Thứ Bảy, Tháng 5 30, 2026
* Email: bbt.dongnama@gmail.com *Tòa soạn: 0989011688 - 0768908888
spot_img
[gtranslate]

Tăng trưởng “hai con số” – lằn ranh giữa tụt hậu và bứt phá

Thiếu tá, ThS. Nguyễn Quang Bốn - Học viện Chính trị, Bộ Quốc phòng

ĐNA -

Trong bối cảnh cạnh tranh phát triển ngày càng khốc liệt, tăng trưởng “hai con số” không đơn thuần là một mục tiêu, mà là ranh giới mang tính bước ngoặt giữa nguy cơ tụt hậu và cơ hội bứt phá của Việt Nam. Hơn bốn thập kỷ Đổi mới đã tích lũy đủ thế và lực, mở ra thời cơ thuận lợi để đất nước vươn tới những bước tiến mang tính đột phá. Tuy nhiên, không ít ý kiến hoài nghi, thậm chí xuyên tạc, cho rằng đây là “ảo tưởng”, “duy ý chí”. Vậy mục tiêu tăng trưởng cao có thực sự phi thực tế? Hay đó là yêu cầu khách quan để vượt bẫy thu nhập trung bình và nâng tầm vị thế quốc gia? Bài viết tập trung luận giải cơ sở lý luận, thực tiễn và nhận diện rõ bản chất các luận điệu sai trái, qua đó khẳng định tăng trưởng cao là con đường tất yếu để hiện thực hóa khát vọng phát triển đất nước.

Từ khóa: Hai con số, tăng trưởng, khát vọng, bứt phá…

Việt Nam hoàn toàn có đủ điều kiện để hướng tới những mục tiêu tăng trưởng cao hơn trong những giai đoạn phù hợp. Tăng trưởng “hai con số”, vì thế, không chỉ là khả năng có thể đạt tới, mà còn là bước đi tất yếu để rút ngắn khoảng cách phát triển, nâng cao vị thế quốc gia và hiện thực hóa khát vọng xây dựng đất nước phồn vinh, hạnh phúc trong kỷ nguyên mới…

Khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hùng cường đến giữa thế kỷ XXI đã được xác lập rõ trong các văn kiện Đại hội của Đảng, với mục tiêu đến năm 2030 Việt Nam trở thành nước đang phát triển có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao và đến năm 2045 trở thành nước phát triển, thu nhập cao. Để hiện thực hóa mục tiêu chiến lược đó, yêu cầu đặt ra không chỉ là duy trì đà tăng trưởng, mà phải tạo được bước nhảy vọt về chất và lượng, trong đó tăng trưởng kinh tế ở mức cao, thậm chí hướng tới “hai con số” trong những giai đoạn nhất định, là một lựa chọn mang tính tất yếu.

Thực tiễn qua 40 năm Đổi mới cho thấy, dù đạt được nhiều thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử, Việt Nam vẫn đang đứng trước những thách thức không nhỏ: nguy cơ tụt hậu, sức ép cạnh tranh ngày càng gay gắt, đặc biệt là nguy cơ rơi vào “bẫy thu nhập trung bình” khi giai đoạn dân số vàng đang dần khép lại. Trong bối cảnh đó, việc đặt ra mục tiêu tăng trưởng cao không phải là sự nóng vội, mà là biểu hiện của tư duy phát triển chủ động, thể hiện quyết tâm chính trị nhằm tận dụng thời cơ, tạo xung lực mới để đất nước bứt phá.

Tăng trưởng cao – quy luật phổ biến của các quốc gia bứt phá

Nhiều lý thuyết kinh tế phát triển trên thế giới như: “cú huých lớn” của Paul Rosenstein-Rodan, đều chỉ ra rằng, một quốc gia muốn thoát khỏi tình trạng trì trệ, vượt qua bẫy thu nhập trung bình và vươn lên quỹ đạo phát triển cao hơn, không thể chỉ dựa vào những cải thiện cục bộ, tuần tự và phân tán, mà nhất thiết phải tạo ra những bước phát triển mang tính đột phá, đủ mạnh để làm thay đổi căn bản cấu trúc và động lực tăng trưởng của nền kinh tế.

