Thứ Ba, Tháng 6 2, 2026
* Email: bbt.dongnama@gmail.com *Tòa soạn: 0989011688 - 0768908888
spot_img
[gtranslate]

“Dân Thụ Hưởng” – Từ Phương Châm Hành Động Đến Thước Đo Bản Chất Chế Độ Tại Đại Hội XIV

Tô Hiến Thà – Học viện Kỹ thuật quân sự
NCS Bùi Duy Hùng – Học viện Chính trị/Bộ Quốc phòng



ĐNA -

Bài viết phân tích bước chuyển tư duy biện chứng của Đảng từ việc xác định “Dân thụ hưởng” là phương châm hành động ở Đại hội XIII sang thước đo bản chất chế độ tại Đại hội XIV. Theo đó, quyền thụ hưởng của Nhân dân trở thành minh chứng cho tính chính đáng của quyền lực và động lực nội sinh thúc đẩy lịch sử trong kỷ nguyên mới. Dựa trên số liệu thực tiễn về chỉ số hạnh phúc và thành tựu an sinh, bài viết khẳng định tính ưu việt của chủ nghĩa xã hội, đập tan các luận điệu xuyên tạc. Đồng thời, bài viết đề xuất bốn nhóm giải pháp đồng bộ về thực hành dân chủ, tinh gọn bộ máy và cải cách hành chính nhằm hiện thực hóa mục tiêu tối thượng vì hạnh phúc của Nhân dân.

Từ khóa: dân thụ hưởng, chủ nghĩa xã hội, dân là gốc.

Việc chuyển hóa phạm trù “Dân thụ hưởng” từ phương châm hành động thành thước đo khách quan đánh giá bản chất chế độ tại Đại hội XIV là một bước tiến vĩ đại, minh chứng cho sự chín muồi trong tư duy khoa học và năng lực cầm quyền của Đảng Cộng sản Việt Nam…

“Dân thụ hưởng” – Thước đo bản chất chế độ theo tinh thần Đại hội XIV của Đảng

Trải qua hàng ngàn năm lịch sử dựng nước và giữ nước, tư tưởng lấy “dân làm gốc” đã trở thành một trong những truyền thống quý báu của dân tộc ta. Truyền thống đó vẫn đang được kế tục và phát triển trong thời đại Hồ Chí Minh. Đại hội XIII của Đảng đã phát hiện và bổ sung cụm từ “dân thụ hưởng” vào phương châm hành động “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát” để trở thành “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”. Tiếp tục nâng cao quan điểm “dân là gốc” và phát triển lý luận “dân thụ hưởng”, Đại hội XIV của Đảng đã khẳng định: “Quán triệt sâu sắc quan điểm “Dân là gốc”, Nhân dân là chủ thể, là trung tâm của công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc;…lấy việc tôn trọng, bảo đảm, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, hạnh phúc và sự hài lòng của Nhân dân làm thước đo và mục tiêu phấn đấu”(1).

Khác với Đại hội XIII khi đặt “thụ hưởng” ở vị trí hệ quả tất yếu, là mắt xích cuối cùng kết thúc một quy trình của cơ chế thực hành dân chủ cơ sở, Đại hội XIV đã thực hiện một bước đột phá từ việc đưa phương châm “Dân thụ hưởng” thành thước đo, tiêu chí cho sự phát triển. Luận điểm này khẳng định rằng, sự tôn trọng, bảo đảm, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, cùng với chỉ số hạnh phúc và sự hài lòng của Nhân dân chính là tiêu chuẩn khách quan để kiểm định ngược trở lại tính chính đáng, năng lực kiến tạo phát triển của Đảng, đồng thời là thước đo chân thực nhất phản ánh bản chất ưu việt của chế độ xã hội chủ nghĩa. Trong đó, người dân không còn là khách thể thụ động nhận sự phân phối thành quả phát triển, mà vị thế chủ thể, vị trí trung tâm của Nhân dân được định vị một cách tuyệt đối thông qua việc lấy chất lượng sống làm gốc. Nếu cốt lõi của chủ nghĩa tư bản là mưu cầu giá trị thặng dư dựa trên thước đo lợi nhuận và tăng trưởng kinh tế thuần túy, thì bản chất nhân văn của chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc được định tính hóa cụ thể bằng việc đồng nhất mục tiêu phát triển quốc gia với sự giải phóng và hoàn thiện con người. Sự thụ hưởng của Nhân dân tại Đại hội XIV không còn giới hạn ở lợi ích vật chất đơn thuần, mà đã phát triển toàn diện thành quyền an ninh con người, tự do tư tưởng và tiếp cận các giá trị tiến bộ văn hóa, xã hội. Do đó, việc chuyển hóa “Dân thụ hưởng” từ một phương châm hành động mang tính định hướng quy trình ở Đại hội XIII thành công cụ đo lường định lượng hiệu năng cầm quyền ở Đại hội XIV là tất yếu khách quan, biểu hiện sự chín muồi trong tư duy khoa học của Đảng, trở thành động lực nội sinh tối cao thúc đẩy toàn bộ tiến trình lịch sử của dân tộc.

