cao năng xuất, chất lượng, hiệu quả, giá trị gia tăng và sức cạnh tranh của nền kinh tế; lấy khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số làm động chính”. Quan điểm này thể hiện bước phát triển quan trọng trong tư duy phát triển của Đảng, đặt khoa học, công nghệ và con người làm nền tảng cốt lõi cho sự phát triển quốc gia.
Nhận thức sâu sắc vai trò đó, Đảng và Nhà nước ta luôn coi phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao là một trong những nhiệm vụ trọng tâm, có ý nghĩa quyết định đối với sự thành công của tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Trong những năm gần đây Đảng và Nhà nước ta đã ban hành nhiều chủ trương, chính sách quan trọng nhằm phát triển khoa học, công nghệ và đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao. Đặc biệt, Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị đã khẳng định: “Phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia là đột phá quan trọng hàng đầu, là động lực chính để phát triển nhanh lực lượng sản xuất hiện đại, hoàn thiện quan hệ sản xuất, đổi mới phương thức quản trị quốc gia, phát triển kinh tế – xã hội, ngăn chặn tụt hậu, đưa đất nước phát triển bứt phá, giàu mạnh trong kỷ nguyên mới”. Đồng thời, Nghị quyết nhấn mạnh yêu cầu phải đổi mới mạnh mẽ giáo dục và đào tạo, nhất là đào tạo nhân lực khoa học, công nghệ, đồng thời có cơ chế, chính sách đặc thù để thu hút, trọng dụng nhân tài trong và ngoài nước.
Tuy nhiên, thực tiễn cho thấy, công tác đào tạo nguồn nhân lực khoa học, công nghệ ở nước ta hiện nay vẫn còn nhiều hạn chế. Chất lượng đào tạo chưa theo kịp yêu cầu phát triển nhanh của khoa học, công nghệ; cơ cấu ngành nghề đào tạo chưa thật sự hợp lý; thiếu đội ngũ chuyên gia đầu ngành, nhà khoa học có uy tín quốc tế; tình trạng “chảy máu chất xám” vẫn diễn ra ở một số lĩnh vực then chốt. Trong khi đó, yêu cầu phát triển đất nước đặt ra những đòi hỏi ngày càng cao đối với nguồn nhân lực khoa học, công nghệ, cả về số lượng, chất lượng và năng lực đổi mới sáng tạo.
Nội dung
Thực trạng đào tạo nguồn nhân lực khoa học, công nghệ
Quy mô và cơ cấu đào tạo
Trong những năm gần đây, quy mô đào tạo đại học và sau đại học ở Việt Nam tiếp tục được mở rộng. Theo số liệu của Bộ Giáo dục và Đào tạo, năm học 2024 – 2025, cả nước có khoảng 2,12 triệu sinh viên đại học, hơn 111 nghìn học viên cao học và trên 13 nghìn nghiên cứu sinh. So với giai đoạn 2015 – 2020, quy mô đào tạo tăng khá nhanh, điều này phản ánh nhu cầu học tập và phát triển nguồn nhân lực của xã hội ngày càng lớn.
Về cơ cấu ngành đào tạo, nhóm ngành STEM (khoa học, công nghệ, kỹ thuật, toán học) đã có sự gia tăng đáng kể. Năm 2025, ước tính có khoảng 530 – 550 nghìn sinh viên theo học các ngành công nghệ then chốt, trong đó công nghệ thông tin, khoa học máy tính, tự động hóa, điện – điện tử chiếm tỷ trọng lớn. Một số ngành mới như trí tuệ nhân tạo, an ninh mạng, khoa học dữ liệu bắt đầu thu hút người học với tốc độ tăng nhanh.
Tuy nhiên, nếu so sánh với yêu cầu phát triển, cơ cấu đào tạo nhân lực khoa học, công nghệ của Việt Nam vẫn còn nhiều bất cập. Tỷ lệ sinh viên theo học các ngành STEM hiện mới đạt khoảng 28 – 30% tổng số sinh viên, thấp hơn mục tiêu 35% đặt ra trong Nghị quyết 71-NQ/TW và thấp hơn đáng kể so với các nước công nghiệp phát triển trong khu vực. Đặc biệt, quy mô đào tạo sau đại học trong các ngành khoa học cơ bản và công nghệ mũi nhọn còn hạn chế, chưa đáp ứng yêu cầu xây dựng đội ngũ nghiên cứu mạnh.