Thực tiễn quốc tế cũng đã cung cấp những minh chứng hết sức rõ ràng. Hàn Quốc trong giai đoạn 1960 – 1990 duy trì tốc độ tăng trưởng GDP bình quân khoảng 8 -9%/năm; riêng giai đoạn 1965 – 1980, nhiều năm tăng trưởng đạt trên 10%. Từ một quốc gia có thu nhập bình quân đầu người dưới 100 USD vào đầu thập niên 1960, Hàn Quốc đã vươn lên trở thành nền kinh tế công nghiệp hóa với GDP bình quân đầu người hơn 30.000 USD vào năm 2022. Tương tự, Đài Loan trong giai đoạn 1965 – 1985 đạt mức tăng trưởng bình quân khoảng 9 -10%/năm, dựa trên chiến lược công nghiệp hóa hướng xuất khẩu và phát triển công nghệ cao. Singapore  – một nền kinh tế hầu như không có tài nguyên thiên nhiên – cũng ghi nhận tốc độ tăng trưởng bình quân khoảng 8 – 10%/năm trong giai đoạn 1965 – 1990, qua đó nhanh chóng tích lũy vốn, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực và trở thành trung tâm tài chính – thương mại hàng đầu thế giới. Đặc biệt, Trung Quốc sau cải cách mở cửa năm 1978 đã duy trì tốc độ tăng trưởng GDP bình quân khoảng 9,5 – 10%/năm trong hơn 30 năm (1978 – 2010), với nhiều năm đạt trên 10%, tạo nên một trong những kỳ tích tăng trưởng lớn nhất trong lịch sử kinh tế hiện đại.

Từ những dẫn chứng đó có thể khẳng định: tăng trưởng cao không phải là mục tiêu mang tính duy ý chí, mà là yêu cầu khách quan, là quy luật phổ biến  đối với các nền kinh tế đang phát triển khi bước vào giai đoạn cất cánh. Vấn đề cốt lõi không phải là hoài nghi hay phủ nhận tăng trưởng cao, mà là nhận thức đúng quy luật, lựa chọn mô hình, cách thức, biện pháp, phù hợp, tổ chức thực hiện hiệu quả và bảo đảm chất lượng, tính bền vững của quá trình tăng trưởng.

Việt Nam có nền tảng vững chắc và dư địa rộng mở để bứt phá

Trong tiến trình phát triển, việc Việt Nam xác định mục tiêu tăng trưởng cao, hướng tới mức hai con số trong những giai đoạn nhất định, không phải là sự lựa chọn mang tính cảm tính hay duy ý chí, mà là kết quả của nhận thức đúng đắn về quy luật phát triển, đồng thời xuất phát từ chính những điều kiện thực tiễn và tiềm năng nội tại của đất nước. Trong bối cảnh cửa sổ cơ hội không kéo dài trước áp lực già hóa dân số, nguy cơ rơi vào bẫy thu nhập trung bình và sự tái cấu trúc sâu sắc của kinh tế toàn cầu, tăng trưởng cao không chỉ là yêu cầu phát triển, mà còn là mệnh lệnh của thời đại.

Quan điểm đó đã được khẳng định nhất quán trong đường lối của Đảng, khi tăng trưởng “hai con số” được xác định không đơn thuần là một chỉ tiêu kinh tế, mà là lựa chọn chiến lược có ý nghĩa lịch sử, gắn với mục tiêu xác lập mô hình tăng trưởng mới, dựa trên khoa học – công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, bảo đảm phát triển nhanh đi đôi với bền vững, bao trùm và tự chủ. Điều này đồng thời bác bỏ một cách có cơ sở khoa học những quan điểm phiến diện, xuyên tạc cho rằng Việt Nam theo đuổi tăng trưởng bằng mọi giá.

