Thứ Hai, Tháng 6 1, 2026
* Email: bbt.dongnama@gmail.com *Tòa soạn: 0989011688 - 0768908888
spot_img
[gtranslate]

Nâng cao vị thế hội nhập quốc tế thích ứng với biến đổi của kinh tế toàn cầu hiện nay



ĐNA -

Bước vào thập niên thứ ba của thế kỷ XXI, thế giới đang trải qua những biến động sâu sắc dưới tác động của Cách mạng công nghiệp 4.0, sự phát triển mạnh mẽ của AI và các chuyển dịch địa chính trị, địa kinh tế phức tạp. Bối cảnh này đòi hỏi Việt Nam chuyển từ tư duy “hội nhập để phát triển” sang “hội nhập để kiến tạo”, đồng thời nhận diện các điểm nghẽn trong mô hình hội nhập hiện nay và đề xuất giải pháp đột phá về thể chế, hạ tầng, công nghệ, đáp ứng yêu cầu của Nghị quyết Đại hội XIV và Nghị quyết số 59-NQ/TW về hội nhập quốc tế trong giai đoạn mới.

Nâng cao vị thế hội nhập quốc tế thích ứng với biến đổi của kinh tế toàn cầu hiện nay.

Địa kinh tế, địa chính trị toàn cầu và tiến trình tái cấu trúc chuỗi giá trị
Quá trình hội nhập quốc tế của Việt Nam trong giai đoạn 2026-2030 không diễn ra trong một môi trường quốc tế tuyến tính, mà đặt trong một hệ sinh thái toàn cầu được đặc trưng bởi trạng thái “đa khủng hoảng” và sự chuyển dịch cấu trúc quyền lực sâu sắc đặt ra yêu cầu về việc nhận diện các rủi ro hệ thống.

Cục diện đa cực và sự phân tán địa kinh tế toàn cầu.
Hệ thống quan hệ quốc tế đương đại đang chuyển từ cục diện “nhất siêu, đa cường” thời kỳ hậu Chiến tranh Lạnh sang một trật tự “đa cực, đa trung tâm, đa tầng nấc”. Sự thay đổi tương quan sức mạnh kinh tế giữa các cường quốc, đặc biệt là sự trỗi dậy của các nền kinh tế mới nổi tại châu Á dẫn đến những phản ứng chính sách quyết liệt từ các quốc gia phương Tây. Các chính sách bảo hộ thương mại, sự trỗi dậy của chủ nghĩa dân tộc cực đoan, chủ nghĩa dân túy và chủ nghĩa cường quyền áp đặt ngày càng gia tăng, làm suy yếu nền tảng của thương mại tự do toàn cầu. Bên cạnh đó, những xung đột vũ trang tại nhiều khu vực địa chính trị trọng yếu như là tại Đông Âu (Ukraine),Trung Đông không chỉ làm suy giảm đà tăng trưởng kinh tế toàn cầu mà còn gây ra sự đứt gãy nghiêm trọng đối với các chuỗi cung ứng truyền thống, đẩy giá cả hàng hóa, đặc biệt là năng lượng và lương thực, vào trạng thái biến động khó lường.

Xu hướng “friend-shoring” và sự dịch chuyển dòng vốn đầu tư
Xu hướng chiến lược “friend-shoring” là sự chuyển dịch chuỗi cung ứng sang các quốc gia đồng minh kinh tế, chính trị hoặc thân thiện do Hoa Kỳ và các nền kinh tế đồng minh khởi xướng. Chiến lược này đánh dấu sự chuyển dịch căn bản của triết lý truyền thống về thương mại toàn cầu từ tối ưu hóa hiệu quả chi phí sang ưu tiên tuyệt đối mức độ an toàn, bảo mật và độ tin cậy và mức độ kháng chịu của chuỗi cung ứng.