Chất lượng đào tạo và năng lực đáp ứng yêu cầu phát triển
Chất lượng đào tạo nguồn nhân lực khoa học, công nghệ là vấn đề được quan tâm đặc biệt. Theo đánh giá của Ngân hàng Thế giới (WB) và các tổ chức quốc tế, năng suất lao động của Việt Nam tuy có cải thiện nhưng vẫn ở mức thấp so với nhiều nước trong khu vực: “năng suất lao động của Việt Nam năm 2020 đạt 18,4 nghìn USD, chỉ bằng 11,3% mức năng suất của Singapore; 23% của Hàn Quốc; 24,4% của Nhật Bản; 33,1% của Malaysia; 59,1% của Thái Lan; 60,3% của Trung Quốc; 77% của Indonesia và bằng 86,5% năng suất lao động của Philippines”. Điều này phản ánh sự hạn chế về chất lượng nguồn nhân lực, trong đó có nhân lực khoa học, công nghệ.
Theo khảo sát của Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội năm 2023 cho thấy, khoảng 40% doanh nghiệp công nghệ cao gặp khó khăn trong tuyển dụng lao động có trình độ chuyên môn phù hợp; nhiều sinh viên tốt nghiệp các ngành kỹ thuật, công nghệ còn thiếu kỹ năng thực hành, tư duy sáng tạo và khả năng làm việc trong môi trường công nghệ hiện đại. Khoảng cách giữa đào tạo trong nhà trường và yêu cầu thực tiễn của doanh nghiệp vẫn còn rất lớn.
Trong lĩnh vực nghiên cứu khoa học, theo số liệu của Bộ Khoa học và Công nghệ, số lượng công bố khoa học quốc tế của Việt Nam tăng nhanh trong giai đoạn 2016 -2023, nhưng chất lượng và tác động khoa học chưa thật sự tương xứng. Số nhà khoa học có công trình nghiên cứu được trích dẫn cao, có ảnh hưởng quốc tế chưa nhiều; đội ngũ chuyên gia đầu ngành trong các lĩnh vực công nghệ lõi như bán dẫn, công nghệ sinh học, vật liệu mới, trí tuệ nhân tạo vẫn còn thiếu nghiêm trọng.
Thực trạng trên cho thấy công tác đào tạo nguồn nhân lực khoa học, công nghệ đang đối mặt với những khó khăn thách thức không nhỏ.
– Đầu tư cho đào tạo và nghiên cứu khoa học, công nghệ còn phân tán, chưa tập trung đủ mạnh cho các lĩnh vực then chốt. Nhiều cơ sở đào tạo đại học chưa có điều kiện về đội ngũ giảng viên, phòng thí nghiệm và môi trường nghiên cứu để đào tạo nhân lực khoa học, công nghệ trình độ cao.
– Cơ chế chính sách thu hút và đãi ngộ nhân tài chưa đủ sức cạnh tranh trong bối cảnh toàn cầu hóa. Tình trạng “chảy máu chất xám” vẫn diễn ra, đặc biệt là đối với các nhà khoa học trẻ được đào tạo ở nước ngoài. Theo một số ước tính, tỷ lệ nghiên cứu sinh sau khi tốt nghiệp ở nước ngoài quay về làm việc lâu dài tại Việt Nam còn thấp, nhất là trong các lĩnh vực công nghệ cao.
– Liên kết giữa đào tạo – nghiên cứu – doanh nghiệp chưa chặt chẽ. Nhiều chương trình đào tạo còn nặng về lý thuyết, chậm cập nhật công nghệ mới; doanh nghiệp chưa tham gia sâu vào quá trình xây dựng chương trình và đào tạo nhân lực. Điều này làm giảm khả năng thích ứng của sinh viên khi tham gia thị trường lao động.