Thực tiễn qua 40 năm đổi mới là minh chứng sinh động cho năng lực và bản lĩnh phát triển của nền kinh tế Việt Nam. Từ một nền kinh tế nghèo nàn, lạc hậu, Việt Nam đã vươn lên trở thành một trong những quốc gia có tốc độ tăng trưởng cao và ổn định trong khu vực, với quy mô kinh tế không ngừng mở rộng, cơ cấu chuyển dịch tích cực, đời sống nhân dân được cải thiện rõ rệt. Đặc biệt, trong những thời điểm khó khăn, nhất là sau đại dịch Covid-19, nền kinh tế vẫn duy trì được đà phục hồi mạnh mẽ, GDP quý 4/2025 tăng trưởng 8,46%, Việt Nam đã ghi nhận mức tăng trưởng GDP thực tế 2025 cao nhất (ngoại trừ năm 2022 khi vừa kết thúc giãn cách Covid-19) kể từ giai đoạn hậu khủng hoảng tài chính thế giới 2008 – 2009, đồng thời đạt mục tiêu đề ra cả năm là 8%. Quy mô GDP năm 2025 ước đạt 514 tỷ USD, tăng 5 bậc, đưa Việt Nam vươn lên vị trí thứ 32 thế giới và được Trung tâm Nghiên cứu Kinh tế và Kinh doanh (CEBR) dự báo sẽ vượt Thái Lan và Singapore vào năm 2035. Điều đó thể hiện khả năng thích ứng, sức chống chịu và tính linh hoạt ngày càng cao – những yếu tố nền tảng để hướng tới các mục tiêu tăng trưởng cao hơn trong giai đoạn tới.

Không chỉ có nền tảng thực tiễn, Việt Nam còn đang hội tụ đầy đủ các điều kiện và động lực để bứt phá. Đó là quyết tâm chính trị rất cao của toàn hệ thống, thể hiện qua khẳng định của Tổng Bí thư Tô Lâm trong buổi chủ trì làm việc với Ban Chính sách, chiến lược Trung ương và các cơ quan liên quan để định hướng hoàn thiện Nghị quyết của Trung ương về các giải pháp chiến lược thúc đẩy tăng trưởng kinh tế “2 con số” gắn với xác lập mô hình tăng trưởng mới: “Phải xác định đúng tầm nhìn xây dựng nghị quyết, đặt vấn đề ở tầm lịch sử và tư duy phát triển. Nghị quyết này phải là bản thiết kế tổng thể cho mô hình tăng trưởng kinh tế hai con số ở Việt Nam đến năm 2045. Đây là quyết tâm chiến lược, là lựa chọn có tính lịch sử nhằm hiện thực hóa khát vọng phát triển đất nước, nhưng sự tăng trưởng đó phải đảm bảo ổn định, có chất lượng, bao trùm, xanh và tự chủ”; bên cạnh đó là hệ thống thể chế, chính sách đang từng bước được hoàn thiện theo hướng kiến tạo, khơi thông và phân bổ hiệu quả các nguồn lực; là việc hình thành các trụ cột phát triển mới dựa trên khoa học – công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và kinh tế tư nhân. Đồng thời, yêu cầu huy động tổng vốn đầu tư toàn xã hội ở mức khoảng 40% GDP cho thấy quy mô và quyết tâm chuẩn bị nguồn lực cho tăng trưởng cao đã được tính toán một cách bài bản.

Dĩ nhiên, tăng trưởng “hai con số” là mục tiêu đầy thách thức, đòi hỏi phải giải quyết đồng thời nhiều bài toán lớn về thể chế, nguồn lực, hạ tầng, nhân lực và năng suất. Nhưng cần khẳng định rằng, những khó khăn, thách thức đó không làm suy giảm tính khả thi của mục tiêu, mà ngược lại, càng cho thấy rõ hơn yêu cầu phải đổi mới mạnh mẽ và hành động quyết liệt. Vấn đề không phải là hoài nghi, mà là phải có quyết tâm chính trị cao, tổ chức thực hiện hiệu quả, chuyển hóa ý chí thành hành động cụ thể. “Đổi mới mạnh mẽ, thực chất khâu tổ chức thực hiện, chuyển từ đúng về chủ trương sang đúng về hiệu quả trong hành động, đề cao trách nhiệm người đứng đầu, quản lý theo kết quả đầu ra, khắc phục tình trạng trì trệ, né tránh, sợ trách nhiệm. Đây là yếu tố quyết định biến mục tiêu tăng trưởng “hai con số” từ ý chí chính trị thành kết quả của thực tiễn”.

Với nền tảng đã được tích lũy, với những động lực đang được khơi thông và với khát vọng phát triển mạnh mẽ của toàn dân tộc, có đủ cơ sở để khẳng định: Việt Nam không chỉ có tiềm năng, mà hoàn toàn có khả năng hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng cao, bứt phá vươn lên trong kỷ nguyên phát triển mới.

