Bài viết phân tích vai trò của kinh tế tư nhân trong phát triển du lịch sinh thái gắn với di sản tại Ninh Bình, nơi có Quần thể danh thắng Tràng An, Di sản Hỗn hợp thế giới được UNESCO công nhận. Dựa trên lý thuyết cụm ngành, Tạo ra giá trị chung (CSV) và khung tăng trưởng xanh của OECD, nghiên cứu chỉ ra kinh tế tư nhân đã giữ vai trò chủ đạo trong chuỗi dịch vụ du lịch nhưng chưa phát huy đầy đủ vai trò dẫn dắt do bốn điểm nghẽn: quá tải di sản, thương mại hóa và “sân khấu hóa” di sản, quy mô doanh nghiệp nhỏ phụ thuộc mùa vụ, và liên kết vùng còn yếu. Từ đó, bài viết đề xuất các giải pháp kiểm soát sức tải di sản, phát triển du lịch cộng đồng bền vững, số hóa di sản và xây dựng thương hiệu du lịch di sản xanh cho Ninh Bình.

Nghị quyết số 68-NQ/TW ngày 04/5/2025 của Bộ Chính trị xác định kinh tế tư nhân là “một động lực quan trọng nhất của nền kinh tế quốc gia”, đồng thời nhấn mạnh vai trò tiên phong của khu vực này trong thúc đẩy tăng trưởng xanh, đổi mới sáng tạo và hội nhập quốc tế. Trong bối cảnh đó, du lịch sinh thái gắn với di sản, lĩnh vực kết hợp giữa bảo tồn thiên nhiên, văn hóa và phát triển kinh tế – được xem là một trong những không gian phát huy hiệu quả nhất vai trò dẫn dắt của kinh tế tư nhân.
Ninh Bình sở hữu hệ thống tài nguyên du lịch di sản đặc sắc với Quần thể danh thắng Tràng An, Di sản Hỗn hợp thế giới duy nhất của Việt Nam được UNESCO công nhận; Tam Cốc – Bích Động; Vườn quốc gia Cúc Phương; cùng nhiều làng nghề, điểm du lịch cộng đồng và 379 di tích lịch sử, văn hóa, trong đó có 3 di tích quốc gia đặc biệt. Những lợi thế này đưa Ninh Bình trở thành một trong những trung tâm du lịch di sản hàng đầu khu vực phía Bắc.
Tuy nhiên, sự gia tăng nhanh của lượng khách du lịch sau đại dịch COVID-19 đang tạo áp lực lớn lên các điểm di sản, làm gia tăng nguy cơ thương mại hóa và suy giảm giá trị di sản. Mặc dù kinh tế tư nhân đã giữ vai trò chủ đạo trong các dịch vụ lưu trú, ẩm thực và vận chuyển, nhưng vẫn chưa thực sự dẫn dắt chuỗi giá trị du lịch di sản theo hướng bền vững. Nguyên nhân chủ yếu là thiếu một hệ sinh thái liên kết giữa doanh nghiệp, cộng đồng và công tác bảo tồn di sản.
Từ thực tiễn đó, bài viết tập trung làm rõ vai trò của kinh tế tư nhân trong phát triển du lịch sinh thái gắn với di sản tại Ninh Bình; nhận diện những điểm nghẽn đang cản trở phát triển bền vững; đồng thời đề xuất các giải pháp xây dựng hệ sinh thái du lịch di sản xanh, phù hợp với định hướng của Nghị quyết 68-NQ/TW.
Cơ sở lý luận và khung phân tích
Du lịch sinh thái gắn với di sản trong kinh tế xanh. Theo Hiệp hội Du lịch Sinh thái Quốc tế (TIES), du lịch sinh thái là hình thức du lịch có trách nhiệm tại các khu vực tự nhiên, hướng tới bảo tồn môi trường, nâng cao phúc lợi cộng đồng địa phương và tăng cường giá trị giáo dục. OECD (2022) cho rằng phát triển du lịch theo hướng tăng trưởng xanh cần dựa trên ba trụ cột: đổi mới mô hình kinh doanh xanh, quản lý theo sức chịu tải của hệ sinh thái và thúc đẩy sự tham gia của khu vực tư nhân thông qua các cơ chế chính sách phù hợp. Đối với du lịch di sản, UNESCO và ICOMOS đặc biệt nhấn mạnh yêu cầu bảo đảm “tính toàn vẹn” và “tính xác thực” của di sản, coi đây là nguyên tắc nền tảng để cân bằng giữa khai thác du lịch và bảo tồn giá trị di sản. Đây cũng là cơ sở lý luận để đánh giá thực trạng và đề xuất giải pháp phát triển du lịch sinh thái gắn với di sản tại Ninh Bình.