Có thể nói, đào tạo nguồn nhân lực khoa học, công nghệ ở Việt Nam đã đạt được những kết quả quan trọng về quy mô và đang chuyển dịch theo hướng tích cực. Tuy nhiên, so với yêu cầu phát triển đất theo mục tiêu Đại hội XIV đề ra, thì nguồn nhân lực khoa học, công nghệ hiện nay vẫn chưa đáp ứng đầy đủ cả về số lượng, chất lượng và cơ cấu.
Giải pháp đào tạo nguồn nhân lực khoa học, công nghệ đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước theo tinh thần Đại hội lần thứ XIV của Đảng
Một là, đổi mới căn bản tư duy và cách tiếp cận trong đào tạo nguồn nhân lực khoa học, công nghệ
Quan điểm nhất quán, xuyên suốt của Đảng là lấy con người là trung tâm, chủ thể và động lực của phát triển; do đó, đào tạo nhân lực khoa học, công nghệ phải được đặt trong tổng thể chiến lược phát triển đất nước, gắn chặt với mục tiêu nâng cao năng suất lao động và năng lực cạnh tranh quốc gia. Theo đó, trong bối cảnh hiện nay, giải pháp có ý nghĩa nền tảng trong đào tạo nguồn nhân lực khoa học, công nghệ là đổi mới căn bản tư duy phát triển nguồn nhân lực, chuyển từ tiếp cận theo số lượng sang tiếp cận theo chất lượng, hiệu quả và năng lực sáng tạo. Điều này được thể hiện trong quan điểm chỉ đạo của Đảng về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo: “Đột phá phát triển giáo dục và đào tạo bắt đầu từ đổi mới tư duy, nhận thức và thể chế”; “Chuyển mạnh quá trình giáo dục từ chủ yếu trang bị kiến thức sang phát triển toàn diện năng lực, thể lực và phẩm chất người học, chuẩn hoá chất lượng và kiểm soát chặt chẽ đầu ra”.
Theo tinh thần Nghị quyết 57-NQ/TW, đào tạo nhân lực khoa học, công nghệ
không chỉ nhằm cung cấp lao động kỹ thuật cho thị trường, mà quan trọng hơn là hình thành đội ngũ sáng tạo tri thức, làm chủ và phát triển công nghệ. Điều này đòi hỏi phải chuyển mạnh từ mô hình đào tạo nặng về truyền thụ kiến thức sang mô hình đào tạo phát triển năng lực, tư duy phản biện, tư duy đổi mới sáng tạo và khả năng học tập suốt đời. Nhất là, trong bối cảnh công nghệ thay đổi nhanh chóng như hiện nay thì việc đào tạo nhân lực khoa học, công nghệ cần được xem là quá trình liên tục, linh hoạt, không giới hạn trong khuôn khổ đào tạo chính quy truyền thống.
Hai là, đổi mới mạnh mẽ nội dung, chương trình và phương thức đào tạo
Một trong những giải pháp then chốt là đổi mới toàn diện nội dung, chương trình và phương thức đào tạo nhân lực khoa học, công nghệ theo hướng hiện đại, hội nhập và gắn với thực tiễn phát triển.
– Cần tái cấu trúc chương trình đào tạo theo hướng tăng cường nền tảng khoa học cơ bản, đồng thời cập nhật nhanh các công nghệ mới, đặc biệt trong các lĩnh vực then chốt như trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn, bán dẫn, công nghệ sinh học, vật liệu mới, năng lượng tái tạo. Nghị quyết 71-NQ/TW đã đặt mục tiêu đến năm 2030 tỷ lệ sinh viên theo học các ngành khoa học cơ bản, kỹ thuật và công nghệ đạt tối thiểu 35%. Coi trọng các môn học cơ bản, nền tảng: “Ưu tiên phát triển một số ngành công nghiệp, công nghệ chiến lược, trọng tâm là chip bán dẫm, trí tuệ nhân tạo”. Vì vậy, cần có chính sách điều tiết mạnh mẽ để ưu tiên phát triển các ngành này.