“Hai con số là ảo tưởng” – một cách nhìn thiển cận

Luận điệu cho rằng mục tiêu tăng trưởng “hai con số” của Việt Nam là “phi thực tế”, “ảo tưởng” thực chất không phải là một nhận định khoa học trung tính, mà là sản phẩm của một lối tư duy tĩnh tại, phiến diện, thậm chí nhuốm màu định kiến và hoài nghi cực đoan. Ẩn sau cách lập luận tưởng như thận trọng đó là sự thiếu hiểu biết về quy luật vận động của nền kinh tế trong điều kiện chuyển đổi, đồng thời cũng không loại trừ động cơ phủ nhận con đường phát triển mà Việt Nam đã lựa chọn. Bởi lẽ, một nền kinh tế đang trong quá trình tái cấu trúc mạnh mẽ, tích lũy động lực mới và hội nhập sâu rộng thì không thể bị đánh giá bằng những khuôn mẫu cũ kỹ, giản đơn.

Trước hết, cần chỉ rõ tính ngụy biện trong việc cố tình đồng nhất tăng trưởng cao với tăng trưởng nóng, thiếu bền vững. Đây là một dạng đánh tráo khái niệm quen thuộc: lấy những biểu hiện tiêu cực của một giai đoạn phát triển trước đây hoặc của một số quốc gia khác để áp đặt cơ học lên bối cảnh hoàn toàn khác của Việt Nam hiện nay. Thực tế cho thấy, nền kinh tế Việt Nam đang chuyển dịch căn bản từ mô hình tăng trưởng theo chiều rộng sang chiều sâu, trong đó động lực chủ yếu không còn là khai thác tài nguyên hay lao động giá rẻ, mà là năng suất, khoa học – công nghệ, đổi mới sáng tạo và kinh tế số. Khi các yếu tố này trở thành lực đẩy chính, thì tăng trưởng cao không còn đồng nghĩa với “nóng” hay “bong bóng”, mà trái lại, phản ánh một trình độ phát triển cao hơn, nơi nội lực được khơi thông và phát huy hiệu quả. Việc cố tình phớt lờ sự chuyển đổi mang tính bước ngoặt này không chỉ là thiếu cập nhật thực tiễn, mà còn bộc lộ rõ sự lạc hậu trong tư duy.

Không dừng lại ở đó, các quan điểm hoài nghi còn bộc lộ sự phi lịch sử khi xem nhẹ, thậm chí phủ nhận vai trò quyết định của cải cách thể chế và đột phá chính sách. Nhìn lại tiến trình phát triển của Việt Nam có thể thấy rõ một quy luật nhất quán: mỗi giai đoạn tăng trưởng bứt phá đều gắn liền với những đổi mới mạnh mẽ về thể chế. Từ công cuộc Đổi mới năm 1986 mở ra không gian phát triển hoàn toàn mới, đến các bước tiến trong hội nhập kinh tế quốc tế, cải thiện môi trường đầu tư, phát triển kinh tế tư nhân… tất cả đều tạo ra những “cú huých” quan trọng cho tăng trưởng. Hiện nay, quá trình hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, thúc đẩy chuyển đổi số, cải cách hành chính và nâng cao chất lượng quản trị quốc gia đang tiếp tục tạo ra những dư địa phát triển rất lớn. Chính những yếu tố này mới là biến số quyết định khả năng tăng trưởng trong giai đoạn tới. Do đó, việc phủ nhận mục tiêu tăng trưởng cao thực chất là bỏ qua một trong những động lực cốt lõi nhất của kinh tế phát triển, thể hiện cách nhìn giản lược, thiếu chiều sâu.