Thứ nhất, sự thụ hưởng của Nhân dân là minh chứng trực tiếp cho tính chính đáng của quyền lực chính trị, là động lực nội sinh thúc đẩy tiến trình lịch sử. Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng khẳng định: “Tất cả đường lối, phương châm, chính sách… của Đảng đều chỉ nhằm nâng cao đời sống của nhân dân nói chung”(2). Bởi vậy, Người cho rằng: “Nếu nước độc lập mà dân không hưởng hạnh phúc, tự do, thì độc lập cũng chẳng có nghĩa lý gì”(3). Đại hội XIV của Đảng đã kế thừa và phát triển tư tưởng đó thành yêu cầu mang tính nguyên tắc: “Quán triệt sâu sắc quan điểm “Dân là gốc”, giữ vững và tăng cường mối quan hệ máu thịt giữa Đảng với Nhân dân, lấy hạnh phúc và sự hài lòng của Nhân dân làm thước đo hiệu quả công tác của các tổ chức đảng và cả hệ thống chính trị”(4). Luận điểm này đã phá vỡ tư duy quản lý cũ, sự thụ hưởng thực chất của Nhân dân là khởi điểm biện chứng, là nguồn năng lượng nội sinh tối cao có khả năng quy tụ khối đại đoàn kết toàn dân tộc, giải phóng triệt để sức sản xuất và kích hoạt khát vọng bứt phá của quốc gia trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc. Niềm tin chính trị của quần chúng không phải kiến tạo từ những khái niệm trừu tượng, khẩu hiệu sáo rỗng, mà được bồi đắp bằng chính sự hạnh phúc và quyền lợi hiện thực mà họ được thụ hưởng hằng ngày.

Thứ hai, cùng với việc thụ hưởng thành quả của sự phát triển, nội dung “dân thụ hưởng” theo quan điểm của Đảng còn nhằm hướng đến hiện thực hóa các quyền cơ bản của con người, thỏa mãn các lợi ích chính đáng của nhân dân, góp phần thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, đem lại giá trị cuộc sống đích thực cho nhân dân. Trong đó, điều quan trọng hàng đầu là hiện thực hóa nguyên tắc phân phối, đảm bảo “làm theo năng lực, hưởng theo lao động” và “có làm thì có hưởng”. Có thể thấy, động lực chính cho sự phát triển của con người và xã hội đó chính là việc giải quyết một cách hài hòa giữa lợi ích cá nhân, tập thể, xã hội. Mục tiêu “dân thụ hưởng” mà Đảng ta đề ra đó chính là thỏa mãn các lợi ích chính đáng của người dân, trên cơ sở đó, biến lợi ích thành động lực của sự phát triển của xã hội. Do vậy, “Việc gì có lợi cho dân, ta phải hết sức làm. Việc gì có hại đến dân, ta phải hết sức tránh”(5). “Dân thụ hưởng” theo quan điểm của Đảng chính là thể hiện sự quan tâm sâu sát, thường xuyên, liên tục đến mọi mặt đời sống của nhân dân. Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã nhấn mạnh rằng: “Nâng cao mọi mặt đời sống của Nhân dân, để Nhân dân được thụ hưởng mọi thành quả của phát triển”(6). Như vậy, thực chất của “dân thụ hưởng” chính là việc giải quyết hài hòa các vấn đề liên quan đến lợi ích của đời sống nhân dân, từ đó khơi dậy động lực thúc đẩy mọi người dân tự giác, nhiệt tình cống hiến, đóng góp công sức của mình vào xây dựng và phát triển đất nước, phát triển xã hội. Giải quyết mối quan hệ biện chứng này thể hiện nhận thức, tư duy nhạy bén trong việc hoàn thiện chủ trương, đường lối lãnh đạo của Đảng nhằm hiện thực hóa mục tiêu của chủ nghĩa xã hội.