Lý thuyết Tạo ra giá trị chung (CSV) – nền tảng cho vai trò kinh tế tư nhân. Lý thuyết Tạo ra giá trị chung (CSV) của Porter và Kramer (2011) cho rằng doanh nghiệp có thể đồng thời tạo ra giá trị kinh tế và giá trị xã hội, môi trường. Trong lĩnh vực du lịch di sản, điều này được thể hiện qua việc doanh nghiệp đầu tư vào bảo tồn di tích, phát triển làng nghề, nông nghiệp sinh thái hoặc các sản phẩm du lịch gắn với văn hóa bản địa, qua đó vừa nâng cao hiệu quả kinh doanh vừa đóng góp cho mục tiêu phát triển bền vững của địa phương. Tuy nhiên, CSV chỉ có thể phát huy hiệu quả khi được đặt trong một hệ sinh thái liên kết giữa doanh nghiệp, chính quyền, cộng đồng và thị trường. Nếu thiếu cơ chế quản trị di sản đồng bộ, những nỗ lực riêng lẻ khó tạo ra giá trị bền vững, thậm chí có thể dẫn đến khai thác quá mức và làm suy giảm các giá trị di sản cần được bảo tồn.
Lý thuyết cụm ngành – nền tảng cho liên kết vùng và chuỗi giá trị di sản. Lý thuyết cụm ngành (Cluster Theory) của Michael Porter cho rằng năng lực cạnh tranh của một điểm đến không chỉ phụ thuộc vào nguồn lực riêng lẻ mà còn được quyết định bởi chất lượng liên kết giữa các doanh nghiệp, dịch vụ hỗ trợ và các điểm đến trong cùng khu vực. Đối với du lịch, sự thiếu vắng các liên kết cụm ngành khiến doanh nghiệp tư nhân khó mở rộng quy mô, đa dạng hóa sản phẩm và nâng cao khả năng tiếp cận thị trường quốc tế. Đây cũng là một trong những nguyên nhân lý giải thực trạng tại Ninh Bình: sở hữu nguồn tài nguyên di sản đặc sắc nhưng chưa hình thành được chuỗi giá trị du lịch tích hợp tương xứng với vị thế của một Di sản Hỗn hợp thế giới.
Kết hợp với lý thuyết Tạo ra giá trị chung (CSV) và khung tăng trưởng xanh của OECD, lý thuyết cụm ngành cung cấp nền tảng phân tích cho nghiên cứu này. Theo đó, kinh tế tư nhân cần được phát triển trong một hệ sinh thái liên kết đa chủ thể; hệ sinh thái đó phải gắn với chuỗi giá trị và liên kết vùng; đồng thời toàn bộ quá trình phát triển phải hướng tới mục tiêu tăng trưởng xanh và bảo tồn bền vững giá trị di sản. Đây cũng là ba trụ cột lập luận xuyên suốt của bài viết.
Hình 1: Khung phân tích

Từ các cách tiếp cận lý thuyết trên, có thể khẳng định du lịch sinh thái gắn với di sản không chỉ là một loại hình du lịch mà còn là một cấu phần quan trọng của mô hình tăng trưởng xanh. Trong mô hình này, khu vực kinh tế tư nhân giữ vai trò trung tâm trong việc chuyển hóa các giá trị di sản thành động lực phát triển kinh tế, đồng thời bảo đảm hài hòa giữa khai thác du lịch, bảo tồn tài nguyên và duy trì tính toàn vẹn của di sản theo hướng bền vững.
Tầng 1: Kinh tế tư nhân đã là lực lượng chủ đạo trong du lịch di sản Ninh Bình
Dưới góc độ phát triển, khu vực kinh tế tư nhân tại Ninh Bình không chỉ tham gia cung ứng dịch vụ du lịch mà còn giữ vai trò ngày càng nổi bật trong việc kiến tạo các mô hình du lịch sinh thái gắn với di sản. Thông qua đầu tư, đổi mới sản phẩm và đón đầu xu hướng du lịch xanh, các doanh nghiệp tư nhân đã góp phần nâng cao sức hấp dẫn của điểm đến, tạo động lực tăng trưởng cho ngành du lịch địa phương và từng bước khẳng định vai trò của kinh tế tư nhân trong phát triển kinh tế – xã hội.
Tiềm năng tài nguyên và kết quả tăng trưởng. Ninh Bình sở hữu hệ thống tài nguyên du lịch di sản đặc sắc, tạo nền tảng thuận lợi cho phát triển du lịch sinh thái gắn với bảo tồn. Nổi bật nhất là Quần thể danh thắng Tràng An – Di sản Hỗn hợp thế giới duy nhất của Việt Nam được UNESCO công nhận năm 2014. Bên cạnh đó là Tam Cốc – Bích Động với cảnh quan sông nước và hang động độc đáo; Vườn quốc gia Cúc Phương, khu bảo tồn thiên nhiên đầu tiên của Việt Nam với hệ sinh thái đa dạng; cùng 379 di tích lịch sử, văn hóa, trong đó có 3 di tích quốc gia đặc biệt. Hệ thống làng nghề truyền thống và các điểm du lịch cộng đồng tại vùng đệm di sản cũng góp phần làm phong phú sản phẩm du lịch của địa phương.