Đáng chú ý hơn, cần nhận diện rõ bản chất của một số luận điệu không đơn thuần dừng lại ở tranh luận học thuật, mà đã chuyển hóa thành công cụ gieo rắc hoài nghi và làm suy giảm niềm tin xã hội. Những quan điểm này thường có điểm chung là khuếch đại khó khăn, thổi phồng rủi ro, trong khi lại cố tình phủ nhận hoặc xem nhẹ những thành tựu và tiềm năng đã được kiểm chứng bằng thực tiễn. Bằng cách đó, chúng tạo ra một bức tranh méo mó về nền kinh tế, từ đó nuôi dưỡng tâm lý bi quan, dao động trong xã hội. Đây không phải là sự phản biện mang tính xây dựng, mà là một dạng nhiễu loạn nhận thức, gián tiếp cản trở việc triển khai các chủ trương, chính sách lớn. Vì vậy, cần phân biệt rạch ròi giữa hoài nghi khoa học – vốn là cần thiết để hoàn thiện chính sách – với việc xuyên tạc, phủ nhận vô căn cứ. Nếu hoài nghi khoa học dựa trên bằng chứng và hướng tới sự tiến bộ, thì những luận điệu xuyên tạc lại xuất phát từ thái độ thiếu trách nhiệm, thậm chí mang động cơ chính trị không lành mạnh, xuyên tạc chống phá quan điểm, đường lối của Đảng ta.

Tăng trưởng “hai con số” – yêu cầu khách quan và mệnh lệnh phát triển của thời đại, trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc

Trước hết, cần nhìn nhận thẳng thắn rằng, nếu chỉ duy trì tốc độ tăng trưởng ở mức trung bình, Việt Nam rất dễ rơi vào trạng thái ổn định trong tụt hậu, “bẫy thu nhập trung bình”. Khoảng cách phát triển với các quốc gia đi trước không những không được thu hẹp mà còn có nguy cơ bị nới rộng, khi các nước khác cũng không ngừng bứt phá. Thực tiễn quốc tế cho thấy, không có quốc gia nào vươn lên nhóm phát triển cao mà không trải qua những giai đoạn tăng trưởng nhanh và liên tục. Chính những cú tăng tốc đó mới tạo ra sự thay đổi về chất, giúp nền kinh tế vượt qua ngưỡng thu nhập trung bình, nâng cao năng lực cạnh tranh và vị thế quốc gia. Vì vậy, đặt mục tiêu tăng trưởng hai con số chính là biểu hiện của tư duy phát triển chủ động, không chấp nhận sự trì trệ, không bằng lòng với vị trí hiện tại.

Không chỉ dừng lại ở yêu cầu nội tại, áp lực từ môi trường quốc tế cũng đang đặt ra những đòi hỏi ngày càng khắt khe. Trong bối cảnh toàn cầu hóa sâu rộng và cuộc cách mạng công nghiệp mới diễn ra mạnh mẽ, tốc độ phát triển đã trở thành một dạng tài nguyên chiến lược. Quốc gia nào nắm bắt cơ hội nhanh hơn, cải cách mạnh mẽ hơn, đổi mới quyết liệt hơn thì sẽ chiếm ưu thế trong thu hút đầu tư, tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu và gia tăng sức cạnh tranh tổng thể. Ngược lại, sự chậm trễ, do dự hay tư duy an toàn sẽ khiến cơ hội trôi qua rất nhanh và khó có thể lấy lại. Ở góc độ này, tăng trưởng cao không còn là một lựa chọn tùy nghi, mà trở thành điều kiện để tồn tại và phát triển trong một thế giới cạnh tranh khốc liệt. Báo cáo kinh tế vĩ mô năm 2025 cũng chỉ rõ, việc tăng trưởng 2 chữ số vừa là mục tiêu vừa là nhu cầu cấp thiết để tận dụng giai đoạn dân số vàng đang trên đà thoái trào. Việt Nam chính thức bước vào thời kỳ cơ cấu dân số vàng từ năm 2007 và được dự báo duy trì tới năm 2035. Trong giai đoạn này, dân số trong độ tuổi lao động (15 – 64 tuổi) được dự báo duy trì ở mức cao (6,9% năm 2035), tạo điều kiện thuận lợi cho tăng trưởng kinh tế. Đến năm 2036, Việt Nam được dự báo bước ra khỏi giai đoạn dân số vàng và chuyển sang giai đoạn già hóa nhanh. Vì vậy, để có thể vươn mình lên hàng ngũ các nước phát triển, Việt Nam cần phải phải tận dụng giai đoạn dân số vàng còn lại để tăng tốc tăng trưởng, giống như Trung Quốc (2010 – 2024), Hàn Quốc (1988 – 2002) hay Singapore (1980 – 1994) đã thực hiện.