Thứ ba, “dân thụ hưởng” theo quan điểm của Đảng còn khẳng định rằng, mọi chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước đều phải hướng tới phục vụ nhu cầu cuộc sống của nhân dân, vì nhân dân, tạo ra sự thay đổi theo hướng tích cực trong thực tiễn đời sống nhân dân. Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Đảng ta vĩ đại, vì ngoài lợi ích của giai cấp, của nhân dân, của dân tộc, Đảng ta không có lợi ích gì khác”(7). Khi chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước sát với thực tiễn, hợp với lòng dân, phản ánh đúng nhu cầu, nguyện vọng chính đáng của nhân dân, tất yếu sẽ tạo được niềm tin, sự đồng thuận, hưởng ứng từ nhân dân, trở thành phong trào sâu rộng và thực thi có hiệu quả trong cuộc sống. Thông qua đó, nhân dân sẽ cảm nhận được rằng: “Xã hội xã hội chủ nghĩa là xã hội hướng tới các giá trị tiến bộ, nhân văn, dựa trên nền tảng lợi ích chung của toàn xã hội hài hòa với lợi ích chính đáng của con người… Mọi đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật và hoạt động của Nhà nước đều vì lợi ích của nhân dân, lấy hạnh phúc của nhân dân làm mục tiêu phấn đấu”(8).

Có thể thấy rằng, “dân thụ hưởng” là sự chủ động tiếp nhận, lĩnh hội những nội dung quan điểm “dân là gốc” trong quá trình hiện thực hóa đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước trong quá trình phát triển kinh tế – xã hội cũng như trong thực tiễn cuộc sống. Nói cách khác, “dân thụ hưởng” bao hàm tất cả các quyền cơ bản mà người dân được hưởng, đó là quyền được cung cấp đầy đủ thông tin, quyền được bàn bạc, kiểm soát việc thực thi chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước nhằm hướng tới thụ hưởng những thành quả của quá trình đó mang lại, thiết thực xây dựng cuộc sống tốt đẹp, lành mạnh, ấm no, tự do, hạnh phúc. Đây là một trong những biểu hiện sinh động của sự hòa hợp ý Đảng lòng dân, góp phần gắn kết, củng cố niềm tin của nhân dân đối với Đảng, với chế độ.

Thứ tư, “dân thụ hưởng” là nói đến sự thụ hưởng của đại đa số quần chúng nhân dân lao động. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng lý giải: “Nước ta là nước dân chủ. Bao nhiêu lợi ích đều vì dân. Bao nhiêu quyền hạn đều của dân… Nói tóm lại, quyền hành và lực lượng đều ở nơi dân”(9). Đây chính là cơ sở, là mục tiêu, động lực để Đảng, Nhà nước ta không ngừng bổ sung, hoàn thiện chủ trương, đường lối, chính sách nhằm phát triển kinh tế – xã hội đất nước. “Dân thụ hưởng” thể hiện rõ quan điểm thực tiễn sinh động của Đảng trong quá trình lãnh đạo cách mạng, không chỉ hướng đến giá trị vật chất mà còn góp phần nâng cao đời sống tinh thần của nhân dân; thường xuyên quan tâm đến mọi lĩnh vực của đời sống nhân dân, đến những quyền và lợi ích chính đáng mà người dân được hưởng. Điều đặc biệt quan trọng ở chỗ, những giá trị tốt đẹp cũng như thành quả của sự phát triển mà người dân được thụ hưởng là đại đa số quần chúng nhân dân lao động, chứ không phải của một nhóm người. Từ đó, hướng đến xây dựng một xã hội Việt Nam đoàn kết, hài hòa, phát triển bền vững. Đây là điểm khác biệt, thể hiện bản chất ưu việt của chế độ xã hội mà Đảng, Nhà nước và nhân dân ta đang xây dựng và hướng tới – đó là xã hội xã hội chủ nghĩa.

Một số kết quả thực hiện “dân thụ hưởng” trong sự nghiệp xây dựng đổi mới đất nước

Phương châm “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng” nói chung, vấn đề “dân thụ hưởng” nói riêng không phải chỉ dừng lại ở lý thuyết, trong nghị quyết, trong văn kiện mà đã được triển khai thực hiện trong thực tiễn đời sống xã hội và đã đạt được nhiều kết quả rất đáng tự hào, góp phần khẳng định chủ trương, đường lối của Đảng là hoàn toàn đúng đắn, phù hợp với thực tiễn đất nước, với nguyện vọng của nhân dân.