Trong bối cảnh căng thẳng thương mại và công nghệ, Việt Nam với lợi thế về vị trí địa chính trị, sự ổn định vĩ mô và mạng lưới FTA rộng khắp, đang dần trở thành mắt xích trọng yếu trong chiến lược đa dạng hóa chuỗi cung ứng toàn cầu, hay còn gọi là chiến lược “Trung Quốc + 1”, đồng thời trở thành một trung tâm sản xuất thay thế (Alt-Asia) đầy tiềm năng. Điều này được minh chứng qua việc dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) có mức tăng trưởng ấn tượng. Tổng vốn FDI đăng ký vào Việt Nam năm 2025 đạt 38,42 tỷ USD.  Hiện tượng này vừa taọ ra cơ hội vừa là thách thức bởi nếu các doanh nghiệp nội địa không nhanh chóng nâng cao năng lực hấp thụ công nghệ để đáp ứng được các tiêu chuẩn khắt khe về chuyển đổi xanh, truy xuất nguồn gốc và minh bạch quản trị, họ có thể chỉ vĩnh viễn đóng vai trò gia công lắp ráp giá trị thấp. Từ đó dẫn đến sự lệ thuộc ngược cố hữu vào nguồn cung cấp nguyên vật liệu và thiết kế R&D từ bên ngoài, khiến suy yếu khả năng chủ động hội nhập của nền kinh tế.

Rào cản kỹ thuật xanh và các thách thức an ninh phi truyền thống
Hội nhập kinh tế trong thập niên hiện tại gắn liền chặt chẽ với các tiêu chuẩn phát triển bền vững và ứng phó với biến đổi khí hậu. Tại các thị trường là những đối tác thương mại dẫn đầu trên thế giới như Liên minh Châu Âu (EU) và Hoa Kỳ, chính quyền liên tục ban hành và áp dụng các rào cản kỹ thuật nghiêm ngặt cho hàng hóa nhập khẩu từ các quốc gia, trong đó có Việt Nam (cơ chế điều chỉnh biên giới carbon (CBAM), quy định chống phá rừng (EUDR), các tiêu chuẩn khắt khe về chống khai thác thủy sản bất hợp pháp, không báo cáo và không theo quy định (IUU), …).  Đây không đơn thuần là bài toán thương mại của doanh nghiệp, mà còn là vấn đề uy tín quốc gia, tác động trực tiếp đến sự sinh tồn của các ngành xuất khẩu chủ lực của Việt Nam.

Ngoài ra, các thách thức an ninh phi truyền thống như biến đổi khí hậu, nước biển dâng, thiên tai dị thường đang diễn ra với tần suất cao và cường độ tàn phá khốc liệt cùng với sự bùng nổ của tội phạm công nghệ cao đang làm phức tạp thêm bài toán bảo vệ chủ quyền số, an ninh dữ liệu và an ninh kinh tế trong bối cảnh quốc gia ngày càng số hóa và mở cửa.

Sự phát triển tư duy chiến lược của Đảng về “độc lập tự chủ và “chủ động hội nhập quốc tế”
“Độc lập, tự chủ” trong thời đại toàn cầu hóa không đồng nghĩa với chủ nghĩa biệt lập, khép kín hay tự cung tự cấp. Đảng ta đã đúc kết và khẳng định rằng, “độc lập tự chủ” chính là khả năng tự quyết định đường lối chiến lược, chính sách phát triển của quốc gia vì lợi ích tối cao của dân tộc, đồng thời cũng là khả năng không để bị lệ thuộc, thao túng hoặc chi phối bởi các sức mạnh chính trị, kinh tế bên ngoài. Chủ động hội nhập quốc tế chính là phương thức, là công cụ chiến lược để hấp thụ các luồng vốn đầu tư, công nghệ lõi, và kỹ năng quản trị tiên tiến từ bên ngoài, từ đó bồi đắp, gia tăng sức mạnh nội sinh. Mối quan hệ này phản ánh một quy luật khách quan, đó là tự chủ chiến lược càng cao thì càng tạo thế chủ động cho hội nhập hiệu quả và không bị chệch hướng. Ngược lại, hội nhập càng chủ động theo hướng sâu rộng thì năng lực tự chủ càng phải được củng cố bằng các hàng rào phòng vệ thể chế, kinh tế và quốc phòng an ninh vững chắc.

Nhằm cụ thể hóa đường lối đối ngoại của Đảng trong giai đoạn phát triển mới, Bộ Chính trị đã ban hành Nghị quyết số 59-NQ/TW ngày 24/01/2025 về hội nhập quốc tế trong tình hình mới. Đây là Nghị quyết đóng vai trò là “kim chỉ nam” toàn diện cho kinh tế đối ngoại của đất nước. Điểm nhấn mạnh tính đột phá của Nghị quyết là lần đầu tiên tách biệt và nhấn mạnh hội nhập quốc tế về “khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo” như một trụ cột độc lập, có tầm quan trọng tương đương với các trụ cột kinh tế, chính trị, quốc phòng an ninh và văn hóa – xã hội. Nghị quyết cũng khẳng định mục tiêu không chỉ là tham gia tuân thủ các luật chơi quốc tế mà Việt Nam đã sẵn sàng “đóng góp, tham gia xây dựng, định hình và đóng vai trò nòng cốt, dẫn dắt, hòa giải” trong các vấn đề khu vực và quốc tế (đặc biệt là tại các cơ chế đa phương như ASEAN và Liên hợp quốc). Đây chính là phương thức biến áp lực hội nhập thành sự chủ động cho cả nền kinh tế.