Quan trọng hơn, mục tiêu tăng trưởng “hai con số” còn gắn liền với khát vọng phát triển đất nước theo hướng phồn vinh, hạnh phúc. Tăng trưởng kinh tế, xét đến cùng, không phải là những con số khô khan, mà là nguồn lực vật chất để nâng cao đời sống nhân dân, mở rộng cơ hội tiếp cận giáo dục, y tế, việc làm, đồng thời củng cố tiềm lực quốc phòng – an ninh và vị thế quốc gia trên trường quốc tế. Nếu không có tăng trưởng đủ nhanh và đủ mạnh, những mục tiêu lớn lao đó sẽ thiếu đi nền tảng vật chất để hiện thực hóa. Vì vậy, “hai con số” không chỉ mang ý nghĩa kinh tế thuần túy, mà còn là biểu tượng của một tầm nhìn chiến lược, một khát vọng phát triển toàn diện và lâu dài.

Tuy nhiên, điều cốt lõi làm nên tính đúng đắn trong quan điểm phát triển không nằm ở việc đặt mục tiêu cao, mà ở cách thức đạt được mục tiêu đó. Ở đây, sự khác biệt, thể hiện tư duy đổi mới, sáng tạo trong đường lối của Đảng ta là không chạy theo tăng trưởng bằng mọi giá, mà kiên định nguyên tắc tăng trưởng phải đi đôi với phát triển bền vững. Điều này thể hiện ở việc lấy nâng cao chất lượng, hiệu quả và năng suất làm trung tâm; coi khoa học – công nghệ, đổi mới sáng tạo là động lực chủ yếu, “Xác định các động lực tăng trưởng mới và lấy khoa học công nghệ là trọng tâm để thay thế, thúc đẩy, làm mới các động lực tăng trưởng truyền thống”; đồng thời “Đổi mới tư duy và đẩy mạnh cơ cấu lại toàn bộ nền kinh tế, thúc đẩy tăng trưởng trên cơ sở bảo đảm ổn định kinh tế vĩ mô và các cân đối lớn của nền kinh tế”.

Bên cạnh đó, yêu cầu phát triển kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn, bảo vệ môi trường và ứng phó với biến đổi khí hậu được đặt ngang tầm với mục tiêu tăng trưởng, nhằm bảo đảm sự phát triển lâu dài, hài hòa giữa con người và tự nhiên. Đặc biệt, tăng trưởng cao trong quan điểm phát triển của Việt Nam luôn gắn liền với tiến bộ và công bằng xã hội, như trong Văn kiện Đại hội XIV của Đảng đã xác định “Xác định nhất quán tăng trưởng kinh tế phải luôn gắn liền với tiến bộ và công bằng xã hội. Tăng trưởng kinh tế gắn với giải quyết các vấn đề xã hội, tập trung giải quyết các vấn đề xã hội bức xúc trong từng thời kỳ phát triển của đất nước để mọi người dân đều được hưởng thụ thành quả của phát triển và công bằng xã hội”. Đây không chỉ là một mục tiêu, mà còn là nguyên tắc xuyên suốt, bảo đảm rằng thành quả tăng trưởng được phân bổ một cách hợp lý, mọi người dân đều có cơ hội thụ hưởng, không ai bị bỏ lại phía sau. Chính sự kết hợp giữa tốc độ tăng trưởng và tính nhân văn này đã tạo nên bản sắc riêng, đồng thời khẳng định tính ưu việt của mô hình phát triển mà Việt Nam đang theo đuổi.

Từ những phân tích trên có thể thấy, luận điệu cho rằng mục tiêu tăng trưởng “hai con số” là “ảo tưởng” thực chất là sự phản ánh của tư duy bảo thủ, thiếu cập nhật với những chuyển biến nhanh chóng của thực tiễn, thậm chí không loại trừ những động cơ xuyên tạc nhằm làm suy giảm niềm tin phát triển. Trái lại, với những nền tảng đã được tích lũy qua nhiều năm đổi mới, với các động lực tăng trưởng mới đang hình thành rõ nét và với quyết tâm chính trị mạnh mẽ, Việt Nam hoàn toàn có cơ sở để hướng tới những mục tiêu cao hơn. Và chính thực tiễn phát triển sinh động của đất nước trong thời gian qua đang cung cấp câu trả lời thuyết phục: niềm tin vào khả năng bứt phá không phải là sự lạc quan mơ hồ, mà là kết luận có cơ sở từ thực tiễn, là động lực để hành động, là tiền đề để kiến tạo tương lai.