Trong thời gian qua, sự thụ hưởng của nhân dân đã được quan tâm thực hiện một cách toàn diện cả về kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội; cả về vật chất lẫn tinh thần. Đảng và Nhà nước ta thường xuyên quan tâm và thực hiện tốt việc gắn kết chặt chẽ giữa tăng trưởng kinh tế với thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội; giữa chính sách phát triển kinh tế với chính sách phát triển xã hội. Bên cạnh đó, Đảng ta cũng coi trọng lãnh đạo việc thực hiện dân chủ trong đời sống nhân dân. Nhờ vậy, môi trường dân chủ ngày càng được mở rộng và đi vào thực chất. Mỗi người dân luôn chăm lo, tạo mọi điều kiện thuận lợi nhất để thực hiện quyền lợi, nghĩa vụ và trách nhiệm của bản thân trong các hoạt động của đời sống xã hội. Đảng ta khẳng định: “Thực sự tin tưởng, tôn trọng và phát huy quyền làm chủ của Nhân dân; kiên trì thực hiện phương châm “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”; thắt chặt mối quan hệ mật thiết giữa Đảng với Nhân dân, dựa vào Nhân dân để xây dựng Đảng và hệ thống chính trị. Lấy sự hài lòng, tín nhiệm của người dân, doanh nghiệp và hiệu quả công việc làm tiêu chí đánh giá cán bộ”(10). Nhờ đó, nhân dân thực sự trở thành người chủ của đất nước, làm chủ mọi quá trình xây dựng, bảo vệ Tổ quốc, phát triển kinh tế – xã hội, xây dựng cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc.

Cùng với đó, Đảng ta luôn quan tâm, đặt quyền lợi của nhân dân vào trung tâm của mọi chủ trương, đường lối, chính sách phát triển kinh tế – xã hội, xây dựng và phát triển đất nước, với mục đích tối thượng rằng, người dân chính là người được thụ hưởng mọi thành quả tốt đẹp đó.

Điều đó được thể hiện thông qua một loạt các minh chứng sinh động, cụ thể: “Chỉ số hạnh phúc của con người Việt Nam được đo lường theo tiêu chí của Liên hợp quốc cho thấy, chỉ số này có xu hướng tăng từ 5,061 điểm, xếp vị trí thứ 94/149 quốc gia năm 2016, lên 5,411 điểm, xếp vị trí thứ 79 năm 2021; 5,485 điểm, xếp vị trí thứ 77 năm 2022; vị trí thứ 65 năm 2023; vị trí thứ 54 năm 2024 và vị trí thứ 46 năm 2025. So với năm 2016, chỉ số hạnh phúc của con người Việt Nam tăng 48 bậc”(11). Hạnh phúc là mục tiêu mà chúng ta hướng tới, nó cũng phản ánh giá trị đích thực mà cuộc sống con người được thụ hưởng. Báo cáo Hạnh phúc thế giới là một ấn phẩm của Mạng lưới Giải pháp Phát triển bền vững (Liên hợp quốc) dựa trên số liệu được thu thập từ người dân tại hơn 150 quốc gia. Các tiêu chí được đánh giá gồm: GDP bình quân đầu người, hỗ trợ xã hội, tuổi thọ trung bình, quyền tự do lựa chọn cuộc sống, sự rộng lượng và nhận thức về tham nhũng.

Về vấn đề thực hiện mục tiêu phát triển thiên niên kỷ, Liên hợp quốc đánh giá, Việt Nam là một trong các quốc gia đã hoàn thành mục tiêu phát triển thiên niên kỷ. Theo đó, “chỉ số bình đẳng giới của Việt Nam năm 2024 xếp hạng 72/146 quốc gia”(12); “Theo Bộ Nông nghiệp và Môi trường, cả nước hiện có 1.089.151 hộ nghèo và hộ cận nghèo đa chiều, chiếm 2,95% tổng số hộ dân. Đây là kết quả rà soát năm 2025 theo chuẩn nghèo đa chiều giai đoạn 2022-2025, làm căn cứ triển khai các chính sách an sinh xã hội từ ngày 1/1/2026”(13). “Năm 2024, GDP của Việt Nam tính theo giá hiện hành ước đạt 11.511,9 nghìn tỉ đồng, tương đương 476,3 tỉ USD, dự báo đứng thứ 33 thế giới; năm 2025 ước đạt 510 tỉ USD, đứng thứ 32 thế giới và thứ 4 trong khu vực ASEAN; GDP (tính theo PPP) năm 2024 đạt khoảng 1.559 tỉ USD, xếp thứ 3 khu vực Đông Nam Á, thứ 25 thế giới; GDP bình quân đầu người theo giá hiện hành năm 2024 đạt 114 triệu đồng/người, tương đương 4.700 USD, tăng 377 USD so với năm 20231; năm 2025 đạt 5.026 USD”(14).