Năng lực kinh tế và mức độ hội nhập của Việt Nam (giai đoạn 2021-2025)
Thành tựu vĩ mô, khả năng chống chịu và chất lượng tăng trưởng.
Bất chấp những biến động dị thường và các cú sốc liên tiếp của kinh tế toàn cầu, năng lực quản trị vĩ mô của Đảng và Nhà nước đã chứng minh được tính hiệu quả và linh hoạt vượt trội. Nền kinh tế đã nhanh chóng chuyển đổi trạng thái để khống chế dịch bệnh, phục hồi sản xuất và duy trì đà tăng trưởng thuộc nhóm cao nhất thế giới.

Năng suất lao động năm 2025 ước đạt 245,0 triệu đồng/lao động (khoảng 9.809 USD/lao động, tăng 626 USD so với năm 2024) tăng 6,83% do trình độ của người lao động được cải thiện. Sự đóng góp của năng suất nhân tố tổng hợp (TFP) vào tăng trưởng kinh tế giai đoạn 2021-2024 đạt trên 37,5%, và đạt 45,5% năm 2024 minh chứng cho vai trò ngày càng tăng của đổi mới công nghệ và kỹ năng quản trị . Cơ cấu kinh tế chuyển dịch đúng hướng hiện đại hóa, với tỉ trọng khu vực công nghiệp và dịch vụ trong GDP tăng lên mức 80,4% vào năm 2025, khu vực nông nghiệp giảm xuống còn 11,6% nhưng vẫn giữ vững vai trò là “trụ đỡ” vững chắc, đảm bảo an ninh lương thực và xuất khẩu. Các hệ số tín nhiệm quốc gia của Việt Nam liên tục được nâng hạng, duy trì ở mức “ổn định” (Moody’s, Fitch, S&P Global), điều này củng cố niềm tin của các nhà đầu tư quốc tế.

Độ mở của nền kinh tế Việt Nam tiếp tục được mở rộng thông qua việc khai thác có hiệu quả mạng lưới 17 FTA đang thực thi. Các nỗ lực nâng cấp chuỗi giá trị và “xanh hóa” sản xuất bước đầu đem lại kết quả. Cụ thể, cuối năm 2025, Việt Nam có 7 mặt hàng công nghiệp chế biến đạt kim ngạch xuất khẩu trên 15 tỷ USD. Xuất khẩu nông sản của Việt Nam đứng thứ 15 thế giới, với hơn 200 thị trường đối tác, trong đó, nhiều mặt hàng chủ lực đạt kim ngạch trên 1 tỷ USD .

Trong lĩnh vực khởi nghiệp, Việt Nam cũng đã đạt vị trí thứ 55/100 toàn cầu, con số cho thấy tiềm năng to lớn của kinh tế số và đổi mới công nghệ.

Trong lĩnh vực cơ sở hạ tầng logistics, các chỉ số cũng được cải thiện, đưa chỉ số hoạt động logistics (LPI) của Việt Nam lên vị trí thứ 43 toàn cầu.

“Điểm nghẽn” về thể chế và nguy cơ tụt hậu. Ngoài việc thẳng thắn nhìn nhận hạn chế về cấu trúc thương mại, tại Đại hội XIV, Đảng đã xác định những hạn chế, yếu kém nội tại đang kìm hãm khát vọng phát triển bứt phá của dân tộc như:

Thứ nhất, là sự tắc nghẽn của thể chế phát triển: sau 40 năm đổi mới, mặc dù Việt Nam đã thực hiện nhiều cải cách, nhưng việc hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa còn chậm. Trong công tác quản lý nhà nước, hiện tượng phân công, phối hợp và phân cấp, phân quyền giữa các cơ quan quản lý chưa thực sự đồng bộ còn kéo dài. Một số luật, chính sách và thủ tục hành chính còn mâu thuẫn, chồng chéo, gây lãng phí thời gian, nguồn lực của các thực thể kinh tế. Từ khi bước vào cuộc CMCN 4.0, thể chế thể hiện nhiều lúc chưa theo kịp yêu cầu phát triển của các mô hình kinh tế mới với những thay đổi nhanh chóng, vượt bậc của khoa học công nghệ, dẫn đến tạo thành “điểm nghẽn của điểm nghẽn”.