Củng cố niềm tin, chuyển hóa thành hành động – hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng cao

Trong bối cảnh đó, trước các luận điệu xuyên tạc, phủ nhận, điều quan trọng trước hết là giữ vững niềm tin chiến lược vào đường lối phát triển đã được thực tiễn kiểm nghiệm. Tuy nhiên, niềm tin đúng đắn không thể dừng lại ở nhận thức, mà phải được cụ thể hóa bằng hành động quyết liệt, đồng bộ và hiệu quả: tiếp tục hoàn thiện thể chế, nâng cao chất lượng quản trị quốc gia, khơi thông các nguồn lực, phát huy mạnh mẽ vai trò của khoa học – công nghệ, đổi mới sáng tạo và sức mạnh của toàn xã hội. Chỉ khi niềm tin được chuyển hóa thành hành động, mục tiêu tăng trưởng cao mới trở thành hiện thực sinh động.

Cũng cần nhìn nhận thẳng thắn rằng, rào cản lớn nhất đối với phát triển không nằm ở mục tiêu cao, mà nằm ở tư duy bảo thủ, tâm lý an toàn và sự do dự trong hành động. Lịch sử phát triển của dân tộc đã nhiều lần chứng minh: mỗi khi đất nước đứng trước những yêu cầu mang tính bước ngoặt, chính khát vọng vươn lên, ý chí tự cường và tinh thần dám nghĩ, dám làm đã tạo nên những bước chuyển có tính đột phá. Với nền tảng đã được tích lũy qua bốn thập niên đổi mới, với những động lực tăng trưởng mới đang hình thành rõ nét và với quyết tâm chính trị ngày càng mạnh mẽ, Việt Nam hoàn toàn có đủ điều kiện để hướng tới những mục tiêu tăng trưởng cao hơn trong những giai đoạn phù hợp. Tăng trưởng “hai con số”, vì thế, không chỉ là khả năng có thể đạt tới, mà còn là bước đi tất yếu để rút ngắn khoảng cách phát triển, nâng cao vị thế quốc gia và hiện thực hóa khát vọng xây dựng đất nước phồn vinh, hạnh phúc trong kỷ nguyên mới, như Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính đã khẳng định “với kinh nghiệm đúc kết từ 40 năm đổi mới, với khát vọng và quan điểm Đảng lãnh đạo, Chính phủ thống nhất, Quốc hội đồng tình, Nhân dân ủng hộ, Tổ quốc mong đợi, bạn bè quốc tế giúp đỡ, thì chỉ bàn làm, không bàn lùi, làm việc nào ra việc đấy, làm việc nào dứt việc đó, chúng ta tin tưởng kinh tế Việt Nam tiếp tục có nhiều khởi sắc, đạt tốc độ tăng trưởng “hai con số” trong kỷ nguyên mới”.

Thiếu tá, ThS. Nguyễn Quang Bốn – Học viện Chính trị, Bộ Quốc phòng

Tài liệu tham khảo

  1. Cục Thống kê – Bộ Tài chính (2026), Báo cáo tình hình kinh tế – xã hội quý IV và năm 2025, Hà Nội.
  2. Đảng Cộng sản Việt Nam (2026), Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, Nxb. Chính trị quốc gia sự thật, Hà Nội, tập I, II.
  3. Tô Lâm (2025), “Khát vọng vươn mình trong kỷ nguyên mới”, Báo điện tử Chính phủ, ngày 31/12/2024.
  4. Tô Lâm (2025), “Nước Việt Nam là một, dân tộc Việt Nam là một”, Tạp chí Cộng sản điện tử, ngày 27/04/2025
  5. C. Mác và Ph. Ăngghen,Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia,Hà Nội, tập 1, 1995.
  6. V.I.Lênin, Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2006, tập 6.
  7. Hồ Chí Minh, Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia sự thật, Hà Nội, 2011, tập 7, 15.
  8. https://vov.vn/xa-hoi/nam-2035-dan-so-viet-nam-vao-giai-doan-gia-174839.vov
  9. https://countryeconomy.com/gdp/south-korea?year=1990&utm_source