Nhờ lợi thế về tài nguyên, du lịch Ninh Bình tăng trưởng mạnh trong những năm gần đây. Năm 2024, tỉnh đón khoảng 7,8 triệu lượt khách, doanh thu du lịch ước đạt 4.200 tỷ đồng, vượt xa giai đoạn trước đại dịch COVID-19. Trong giai đoạn 2021–2024, số lượng cơ sở lưu trú tăng hơn 35%, chủ yếu từ nguồn vốn đầu tư của khu vực tư nhân, cho thấy vai trò ngày càng lớn của khu vực này trong phát triển du lịch và nâng cao sức cạnh tranh của điểm đến Ninh Bình trên thị trường trong nước và quốc tế.
Kinh tế tư nhân đã chiếm vai trò chủ đạo. Khu vực kinh tế tư nhân hiện giữ vai trò chủ đạo trong hoạt động du lịch tại Ninh Bình, chiếm khoảng 89% số cơ sở lưu trú và hơn 90% cơ sở dịch vụ ăn uống, lữ hành. Các doanh nghiệp và hộ kinh doanh tư nhân đã tích cực đầu tư phát triển nhiều mô hình du lịch đa dạng như homestay tại vùng đệm Tràng An, du lịch nông nghiệp sinh thái ở Tam Điệp và Gia Viễn, hay các dịch vụ vận chuyển gắn với trải nghiệm du lịch sông nước đặc trưng của địa phương. Đồng thời, khu vực này cũng tiên phong trong đổi mới sản phẩm và ứng dụng công nghệ số, từ các tour đêm khám phá Tràng An, trải nghiệm làng nghề truyền thống đến các nền tảng đặt dịch vụ trực tuyến.
Tuy nhiên, dù năng động và có khả năng thích ứng cao, sự tham gia của kinh tế tư nhân vẫn chủ yếu tập trung ở các khâu dịch vụ du lịch. Vai trò dẫn dắt chuỗi giá trị di sản theo hướng tạo ra giá trị gia tăng cao, gắn kết chặt chẽ giữa khai thác du lịch với bảo tồn và phát huy giá trị di sản vẫn còn hạn chế. Điều này cho thấy thách thức hiện nay không nằm ở động lực hay năng lực của doanh nghiệp tư nhân, mà ở những điểm nghẽn mang tính hệ thống đang cản trở sự hình thành một hệ sinh thái du lịch di sản bền vững.
Tầng 2: Bốn điểm nghẽn cốt lõi cản trở phát triển du lịch di sản bền vững
Mặc dù khu vực kinh tế tư nhân đã giữ vai trò chủ đạo trong nhiều hoạt động du lịch tại Ninh Bình, địa phương vẫn chưa xây dựng được chuỗi giá trị du lịch di sản có sức cạnh tranh tương xứng với tiềm năng và danh hiệu Di sản Hỗn hợp thế giới. Nguyên nhân không nằm ở nguồn tài nguyên hay sự tham gia của doanh nghiệp, mà chủ yếu xuất phát từ những điểm nghẽn mang tính cấu trúc trong quản trị và phát triển du lịch di sản. Các điểm nghẽn này có sự tác động qua lại, làm suy giảm hiệu quả liên kết giữa bảo tồn, khai thác du lịch và phát huy vai trò của khu vực kinh tế tư nhân, từ đó cản trở quá trình phát triển bền vững của ngành du lịch địa phương.
Áp lực quá tải tại các điểm di sản trọng yếu – khủng hoảng sức tải của không gian di sản. Quần thể danh thắng Tràng An và khu du lịch Tam Cốc – Bích Động đang chịu áp lực quá tải ngày càng lớn trong các mùa du lịch cao điểm. Sự gia tăng nhanh của lượng khách không chỉ gây sức ép lên hạ tầng giao thông, bến thuyền và dịch vụ du lịch, mà còn tác động đến hệ sinh thái cảnh quan, môi trường tự nhiên và chất lượng trải nghiệm của du khách.
Điều đáng quan ngại là tốc độ khai thác du lịch đang có dấu hiệu vượt quá sức chịu tải của không gian di sản. Khi các điểm đến thường xuyên hoạt động trong tình trạng quá tải, những giá trị cốt lõi tạo nên sức hấp dẫn của di sản như tính nguyên sơ, trải nghiệm sinh thái và bản sắc văn hóa có nguy cơ suy giảm. Đây là nghịch lý thường gặp ở các điểm đến di sản: tăng trưởng du lịch trong ngắn hạn có thể làm suy yếu giá trị và sức cạnh tranh trong dài hạn nếu thiếu cơ chế quản lý phù hợp.
Ở góc độ phát triển bền vững, tình trạng này cho thấy sự thiếu cân bằng giữa mục tiêu bảo tồn và khai thác. Khi việc gia tăng lượng khách trở thành ưu tiên hàng đầu, giá trị di sản – nền tảng của toàn bộ hoạt động du lịch – có thể bị ảnh hưởng. Vì vậy, kiểm soát sức tải và điều tiết hoạt động khai thác hợp lý là yêu cầu cấp thiết để bảo đảm lợi thế di sản UNESCO tiếp tục trở thành động lực cho phát triển bền vững của Ninh Bình.
Nguy cơ “sân khấu hóa” di sản – sự suy giảm tính xác thực văn hóa. Bên cạnh áp lực quá tải, du lịch di sản tại Ninh Bình còn đối mặt với nguy cơ “sân khấu hóa” các giá trị văn hóa bản địa. Theo MacCannell (1973), hiện tượng staged authenticity xuất hiện khi các yếu tố văn hóa và đời sống cộng đồng được điều chỉnh, tái hiện hoặc trình diễn nhằm đáp ứng nhu cầu của du khách, thay vì phản ánh một cách tự nhiên đời sống xã hội địa phương.
Trên thực tế, một số hoạt động văn hóa truyền thống đang dần chuyển từ không gian sinh hoạt cộng đồng sang các hình thức biểu diễn phục vụ du lịch. Nhiều sản phẩm lưu niệm, điểm tham quan và trải nghiệm được thiết kế theo xu hướng đại trà, chưa phản ánh đầy đủ chiều sâu văn hóa bản địa. Trong một số trường hợp, hình ảnh làng quê, đời sống truyền thống hay không gian cố đô được tái hiện theo nhu cầu thị trường nhiều hơn là dựa trên những giá trị văn hóa nguyên gốc.
Đáng chú ý, quá trình “du lịch hóa” không gian sống cộng đồng có thể làm suy giảm tính xác thực của di sản. Khi các trải nghiệm được dàn dựng thay thế cho những giá trị văn hóa sống, di sản dễ bị nhìn nhận như một sản phẩm tiêu dùng hơn là một không gian văn hóa đang được cộng đồng gìn giữ và phát huy. Điều này đi ngược lại các nguyên tắc về tính toàn vẹn và tính xác thực mà UNESCO coi là nền tảng trong bảo tồn di sản thế giới.
Về lâu dài, sự suy giảm tính nguyên bản không chỉ ảnh hưởng đến giá trị văn hóa mà còn làm giảm sức hấp dẫn và khả năng cạnh tranh của điểm đến. Bởi lợi thế nổi bật của Ninh Bình không chỉ nằm ở cảnh quan thiên nhiên đặc sắc, mà còn ở sự kết hợp hài hòa giữa di sản thiên nhiên, lịch sử cố đô Hoa Lư và không gian văn hóa cộng đồng mang đậm bản sắc địa phương. Giữ gìn những giá trị này chính là điều kiện quan trọng để phát triển du lịch di sản theo hướng bền vững.
Kinh tế tư nhân nhỏ lẻ và phụ thuộc mùa vụ – hạn chế khả năng đầu tư chiều sâu. Mặc dù đã trở thành lực lượng chủ đạo trong chuỗi dịch vụ du lịch, khu vực kinh tế tư nhân tại Ninh Bình vẫn chủ yếu gồm các doanh nghiệp và hộ kinh doanh quy mô nhỏ, khả năng tích lũy vốn hạn chế và phụ thuộc lớn vào tính mùa vụ của thị trường. Hoạt động du lịch tập trung vào một số giai đoạn cao điểm như mùa lễ hội đầu năm, mùa lúa Tam Cốc hay các kỳ nghỉ lễ, trong khi lượng khách ở những thời điểm còn lại giảm đáng kể. Điều này khiến nhiều cơ sở kinh doanh ưu tiên gia tăng số lượng khách trong ngắn hạn hơn là đầu tư vào chất lượng dịch vụ, tiêu chuẩn môi trường hay phát triển các sản phẩm đặc thù có giá trị gia tăng cao.
Bên cạnh đó, việc thiếu liên kết chuỗi giá trị và các cơ chế hỗ trợ dài hạn khiến nhiều doanh nghiệp gặp khó khăn trong đầu tư cho chuyển đổi xanh, ứng dụng công nghệ số, đào tạo nhân lực và xây dựng thương hiệu. Hệ quả là cạnh tranh trên thị trường vẫn chủ yếu dựa vào giá cả, trong khi giá trị và khả năng khác biệt hóa của sản phẩm du lịch di sản còn hạn chế.
Tính mùa vụ cao cũng ảnh hưởng đến sự ổn định của lực lượng lao động du lịch, gây khó khăn cho việc hình thành đội ngũ nhân lực chuyên nghiệp và gắn bó lâu dài với ngành. Đây là một bất lợi đáng kể bởi chất lượng nguồn nhân lực không chỉ quyết định chất lượng dịch vụ mà còn tác động trực tiếp đến khả năng truyền tải các giá trị văn hóa, lịch sử và trải nghiệm đặc trưng của điểm đến.
Xét về bản chất, quy mô nhỏ lẻ của doanh nghiệp không phải là nguyên nhân cốt lõi mà là hệ quả của một hệ sinh thái phát triển chưa đủ mạnh. Khi các chủ thể hoạt động phân tán, thiếu liên kết trong chuỗi giá trị chung, rất khó hình thành những doanh nghiệp có đủ năng lực về vốn, công nghệ và thương hiệu để dẫn dắt thị trường, nâng cao sức cạnh tranh và thúc đẩy phát triển du lịch di sản theo hướng bền vững.
Liên kết vùng Bắc Bộ còn hạn chế – di sản UNESCO chưa tạo được hiệu ứng lan tỏa vùng. Mặc dù nằm trên hành lang du lịch trọng điểm của vùng Bắc Bộ, liên kết du lịch giữa Ninh Bình với các địa phương lân cận như Hà Nội, Hà Nam, Nam Định và Thanh Hóa vẫn chưa phát huy tương xứng với tiềm năng. Các chương trình kết nối hiện chủ yếu mang tính riêng lẻ, thiếu cơ chế điều phối thống nhất và chưa hình thành được chuỗi sản phẩm liên vùng có giá trị gia tăng cao.
Hệ quả là phần lớn khách quốc tế đến Ninh Bình vẫn lựa chọn lưu trú tại Hà Nội và tham quan theo hình thức đi về trong ngày. Điều này khiến địa phương chưa khai thác hiệu quả lợi thế của một điểm đến di sản thế giới để kéo dài thời gian lưu trú và gia tăng mức chi tiêu của du khách. Thời gian lưu trú trung bình hiện chỉ khoảng 1,5–1,8 ngày, thấp hơn so với tiềm năng của một trung tâm du lịch di sản quốc tế.
Sự thiếu vắng liên kết vùng theo mô hình cụm ngành cũng làm giảm khả năng tận dụng hiệu ứng lan tỏa từ thương hiệu Tràng An. Các doanh nghiệp tư nhân vẫn chủ yếu hoạt động riêng lẻ, trong khi các tuyến du lịch đa điểm đến chưa được phát triển tương xứng. Điều này không chỉ hạn chế cơ hội mở rộng thị trường mà còn khiến dòng khách tiếp tục tập trung vào một số điểm tham quan trọng yếu, làm gia tăng áp lực lên các khu di sản.
Nhìn tổng thể, các điểm nghẽn về quá tải du lịch, nguy cơ thương mại hóa và “sân khấu hóa” di sản, quy mô doanh nghiệp nhỏ lẻ và liên kết vùng yếu có mối quan hệ chặt chẽ với nhau. Áp lực khách quá lớn làm suy giảm chất lượng trải nghiệm và tính xác thực của di sản; chất lượng sản phẩm hạn chế khiến doanh nghiệp khó nâng cao giá trị gia tăng; trong khi thiếu liên kết vùng tiếp tục làm gia tăng sự tập trung khách tại một số điểm đến. Vì vậy, phát triển du lịch di sản bền vững tại Ninh Bình cần chuyển từ tư duy tăng trưởng dựa trên số lượng khách sang tư duy quản trị hệ sinh thái, trong đó bảo tồn di sản, phát triển cộng đồng và vai trò của khu vực kinh tế tư nhân được gắn kết trong một chiến lược phát triển đồng bộ và dài hạn.
Tầng 3: Xây dựng hệ sinh thái du lịch di sản xanh cho Ninh Bình
Từ những điểm nghẽn mang tính hệ thống đã được nhận diện, yêu cầu đặt ra đối với Ninh Bình không còn là mở rộng quy mô du lịch bằng mọi giá, mà là chuyển từ tư duy tăng trưởng dựa trên số lượng khách sang tư duy quản trị chất lượng và giá trị của phát triển du lịch di sản. Trọng tâm không chỉ là thu hút thêm du khách, mà còn bảo đảm sự cân bằng giữa khai thác, bảo tồn và nâng cao giá trị gia tăng của điểm đến.