Thứ hai, là những khó khăn trong đổi mới mô hình tăng trưởng: năng suất, chất lượng sản phẩm và sức cạnh tranh của các thực thể kinh tế cũng như cạnh tranh quốc gia vẫn chưa tạo được bứt phá và đạt được đến mức tiềm năng. Tốc độ tăng năng suất lao động có xu hướng tăng trưởng tích cực từ 4,71% (năm 2021) lên 4,80% (năm 2022), năm 2023 rơi xuống mức thấp nhất trong cả giai đoạn, chỉ đạt 3,65%, năm 2024 phục hồi mạnh mẽ lên 5,88%, năm 2025 tốc độ tăng trưởng NSLĐ thực tế (giá so sánh) lên mức cao nhất ước đạt 6,83%. Nếu so với các quốc gia trong khu vực ASEAN, Việt Nam đứng thứ 5 dưới các nước Singapore, Malaysia, Thái Lan, Indonesia, nhưng khoảng cách với nước đứng đầu là 9 lần . Hệ số sử dụng vốn (ICOR) còn ở mức cao ước khoảng 6,4 % năm 2025 , cho thấy hiệu quả đầu tư chưa thực sự tối ưu. Khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo chưa hoàn toàn trở thành động lực chính dẫn dắt công nghiệp hóa.

Thứ ba, là sự tồn đọng nguồn lực và rủi ro môi trường. Việc xử lý một số dự án tồn đọng kéo dài, doanh nghiệp nhà nước thua lỗ và các tổ chức tín dụng yếu kém dù có tiến triển nhưng vẫn đòi hỏi nỗ lực lớn để khơi thông toàn bộ nguồn lực. Nguy cơ tụt hậu về công nghệ và rơi vào “bẫy thu nhập trung bình” là một áp lực hiển hiện nếu không có những quyết sách đột phá kịp thời.

Định hướng giải pháp chủ động hội nhập quốc tế giữ vững vị thế “độc lập, tự chủ” hiện nay
Giải pháp đột phá về tinh gọn bộ máy và kiến tạo phát triển.
Thể chế được Đảng ta nhìn nhận không chỉ là khung khổ quản lý mà chính là nguồn lực, là lợi thế cạnh tranh quốc gia vì vậy, cải cách thể chế được xác định là “đột phá của đột phá”:

Tinh gọn hệ thống chính trị mang tính lịch sử: trong nửa cuối nhiệm kỳ khóa XIII, Đảng đã tiến hành “cuộc cách mạng” về tổ chức bộ máy, thực hiện Nghị quyết 18-NQ/TW với quy mô và tốc độ chưa từng có (giảm 34,9% đầu mối trực thuộc trung ương; giảm 46% đơn vị hành chính cấp tỉnh và 66,9% cấp xã, lần đầu tiên kể từ năm 1945, Việt Nam tiến hành vận hành hệ thống chính quyền địa phương 2 cấp (trung ương – tỉnh – xã). Điều này giúp loại bỏ các tầng nấc trung gian, giảm đáng kể chi phí tuân thủ, tăng cường tính linh hoạt và khả năng phản ứng nhanh của bộ máy hành chính trước các biến động toàn cầu.

Siết chặt kỷ luật và làm trong sạch đội ngũ nhằm xây dựng môi trường đầu tư minh bạch, thu hút các nhà đầu tư chiến lược quốc tế: công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí được triển khai quyết liệt “không có vùng cấm, không có ngoại lệ”. Trong năm 2025, cấp ủy, ủy ban kiểm tra các cấp đã thi hành kỷ luật hơn 330 tổ chức đảng và 9.600 đảng viên. Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Ủy ban Kiểm tra Trung ương đã kỷ luật 23 cán bộ diện trung ương quản lý; trong đó có 06 trường hợp bị xử lý hình sự thể hiện sự nghiêm minh của Đảng .