Qua đó có thể thấy, mặc dù Việt Nam là quốc gia đang phát triển với xuất phát điểm thấp, tuy nhiên các kết quả với những chỉ số đạt được đều tăng dần qua từng năm, đời sống của người dân ngày càng được cải thiện và đảm bảo phát triển bền vững, người dân đã thực sự được thụ hưởng những giá trị tốt đẹp. Điều đó cũng thể hiện bản chất ưu việt của chủ nghĩa xã hội và chúng ta đang hướng tới. Đây cũng là cơ sở để chúng ta tiến hành đấu tranh, phê phán, chống lại các quan điểm xuyên tạc, sai trái của các thế lực thù địch, phản động nhằm chống phá cách mạng Việt Nam. Trong thời gian qua, lợi dụng một số vấn đề hạn chế, tiêu cực trong quá trình xây dựng, phát triển đất nước, các thế lực thù địch, phản động đã cố tình xuyên tạc, rêu rao rằng “dân thụ hưởng” thực chất chỉ giành cho “quan cộng sản”, còn khẩu hiệu “dân thụ hưởng” chỉ đưa ra nhằm mục đích “ru ngủ dân”.

Âm mưu nham hiểm của chúng là nhằm phủ nhận những thành quả tốt đẹp của công cuộc đổi mới đất nước mà chúng ta đạt được dưới sự lãnh đạo của Đảng. Chúng lợi dụng sự suy thoái của một số cán bộ, đảng viên, trong đó có cả cán bộ cao cấp để quy chụp cho cả một chế độ xã hội tốt đẹp mà Đảng, Bác Hồ và nhân dân ta đã dày công xây dựng. Tuy nhiên, với sự đoàn kết, đồng lòng của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân, chúng ta đã chứng minh rằng “dân thụ hưởng” không chỉ dừng lại trên lý thuyết mà đã được thực thi hiệu quả sinh động trong thực tiễn đời sống xã hội, xây dựng và phát triển đất nước. Với những thành quả đã đạt được, chúng ta đã khẳng định cho các thế lực thù địch, phản động thấy rằng, “dân thụ hưởng” không phải là khẩu hiệu suông.

Một số giải pháp cơ bản tiếp tục thực hiện có hiệu quả thước đo “dân thụ hưởng” ở Việt Nam hiện nay

“Dân thụ hưởng” là sự phát triển về nhận thức, chủ trương, đường lối của Đảng trong quá trình lãnh đạo xây dựng và phát triển đất nước nhằm xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội, đem lại cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc cho nhân dân. Để thực hiện và phát huy có hiệu quả vấn đề “dân thụ hưởng” ở Việt Nam hiện nay cần tập trung thực hiện tốt một số giải pháp cơ bản sau:

Một là, tiếp tục thực hiện có hiệu quả công tác tuyên truyền, giáo dục, nâng cao nhận thức, trách nhiệm của các chủ thể về vấn đề dân chủ và thực hành dân chủ.

Triển khai và thực hiện tốt việc tuyên truyền, giáo dục, nâng cao nhận thức cho mọi cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ, đảng viên là người đứng đầu, là lãnh đạo chủ chốt của cơ quan, đơn vị; giáo dục cho mọi tầng lớp nhân dân nhận thức rõ vị trí, vai trò, ý nghĩa, tầm quan trọng của vấn đề dân chủ và thực hành dân chủ trong đời sống nhân dân. Thực hiện tốt điều đó sẽ giúp cho các cơ quan, tổ chức, người đứng đầu nắm, hiểu rõ các vấn đề trong dân chúng; giúp nhân dân thẳng thắn tham gia đóng góp ý kiến, bộc lộ tâm tư, nguyện vọng về các nội dung, các vấn đề trong cuộc sống. Bên cạnh đó, cần thường xuyên khuyến khích, động viên, tạo mọi điều kiện để mỗi người dân tích cực, tự giác thực thi các quyền dân chủ cũng như đấu tranh bảo vệ quyền dân chủ của mình trong mọi hoạt động của đời sống xã hội. Việc tuyên truyền, giáo dục không chỉ dừng lại ở việc nâng cao nhận thức, mà quan trọng hơn là rèn luyện phương pháp thực hành dân chủ và bản lĩnh thực hiện dân chủ trong thực tiễn cuộc sống.