Theo định hướng đó, các giải pháp cần được triển khai theo lộ trình ưu tiên rõ ràng. Trước hết, cần kiểm soát hiệu quả áp lực khai thác đối với các khu di sản trọng điểm nhằm bảo đảm sức chịu tải của môi trường và duy trì tính toàn vẹn của di sản. Tiếp theo, mở rộng không gian phát triển thông qua thúc đẩy du lịch cộng đồng và tăng cường liên kết vùng để phân bổ dòng khách hợp lý, tạo thêm cơ hội cho doanh nghiệp và cộng đồng địa phương tham gia chuỗi giá trị du lịch. Trên nền tảng đó, đẩy mạnh chuyển đổi số, đổi mới sản phẩm và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc tế sẽ trở thành động lực quan trọng để phát triển du lịch di sản theo hướng xanh, bền vững và có giá trị gia tăng cao.
Kiểm soát sức tải di sản và tái cấu trúc không gian du lịch. Trong bối cảnh áp lực quá tải tại Tràng An và Tam Cốc – Bích Động ngày càng gia tăng, ưu tiên hàng đầu của Ninh Bình cần là kiểm soát sức tải du lịch tại các điểm di sản trọng yếu. Đây không chỉ là yêu cầu bảo tồn di sản mà còn là điều kiện để duy trì chất lượng trải nghiệm của du khách và bảo đảm năng lực cạnh tranh lâu dài của điểm đến.
Theo đó, tỉnh cần xây dựng cơ chế quản lý sức tải dựa trên dữ liệu về lưu lượng khách, thời gian cao điểm và khả năng chịu tải của từng khu vực di sản. Đối với những điểm có áp lực lớn như Tràng An và Tam Cốc – Bích Động, có thể nghiên cứu áp dụng các biện pháp phân luồng khách theo khung giờ, điều tiết lượng khách trong những thời điểm cao điểm và phát triển thêm các tuyến tham quan tại vùng đệm nhằm giảm áp lực lên khu vực lõi di sản.
Song song với đó, cần chuyển từ mô hình tăng trưởng dựa trên số lượng sang mô hình phát triển dựa trên chất lượng và giá trị trải nghiệm. Thay vì tập trung vào việc gia tăng nhanh lượng khách, Ninh Bình nên hướng tới phân khúc du khách có nhu cầu khám phá sâu các giá trị văn hóa, lịch sử và sinh thái, có thời gian lưu trú dài hơn và mức chi tiêu cao hơn. Đây là hướng phát triển phù hợp với đặc trưng của một điểm đến di sản tầm quốc tế, đồng thời góp phần nâng cao hiệu quả kinh tế trong khi vẫn bảo đảm mục tiêu bảo tồn và phát triển bền vững.
Phát triển du lịch cộng đồng theo chiều sâu văn hóa bản địa. Một trong những hạn chế của du lịch Ninh Bình hiện nay là sản phẩm trải nghiệm vẫn chủ yếu dựa vào tham quan cảnh quan, trong khi các giá trị văn hóa cộng đồng và đời sống bản địa chưa được khai thác tương xứng. Vì vậy, phát triển du lịch cộng đồng theo hướng bền vững cần được xem là giải pháp quan trọng để mở rộng chuỗi giá trị du lịch di sản và đa dạng hóa sản phẩm du lịch.
Trọng tâm của định hướng này không nằm ở việc gia tăng số lượng cơ sở lưu trú, mà ở việc xây dựng các trải nghiệm gắn với văn hóa và đời sống địa phương. Các làng nghề truyền thống như Văn Lâm, Ninh Vân cùng các cộng đồng dân cư tại vùng đệm di sản Hoa Lư, Gia Viễn cần được hỗ trợ tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị du lịch thông qua các hoạt động trải nghiệm nghề thủ công, ẩm thực, nông nghiệp truyền thống và sinh hoạt văn hóa cộng đồng.
Để bảo đảm tính bền vững, người dân địa phương phải giữ vai trò trung tâm trong quá trình phát triển du lịch cộng đồng. Khi cộng đồng được tham gia thực chất và hưởng lợi trực tiếp từ hoạt động du lịch, động lực bảo tồn và phát huy giá trị di sản sẽ được củng cố. Ngược lại, nếu người dân chỉ tham gia ở các khâu dịch vụ đơn giản trong khi phần lớn giá trị gia tăng thuộc về các đơn vị trung gian, hiệu quả bảo tồn và phát triển lâu dài sẽ khó được bảo đảm.
Bên cạnh đó, cần tránh xu hướng “du lịch hóa” quá mức không gian sống của cộng đồng. Mục tiêu của du lịch cộng đồng không phải là biến đời sống địa phương thành một sản phẩm trình diễn, mà là tạo điều kiện để du khách tiếp cận những giá trị văn hóa bản địa một cách chân thực. Việc duy trì nhịp sống tự nhiên, bản sắc văn hóa và tính xác thực của cộng đồng cư dân vùng di sản chính là yếu tố cốt lõi để nâng cao chất lượng trải nghiệm và sức hấp dẫn lâu dài của điểm đến.
Đẩy mạnh chuyển đổi số gắn với bảo tồn và quản trị di sản. Trong bối cảnh du lịch ngày càng gắn với các nền tảng số, chuyển đổi số là yêu cầu quan trọng đối với phát triển du lịch di sản tại Ninh Bình. Tuy nhiên, quá trình này cần được triển khai theo hướng phục vụ hiệu quả công tác quản trị và nâng cao trải nghiệm du khách, thay vì đầu tư dàn trải hoặc chạy theo các giải pháp công nghệ mang tính hình thức.
Trước hết, Ninh Bình cần xây dựng hệ thống dữ liệu du lịch thống nhất để hỗ trợ quản lý lưu lượng khách, giám sát sức tải tại các điểm di sản và tăng cường kết nối thông tin giữa các chủ thể tham gia chuỗi giá trị du lịch. Việc số hóa bản đồ du lịch, tích hợp dữ liệu về điểm tham quan, cơ sở lưu trú, làng nghề và vùng đệm di sản sẽ giúp du khách tiếp cận thông tin thuận tiện hơn, đồng thời tạo điều kiện cho các doanh nghiệp nhỏ mở rộng khả năng tiếp cận thị trường.
Đối với các không gian có giá trị lịch sử và văn hóa đặc biệt như Cố đô Hoa Lư, ứng dụng công nghệ số cần hướng tới việc gia tăng chiều sâu trải nghiệm và giá trị giáo dục. Các hình thức thuyết minh đa ngôn ngữ, tư liệu số hóa hoặc tái hiện lịch sử ở mức độ phù hợp có thể giúp du khách hiểu rõ hơn về giá trị di sản, đồng thời nâng cao khả năng tiếp cận đối với thị trường quốc tế.
Bên cạnh đó, cần hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và hộ kinh doanh địa phương nâng cao kỹ năng ứng dụng công nghệ số trong quảng bá, bán hàng và kết nối khách hàng. Việc mở rộng khả năng tham gia vào các nền tảng số không chỉ giúp nâng cao hiệu quả kinh doanh mà còn góp phần tăng cường năng lực cạnh tranh của khu vực kinh tế tư nhân, tạo nền tảng cho sự phát triển bền vững của du lịch di sản Ninh Bình trong kỷ nguyên số.
Tăng cường liên kết vùng và hoàn thiện vai trò kiến tạo của Nhà nước. Về dài hạn, Ninh Bình khó phát huy hết tiềm năng nếu tiếp tục phát triển như một điểm đến độc lập. Trong bối cảnh du lịch hiện đại ngày càng dựa trên các chuỗi trải nghiệm liên vùng, tăng cường liên kết với Hà Nội, Hà Nam, Nam Định và Thanh Hóa là yêu cầu chiến lược nhằm mở rộng không gian phát triển, đa dạng hóa sản phẩm và nâng cao sức cạnh tranh của điểm đến.
Liên kết vùng cần vượt ra ngoài các hoạt động xúc tiến, quảng bá đơn lẻ để hướng tới xây dựng những tuyến du lịch có tính bổ trợ và kết nối giá trị. Với lợi thế nổi bật về di sản văn hóa và sinh thái, Ninh Bình có thể giữ vai trò hạt nhân trong chuỗi trải nghiệm kết nối du lịch cố đô, du lịch tâm linh, du lịch sinh thái và du lịch biển của khu vực Bắc Bộ, qua đó kéo dài thời gian lưu trú và gia tăng mức chi tiêu của du khách.
Để hiện thực hóa mục tiêu này, vai trò của Nhà nước cần chuyển từ quản lý đơn thuần sang kiến tạo và điều phối phát triển. Bên cạnh nhiệm vụ bảo tồn di sản, chính quyền địa phương cần chủ động thúc đẩy liên kết vùng, hỗ trợ xây dựng thương hiệu điểm đến và tạo môi trường thuận lợi để khu vực kinh tế tư nhân đầu tư, đổi mới và tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị du lịch.
Đối với một địa phương sở hữu Di sản Hỗn hợp thế giới như Ninh Bình, phát triển du lịch phải luôn gắn với bảo tồn và phát huy giá trị di sản. Vì vậy, các chính sách trong thời gian tới cần bảo đảm sự hài hòa giữa mục tiêu tăng trưởng kinh tế, gìn giữ các giá trị văn hóa – thiên nhiên và nâng cao sinh kế cho cộng đồng địa phương. Đây cũng là nền tảng để Ninh Bình xây dựng mô hình “du lịch di sản xanh” có sức cạnh tranh cao và phát triển bền vững trong dài hạn.
Ba tầng lập luận của bài viết dẫn đến một kết luận thống nhất: kinh tế tư nhân Ninh Bình đã sẵn sàng, đông đảo, năng động, đang đổi mới nhưng đang vận hành trong một hệ sinh thái thiếu quản trị di sản đồng bộ và thiếu liên kết vùng thực chất. Tháo gỡ điểm nghẽn đó không thể bằng cách tạo thêm doanh nghiệp hay thêm lượng khách, mà phải bằng cách kiểm soát sức tải di sản, phát triển du lịch cộng đồng chiều sâu, số hoá di sản và xây dựng thương hiệu “du lịch di sản xanh” có uy tín quốc tế.
Trong bối cảnh chuyển đổi mô hình tăng trưởng theo hướng xanh và bền vững, di sản UNESCO của Ninh Bình không chỉ là tài sản văn hoá mà còn là lợi thế cạnh tranh không thể tái tạo. Tinh thần Nghị quyết 68-NQ/TW khi xác định kinh tế tư nhân là động lực quan trọng nhất không phải là giao khoán trách nhiệm cho doanh nghiệp, mà là đặt ra trách nhiệm của Nhà nước phải kiến tạo hệ sinh thái để khu vực tư nhân phát huy hết tiềm năng mà không gây tổn hại đến giá trị di sản, đây cũng chính là bản chất của lý thuyết Tạo ra giá trị chung (CSV) khi áp dụng vào phát triển du lịch di sản.
Thực hiện đúng lộ trình đó, du lịch sinh thái di sản gắn với kinh tế tư nhân năng động và liên kết vùng chặt chẽ sẽ trở thành trụ cột quan trọng trong cơ cấu kinh tế của tỉnh Ninh Bình giai đoạn 2025-2030 – góp phần hiện thực hoá mục tiêu xây dựng Ninh Bình thành điểm đến du lịch di sản xanh tầm cỡ khu vực và quốc tế, phù hợp với Quy hoạch tỉnh đến năm 2050.
TS.Mai Chiếm Hiếu/Khoa Kinh tế Chính trị – Học viện Chính trị khu vực II
Tài liệu tham khảo
[1] ADB (2024), Green Value Chain: Promoting Sustainable Tourism in Southeast Asia, Manila.
[2] Bộ Chính trị (2025), Nghị quyết số 68-NQ/TW ngày 04/5/2025 về phát triển kinh tế tư nhân trở thành một động lực quan trọng của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, Hà Nội.
[3] Bộ Kế hoạch và Đầu tư (2024), Sách trắng doanh nghiệp Việt Nam 2024, NXB. Thống kê, Hà Nội.
[4] Cục Thống kê tỉnh Ninh Bình (2025), Niên giám thống kê tỉnh Ninh Bình năm 2024, NXB. Thống kê, Ninh Bình.
[5] ICOMOS (2008), ICOMOS Charter for the Interpretation and Presentation of Cultural Heritage Sites, Quebec.
[6] IUCN (2019), Guidelines for Ecotourism in Natural and Protected Areas, Gland, Switzerland.
[7] MacCannell, D. (1973), “Staged Authenticity: Arrangements of Social Space in Tourist Settings”, American Journal of Sociology, Vol.79, No.3, pp.589-603.
[8] OECD (2022), Green Growth and Tourism, Paris.
[9] Porter, M.E. & Kramer, M.R. (2011), “Creating Shared Value”, Harvard Business Review, Vol.89, No.1/2, pp.62-77.
[10] Porter, M.E. (1998), “Clusters and the New Economics of Competition”, Harvard Business Review, Vol.76, No.6, pp.77-90.
[11] Sở Văn hoá, Thể thao và Du lịch tỉnh Ninh Bình (2025), Báo cáo tổng kết hoạt động du lịch năm 2024 và định hướng 2025, Ninh Bình.
[12] Sở Văn hoá, Thể thao và Du lịch tỉnh Ninh Bình (2021), Đề án phát triển du lịch tỉnh Ninh Bình giai đoạn 2021-2025, định hướng đến năm 2030, Ninh Bình.
[13] Thủ tướng Chính phủ (2022), Quyết định số 147/QĐ-TTg ngày 22/01/2020 phê duyệt Chiến lược phát triển du lịch Việt Nam đến năm 2030, Hà Nội.
[14] UBND tỉnh Ninh Bình (2024), Quyết định phê duyệt Quy hoạch tỉnh Ninh Bình thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050, Ninh Bình.
[15] UNDP Việt Nam (2024), Báo cáo Phát triển con người Việt Nam 2024 – Chuyển đổi xanh và tăng trưởng bền vững, Hà Nội.
[16] UNESCO (2014), Advisory Body Evaluation – Trang An Landscape Complex, World Heritage Committee, Paris.
[17] UNWTO (2023), Tourism for SDGs Platform. Tại: https://tourism4sdgs.org, truy cập ngày 15/4/2026.
[18] Viện Nghiên cứu Phát triển Du lịch Việt Nam (2025), Báo cáo thường niên du lịch Việt Nam 2024, Hà Nội.
[19] World Bank (2023), Tourism and the Private Sector: Partnership for Sustainable Development, Washington D.C.