Chuyển đổi tư duy lập pháp và hành chính: thay đổi phương thức quản lý nhà nước từ “tiền kiểm” sang “hậu kiểm” gắn với các quy chuẩn, tiêu chuẩn; đơn giản hóa tối đa thủ tục hành chính, ban hành cơ chế bảo vệ cán bộ năng động, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm vì lợi ích chung; khắc phục tình trạng sợ trách nhiệm, đùn đẩy công việc.

Phát triển các mô hình không gian kinh tế đột phá và hạ tầng chiến lược. Để có các “cực tăng trưởng” mạnh mẽ, tạo sức hút đối với các luồng vốn FDI thế hệ mới và lan tỏa giá trị, nâng cao vị thế chuỗi giá trị gia tăng của toàn nền kinh tế, các mô hình không gian kinh tế mới được ưu tiên quy hoạch và phát triển nh

Một là, xây dựng các mô hình khu kinh đặc biệt: hoàn thiện cơ chế, tiêu chí thành lập và phát triển các loại khu kinh tế (đặc khu công nghệ và khu thương mại tự do) mang sức cạnh tranh quốc tế, tạo thành các “sandbox” thử nghiệm thể chế kiểm soát rủi ro, vừa an toàn cho hệ thống, vừa đáp ứng nhu cầu của các nhà đầu tư lớn.

Hai là, thành lập các trung tâm tài chính quốc tế: xây dựng cơ chế vượt trội kết nối trực tiếp dòng vốn nội địa với dòng chảy tài chính toàn cầu, vận hành hiệu quả Cổng đầu tư một cửa quốc gia để thu hút, xúc tiến và giải quyết các thủ tục đầu tư một cách đồng bộ.

Ba là, Hạ tầng giao thông và logistics bứt phá: triển khai quyết liệt Đề án xây dựng tuyến đường sắt tốc độ cao trên trục Bắc – Nam, mạng lưới đường sắt đô thị (tại Hà Nội, TP.HCM), và hệ thống các cảng biển cửa ngõ quốc tế quy mô lớn (Lạch Huyện, Cái Mép – Thị Vải, Liên Chiểu, Cần Giờ). Đồng bộ với đó là phát triển các trung tâm logistics quy mô lớn đạt chuẩn quốc tế, phát triển đội tàu vận tải biển quốc gia nhằm giành lợi thế trung chuyển cho hàng hóa từ các quốc gia, đặc biệt là trong khu vực.

Nâng cấp năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp nội địa. Từ Đại hội XII, Đảng ta đã luôn khẳng định, nguồn lực trong nước là quyết định, nguồn lực bên ngoài là quan trọng với những đột phá trong quan điểm là: (1). Coi kinh tế tư nhân là động lực lan tỏa, là “một động lực quan trọng nhất của nền kinh tế quốc gia” với mục tiêu 2 triệu doanh nghiệp hoạt động sản xuất kinh doanh vào năm 2030; (2). Hình thành các tập đoàn “sếu đầu đàn” với chính sách ưu đãi, hỗ trợ để tạo điều kiện xây dựng quy mô lớn, có năng lực công nghệ và quản trị vươn tầm quốc tế, đóng vai trò dẫn dắt chuỗi giá trị trong nước. Ban hành cơ chế giao hoặc đặt hàng khu vực tư nhân tham gia vào các dự án quan trọng quốc gia, phát triển công nghiệp quốc phòng, an ninh. (3). Nâng cao năng lực doanh nghiệp vừa và nhỏ (SMEs): triển khai hiệu quả Chương trình phát triển 1.000 doanh nghiệp tiêu biểu, tiên phong trong đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và chuyển đổi xanh. Xây dựng cơ chế tăng cường kết nối và chuyển giao công nghệ thực các doanh nghiệp FDI và doanh nghiệp nội địa.

Đổi mới toàn diện phương thức ngoại giao và hội nhập. Công tác ngoại giao cần phải đóng vai trò tiên phong trong việc tạo lập môi trường hòa bình, thu hút nguồn lực bên ngoài và nâng cao hơn nữa vị thế đất nước. Do đó công tác ngoại giao cần nhấn mạnh ba khía cạnh: (1). Phát huy sức mạnh ba trụ cột: hoàn thiện văn bản pháp lý điều chỉnh hoạt động đồng bộ của đối ngoại Đảng, ngoại giao Nhà nước và đối ngoại nhân dân; (2). Đa dạng hóa các mặt trận ngoại giao: chuyển dịch trọng tâm sang ngoại giao kinh tế (thực chất, hiệu quả), ngoại giao công nghệ, ngoại giao văn hóa và đặc biệt là thúc đẩy ngoại giao số. (3). Nâng tầm vị thế đa phương: không chỉ tuân thủ luật chơi, Việt Nam hướng tới việc chủ động tham gia định hình các thể chế, luật chơi mới tại các cơ chế đa phương như ASEAN, Liên hợp quốc, và các diễn đàn khu vực.