Đặc biệt, cần coi trọng việc nâng cao nhận thức của đội ngũ cán bộ, đảng viên, nhất là người đứng đầu cơ quan, đơn vị về vai trò của quần chúng nhân dân, về trách nhiệm phụng sự nhân dân trong các hoạt động lãnh đạo, triển khai thực hiện nhiệm vụ. Thường xuyên làm tốt việc đối thoại với nhân dân để lắng nghe ý kiến, tâm tư, nguyện vọng của nhân dân nhằm kịp thời có biện pháp tháo gỡ các vướng mắc, giải phóng tư tưởng cho nhân dân được thông suốt. Thông qua đó, nhân dân sẽ ngày càng tin tưởng và tích cực thực hiện một cách có hiệu quả các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước trong thực tiễn cuộc sống.

Hai là, mọi chủ trương, đường lối, chính sách xây dựng và phát triển đất nước đều phải xuất phát từ thực tiễn cuộc sống của nhân dân.

Để đảm bảo thực hiện tốt phương châm “dân thụ hưởng” thì mọi chủ trương, đường lối, chính sách xây dựng và phát triển đất nước đều phải xuất phát từ thực tiễn của đời sống nhân dân. Về nội dung này, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm khẳng định: “mọi cải cách phải lấy Nhân dân làm trung tâm, lấy phục vụ Nhân dân tốt hơn làm mục tiêu và lấy sự hài lòng, niềm tin, hạnh phúc của Nhân dân làm thước đo đánh giá. Tinh gọn bộ máy không phải chỉ để giảm đầu mối, giảm tầng nấc, giảm chi phí, mà sâu xa hơn là để bộ máy gần dân hơn, sát cơ sở hơn, xử lý công việc nhanh hơn, phục vụ người dân và doanh nghiệp tốt hơn”(15). Thực tiễn cho thấy, nếu chủ trương, đường lối lãnh đạo của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước được đề ra không sát với thực tiễn đời sống của nhân dân thì việc triển khai thực hiện rất khó phát huy được hiệu quả. Theo đó, việc triển khai xây dựng, đề ra các chủ trương, đường lối, chính sách xây dựng và phát triển đất nước cần lấy ấm no, tự do, hạnh phúc của nhân dân làm mục tiêu hướng tới.

Cùng với đó, cần chú trọng việc kết hợp chặt chẽ giữa chính sách phát triển kinh tế với chính sách phát triển xã hội; kết hợp hài hòa giữa tăng trưởng kinh tế với thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội. Trên cơ sở đó, nâng cao chất lượng cuộc sống của nhân dân, nhằm mục đích bảo đảm cho nhân dân ngày càng hưởng thụ tốt, đầy đủ hơn thành quả của sự nghiệp xây dựng, phát triển đất nước, xây dựng chủ nghĩa xã hội. Cần tiếp tục hoàn thiện và triển khai thực hiện có hiệu quả xây dựng hệ thống pháp luật về các vấn đề chính sách xã hội, an sinh xã hội, phúc lợi xã hội nhằm tạo hành lang pháp lý, hướng tới xây dựng mô hình hoàn chỉnh về hệ thống an sinh xã hội với các trụ cột cơ bản chất lượng, hiệu quả, đảm bảo phòng ngừa, giảm thiểu và khắc phục rủi ro trong quá trình triển khai thực hiện.

Ba là, phát huy vai trò nêu gương của cán bộ, đảng viên, nhất là vai trò của  người đứng đầu về vấn đề thực hành dân chủ.

Thường xuyên làm tốt việc phát huy vai trò nêu gương của đội ngũ cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo chủ chốt, người đứng đầu cơ quan, tổ chức trong việc thực hiện nguyên tắc tập trung, dân chủ và thực hành dân chủ trong thực tiễn đời sống xã hội. Khuyến khích, động viên nhân dân tích cực tham gia đóng góp ý kiến, xây dựng các thiết chế bảo đảm phát huy quyền làm chủ của nhân dân. Cần nhận thức rằng: “Bên cạnh việc xác định chủ trương, đường lối đúng, bảo đảm vai trò lãnh đạo của Đảng, phải phát huy mạnh mẽ vai trò sáng tạo, sự ủng hộ và tham gia tích cực của nhân dân. Nhân dân tiếp nhận, ủng hộ và nhiệt tình tham gia thực hiện đường lối của Đảng vì thấy đường lối đó đáp ứng đúng yêu cầu, nguyện vọng của mình. Sức mạnh nhân dân là cội nguồn sâu xa của thắng lợi, của phát triển”(16).

 Muốn vậy, cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo chủ chốt, người đứng đầu cần gương mẫu thực hiện việc thực thi dân chủ; tạo mọi điều kiện thuận lợi để nhân dân tham gia thực hiện quyền kiểm tra, giám sát mọi hoạt động của đội ngũ cán bộ, đảng viên. Sẵn sàng tiếp nhận sự kiểm tra, giám sát của nhân dân trong mọi tình huống.