– Cần đổi mới phương pháp đào tạo theo hướng lấy người học làm trung tâm, tăng cường học “thực chiến” qua dự án, nghiên cứu khoa học, thực hành trong phòng thí nghiệm và doanh nghiệp. Việc tích hợp các công cụ số, trí tuệ nhân tạo vào giảng dạy và học tập sẽ góp phần nâng cao hiệu quả đào tạo, giúp người học tiếp cận nhanh hơn với tri thức và công nghệ hiện đại.
– Cần phát triển mạnh đào tạo sau đại học, đặc biệt là đào tạo tiến sĩ trong các lĩnh vực khoa học, công nghệ then chốt, mũi nhọn. Đây là khâu cơ bản để hình thành đội ngũ nghiên cứu mạnh, tạo nền tảng cho đổi mới sáng tạo quốc gia. Việc mở rộng đào tạo sau đại học phải đi đôi với nâng cao chất lượng, chuẩn hóa theo thông lệ quốc tế và gắn với các nhóm nghiên cứu mạnh.
Ba là, phát triển đội ngũ giảng viên, nhà khoa học và chuyên gia công nghệ trình độ cao ngang tầm khu vực và thế giới
Chất lượng đào tạo nhân lực khoa học, công nghệ phụ thuộc quyết định vào đội ngũ giảng viên, nhà khoa học và chuyên gia công nghệ. Vì vậy, phát triển đội ngũ này là giải pháp mang tính đột phá và lâu dài. Một mặt, cần có chiến lược đào tạo, bồi dưỡng giảng viên trẻ theo hướng chuẩn hóa trình độ, tăng cường đào tạo tiến sĩ ở nước ngoài tại các cơ sở uy tín, đồng thời tạo điều kiện để giảng viên tham gia nghiên cứu khoa học, hợp tác quốc tế và chuyển giao công nghệ. Mặt khác, cần đổi mới cơ chế sử dụng và đãi ngộ, bảo đảm giảng viên, nhà khoa học có thu nhập, môi trường làm việc và cơ hội phát triển nghề nghiệp tương xứng với đóng góp. Nghị quyết 57-NQ/TW nhấn mạnh yêu cầu ban hành cơ chế, chính sách đặc thù để thu hút và trọng dụng nhân tài, bao gồm cả người Việt Nam ở nước ngoài và chuyên gia quốc tế. Việc thu hút “các nhà khoa học đầu ngành, tổng công trình sư” tham gia đào tạo, nghiên cứu và dẫn dắt các chương trình khoa học, công nghệ trọng điểm sẽ góp phần nâng cao nhanh chất lượng nguồn nhân lực trong nước.
Bốn là, gắn chặt đào tạo với nghiên cứu khoa học, doanh nghiệp và thị trường lao động
Một hạn chế lớn hiện nay là sự tách rời giữa đào tạo – nghiên cứu – sản xuất – kinh doanh. Theo đó, trong thời gian tới cần tăng cường gắn kết chặt chẽ giữa các khâu này.
Phát triển mô hình đại học nghiên cứu, trong đó đào tạo gắn chặt với nghiên cứu khoa học và đổi mới sáng tạo. Sinh viên, đặc biệt là học viên cao học và nghiên cứu sinh, cần được tham gia trực tiếp vào các đề tài nghiên cứu, dự án công nghệ và hoạt động đổi mới sáng tạo ngay trong quá trình đào tạo.
Tăng cường liên kết giữa cơ sở đào tạo và doanh nghiệp, thông qua các chương trình đào tạo theo đơn đặt hàng, thực tập dài hạn, đồng hướng dẫn luận văn, luận án và chuyển giao công nghệ. Doanh nghiệp cần tham gia sâu hơn vào xây dựng chương trình đào tạo, đánh giá năng lực người học và hỗ trợ cơ sở vật chất đào tạo.