Trong bối cảnh thế giới biến động nhanh, phức tạp và khó lường, chủ động, tích cực hội nhập quốc tế toàn diện và sâu rộng, với trọng tâm là hội nhập kinh tế, khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo, sẽ tiếp tục là động lực quan trọng để Việt Nam tiếp cận các nguồn lực phát triển, hấp thụ tri thức tiên tiến, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia và mở rộng không gian phát triển. Đây không chỉ là yêu cầu khách quan của quá trình phát triển mà còn là con đường hiệu quả để đẩy nhanh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước trong giai đoạn mới.

Mục tiêu đưa Việt Nam bước vào quỹ đạo tăng trưởng nhanh và bền vững, hướng tới mức tăng trưởng hai con số trong những năm tới, đòi hỏi sự đổi mới mạnh mẽ về tư duy phát triển, mô hình tăng trưởng và phương thức quản trị quốc gia. Điều đó cần được thực hiện trên nền tảng phát huy tối đa nội lực, đồng thời tận dụng hiệu quả các cơ hội do hội nhập quốc tế mang lại; kết hợp chặt chẽ giữa độc lập, tự chủ với chủ động và tích cực hội nhập quốc tế.

Với nền tảng chính trị – xã hội ổn định, những thành tựu phát triển đã đạt được, cùng quyết tâm thực hiện phương châm “Đoàn kết – Dân chủ – Kỷ cương – Đột phá – Phát triển”, Việt Nam có đầy đủ cơ sở để vượt qua các thách thức, nâng cao vị thế trong chuỗi giá trị toàn cầu, tránh nguy cơ rơi vào bẫy thu nhập trung bình và hiện thực hóa khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc vào giữa thế kỷ XXI. /.

TS. Bùi Nghĩa/Học viện Chính trị khu vực II

Tài liệu tham khảo
1.Asian Productivity Organization. (2023). APO productivity databook 2023.
2.Bộ Tài chính. (2021–2024). Bản tin nợ công (Các bản tin định kỳ số 13, 14, 15…). Cổng Thông tin điện tử Bộ Tài chính.
3.Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. (2023). Báo cáo đánh giá giữa nhiệm kỳ thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội 5 năm 2021 – 2025.
4.Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. (2026). Nghị quyết số 86/NQ-CP.
5.Cục Thống kê. (2025). Báo cáo tình hình kinh tế – xã hội quý IV và năm 2025.
6.Cục Thống kê. (2026). Ngành công nghiệp chế biến, chế tạo thu hút mạnh mẽ nhất dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài năm 2025.
7.Đảng Cộng sản Việt Nam. (2026). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV (Tập 1, 2). Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật.
8.Nguyễn Nhiều Lộc. (2025). Ứng xử với “Friend-shoring”. Vietstock – Investing.com.
9.Phạm Văn Hùng, và cộng sự. (2025). Đầu tư công với mục tiêu tăng trưởng kinh tế giai đoạn 2026-2030 tại Việt Nam. Đại học Kinh tế quốc dân.
10.Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. (2024). Nghị quyết số 158/2024/QH15 ngày 12/11/2024 về Kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội năm 2025.
11.Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. (2025). Nghị quyết số 192/2025/QH15 về việc điều chỉnh, bổ sung Kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội năm 2025.
12.Thu Hà, & Hiền Hòa. (2025). [Tên bài viết cần bổ sung]. Cổng thông tin điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam.
13.Tổng cục Hải quan. (2021–2024). Số liệu thống kê sơ bộ tình hình xuất khẩu, nhập khẩu hàng hóa của Việt Nam. Bộ Tài chính.
14.Tổng cục Thống kê. (2021–2024). Báo cáo tình hình kinh tế – xã hội quý IV và năm. Bộ Kế hoạch và Đầu tư.
15.Tổng cục Thống kê. (2024). Niên giám thống kê Việt Nam 2023. Nhà xuất bản Thống kê.
16.World Bank Group. (2024). World Bank country and lending groups (Bảng phân loại mức thu nhập quốc gia theo GNI bình quân đầu người cập nhật năm tài chính 2024-2025).