Trong quá trình thực thi nhiệm vụ, cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo chủ chốt, người đứng đầu các cơ quan, tổ chức phải đảm bảo tính công khai, minh bạch mọi hoạt động, nêu cao trách nhiệm giải trình trước nhân dân. Cần coi trọng việc kiểm soát quyền lực gắn chặt với kỷ cương, kỷ luật trong mọi hoạt động lãnh đạo theo chức trách, nhiệm vụ được giao. Thực hiện có hiệu quả việc đẩy mạnh công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí, quan liêu; đấu tranh với các vấn đề tệ nạn xã hội, các biểu hiện vi phạm kỷ luật, vi phạm phẩm chất, đạo đức, lối sống của cán bộ, đảng viên nhằm gây dựng niềm tin của nhân dân đối với Đảng.

Mặt khác, cần thấy rằng, phương châm “dân thụ hưởng” phải được bắt đầu từ thực tiễn, từ những hoạt động tôn trọng dân, gần dân, tin dân, hiểu dân, học dân, dựa vào dân, sâu sát lắng nghe và có trách nhiệm với nhân dân. Coi trọng và triển khai thực hiện tốt, có hiệu quả các hoạt động dân chủ, nhất là hoạt động dân chủ ở cơ sở. Kiên quyết khắc phục tư tưởng dân chủ hình thức; các biểu hiện xa rời nhân dân, quan liêu, hách dịch, phiền hà, nhũng nhiễu nhân dân. Mỗi cán bộ, đảng viên phải thực sự là “công bộc” của nhân dân, là điểm tựa để nhân dân sẵn sàng phát huy quyền làm chủ của mình trong mọi lĩnh vực hoạt động của đời sống xã hội.

Bốn là, tiếp tục đẩy mạnh thực hiện công tác cải cách hành chính, sắp xếp lại bộ máy hành chính theo hướng tinh, gọn, chuyên nghiệp, hiệu quả.

Tiếp tục đẩy mạnh thực hiện nghiêm túc, có hiệu quả công tác cải cách hành chính bao gồm cả về bộ máy hành chính; thủ tục hành chính; chất lượng đội ngũ cán bộ công chức, viên chức…Trong đó, đặc biệt coi trọng việc rà soát, sắp xếp, kiện toàn tổ chức bộ máy, tinh giản biên chế theo hướng tinh, gọn, hiệu quả, chuyên nghiệp. Thực hiện tốt việc phân định rạch ròi, làm rõ chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của từng cơ quan, tổ chức, hướng tới khắc phục triệt để sự chồng chéo, trùng lặp về chức năng, nhiệm vụ, gây khó khăn, phiền hà cho nhân dân.

Thường xuyên làm tốt việc đào tạo, bồi dưỡng nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ công chức, viên chức. Đây là nội dung có ý nghĩa hết sức quan trọng trong hoạt động cải cách hành chính ở nước ta hiện nay. Bởi lẽ, như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng nhấn mạnh: “Cán bộ là cái gốc của mọi công việc”; “muôn việc thành công hoặc thất bại, đều do cán bộ tốt hoặc kém”(17). Vậy nên, trong công cuộc đổi mới đất nước, với mục tiêu cuối cùng là mang lại hiệu quả thiết thực cho nhân dân, đòi hỏi chúng ta phải có đội ngũ cán bộ, công chức với đầy đủ phẩm chất, năng lực tốt, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ trong mọi tình huống, nhất là trong sự nghiệp đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế hiện nay. Để thực hiện điều này, cần tiến hành hoàn thiện thể chế về quản lý cán bộ, công chức. Làm tốt việc đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức theo từng nội dung công tác đảm nhiệm. Bên cạnh đó, cần coi trọng việc tuyển dụng, nâng ngạch công chức; có cơ chế đánh giá cán bộ, công chức với các tiêu chí cụ thể, gắn liền với việc hoàn thành nhiệm vụ trên từng cương vị công tác. Nghiên cứu, xây dựng cơ chế, chính sách khuyến khích, bảo vệ đối với những cán bộ, công chức sáng tạo, dám nghĩ, dám làm vì lợi ích chung. Tiếp tục xây dựng và triển khai thực hiện có hiệu quả các cơ chế, chính sách đãi ngộ, thu hút, trọng dụng nhân tài; phát huy vai trò, trách nhiệm của người đứng đầu trong các cơ quan, tổ chức.