Hình thành và phát triển các trung tâm đổi mới sáng tạo, khu công nghệ cao, vườn ươm công nghệ gắn với các trường đại học và viện nghiên cứu, tạo môi trường thuận lợi để đào tạo nhân lực khoa học, công nghệ gắn với thực tiễn sản xuất và khởi nghiệp sáng tạo.
Năm là, hoàn thiện thể chế, chính sách và tăng cường đầu tư cho đào tạo nhân lực khoa học, công nghệ
Tiếp tục đẩy mạnh tự chủ đại học, đặc biệt là tự chủ về học thuật, tổ chức và tài chính, đi đôi với nâng cao trách nhiệm giải trình. Tự chủ là điều kiện quan trọng để các cơ sở đào tạo chủ động đổi mới chương trình, thu hút nhân lực chất lượng cao và huy động nguồn lực xã hội cho đào tạo.
Tăng cường đầu tư trọng điểm, có chọn lọc cho đào tạo nhân lực khoa học, công nghệ, tập trung vào các ngành, lĩnh vực then chốt và các cơ sở đào tạo có tiềm năng phát triển thành trung tâm xuất sắc. Đầu tư cần gắn với kết quả đầu ra và hiệu quả sử dụng nguồn lực, tránh dàn trải, hình thức.
Hoàn thiện các chính sách học bổng, tín dụng ưu đãi và hỗ trợ tài chính để thu hút học sinh, sinh viên giỏi theo học các ngành khoa học, công nghệ, đặc biệt ở bậc sau đại học. Đây là yếu tố quan trọng để bảo đảm nguồn tuyển chất lượng cao cho đào tạo nhân lực khoa học, công nghệ trong dài hạn.
Kết luận
Phát triển nguồn nhân lực khoa học, công nghệ có ý nghĩa chiến lược, mang tính quyết định để đất nước phát triển nhanh và bền vững. Đại hội lần thứ XIV của Đảng đã xác định rõ mục tiêu, yêu cầu phát triển đất nước giai đoạn 2026-2030. Theo đó, đào tạo nguồn nhân lực khoa học, công nghệ không chỉ là nhiệm vụ của ngành giáo dục và đào tạo, mà là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị và xã hội nhằm xây dựng, phát triển đội ngũ nhân lực khoa học, công nghệ có đủ trình độ, năng lực làm chủ, sáng tạo và phát triển khoa học, công nghệ, chuyển đổi số tạo nền tảng vững chắc cho việc hiện thực hóa khát vọng phát triển đất nước theo tinh thần Đại hội XIV của Đảng.
Hoàng Thái Hậu – Trường Cao đẳng Sơn La.
Tài liệu tham khảo
- Đảng Cộng sản Việt Nam: Nghị quyết Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng, Hà Nội, 2026, tr5.
- Đảng Cộng sản Việt Nam: Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành trung ương Đảng khoá XIII tại Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng, Hà Nội, 2026, tr24.
- Ban Chấp hành Trung ương: Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ và chuyển đổi số quốc gia.
- Bộ Giáo dục và Đào tạo (2024): Báo cáo tổng kết năm học 2023-2024 và phương hướng, nhiệm vụ năm học 2024-2025, Hà Nội.
- Bộ Giáo dục và Đào tạo (2025): Báo cáo chuyên đề về đào tạo nhân lực STEMphục vụ phát triển kinh tế số, Hà Nội.
- https://laodong.vn/cong-doan/nang-suat-lao-dong-cua-viet-nam-van-rat-thap-trong-khu-vuc-1344168.ldo
- Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội (2023), Báo cáo thị trường lao động Việt Nam, Hà Nội.
- Bộ Khoa học và Công nghệ (2023), Sách trắng Khoa học, Công nghệ và Đổi mới sáng tạo Việt Nam, Nxb Khoa học và Kỹ thuật, Hà Nội.
- Ban Chấp hành Trung ương: Nghị quyết số 71-NQ/TW ngày 22/8/2025 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo.
- Đảng Cộng sản Việt Nam: Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành trung ương Đảng khoá XIII tại Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng, Hà Nội, 2026, tr29.
- Đảng Cộng sản Việt Nam: Nghị quyết Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng, Hà Nội, 2026.