Tóm lại, việc chuyển hóa phạm trù “Dân thụ hưởng” từ phương châm hành động thành thước đo khách quan đánh giá bản chất chế độ tại Đại hội XIV là một bước tiến vĩ đại, minh chứng cho sự chín muồi trong tư duy khoa học và năng lực cầm quyền của Đảng Cộng sản Việt Nam. Để tiếp tục hiện thực hóa thước đo này trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc, hệ thống các giải pháp đồng bộ từ việc thực hành dân chủ thực chất, xuất phát từ thực tiễn lòng dân, phát huy vai trò nêu gương của cán bộ, đến đẩy mạnh cải cách thể chế và tinh gọn bộ máy hành chính phải được triển khai một cách kiên quyết và triệt để. Đó không chỉ là phương thức đập tan mọi luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch, mà còn là lời khẳng định đanh thép về sự hài lòng, hạnh phúc và năng lực thụ hưởng toàn diện của đại đa số quần chúng nhân dân lao động chính là thước đo tối cao, chân thực nhất phản ánh chiều sâu nhân văn và bản chất ưu việt của chế độ xã hội chủ nghĩa mà toàn Đảng, toàn dân ta đang xây dựng.

Tô Hiến Thà – Học viện Kỹ thuật quân sự

NCS Bùi Duy Hùng – Học viện Chính trị/Bộ Quốc phòng

Chú thích tài liệu trích dẫn:

  1. Đảng Cộng sản Việt Nam (2026), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, tập 2, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia sự thật, Hà Nội, tr.382.
  2. Hồ Chí Minh (2011), Toàn tập, tập 13, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia sự thật, Hà Nội, tr.164
  3. Hồ Chí Minh (2011), Toàn tập, tập 4, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia sự thật, Hà Nội, tr.64.
  4. Đảng Cộng sản Việt Nam (2026), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, tập 2, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia sự thật, Hà Nội, tr.399.
  5. Hồ Chí Minh (2011), Toàn tập, tập 4, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia sự thật, Hà Nội, tr.64-65
  6. Nguyễn Hoàng (2026), “Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm: Mục tiêu cao nhất, đích đến cuối cùng là Nhân dân được thụ hưởng thành quả của sự phát triển”, Báo Chính phủ điện tử, ngày 07 tháng 4 năm 2026.
  7. Hồ Chí Minh (2011), Toàn tập, tập 12, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia sự thật, Hà Nội, tr.402
  8. Nguyễn Phú Trọng (2021), “Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam”, Báo Nhân dân Điện tử, ngày 16 tháng 5 năm 2021
  9. Hồ Chí Minh (2011), Toàn tập, tập 6, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia sự thật, Hà Nội, tr.232.
  10. Đảng Cộng sản Việt Nam (2026), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, tập 2, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia sự thật, Hà Nội, tr.238.
  11. Đảng Cộng sản Việt Nam (2026), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, tập 2, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia sự thật, Hà Nội, tr.114.
  12. Hồng Khanh (2024), “Chỉ số bình đẳng giới của Việt Nam năm 2024 xếp hạng 72/146 quốc gia”, Vietnamnet, ngày 23/11/2024.
  13. Chu Khôi (2026), “Cả nước còn 480.278 hộ nghèo, 608.873 hộ cận nghèo”, Tạp chí VnEconomy điện tử, ngày 17/3/2026.
  14. Đảng Cộng sản Việt Nam (2026), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, tập 2, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia sự thật, Hà Nội, tr.114.
  15. Tô Lâm (2026), “Ánh sáng Hồ Chí Minh soi đường cho chúng ta đi”, Báo Chính phủ Điện tử, ngày 17 tháng 5 năm 2026.
  16. Nguyễn Phú Trọng (2021), “Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam”, Báo Nhân dân Điện tử, ngày 16 tháng 5 năm 2021.
  17. Hồ Chí Minh (2011), Toàn tập, tập 5, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia sự thật, Hà Nội, tr.280.

Tài liệu tham khảo

  1. Đảng Cộng sản Việt Nam (2026), Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, tập 2, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội.
  2. Nguyễn Hoàng (2026), “Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm: Mục tiêu cao nhất, đích đến cuối cùng là Nhân dân được thụ hưởng thành quả của sự phát triển”, Báo Chính phủ điện tử, ngày 07 tháng 4 năm 2026.
  3. Tô Lâm (2026), “Ánh sáng Hồ Chí Minh soi đường cho chúng ta đi”, Báo Chính phủ Điện tử, ngày 17 tháng 5 năm 2026.
  4. Hồ Chí Minh (2011), Toàn tập, tập 4, 5, 6, 7, 12, 13, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thât, Hà Nội.
  5. Nguyễn Phú Trọng (2022), Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội.