Thứ Năm, Tháng 6 18, 2026
* Email: bbt.dongnama@gmail.com *Tòa soạn: 0989011688 - 0768908888
spot_img
[gtranslate]

Vai trò của kinh tế tư nhân trong thúc đẩy tăng trưởng xanh và phát triển du lịch sinh thái tại An Giang và Đồng bằng sông Cửu Long



ĐNA -

Vận dụng lý thuyết cụm ngành, lý thuyết Tạo ra giá trị chung và khung tăng trưởng xanh của OECD, nghiên cứu phân tích phát triển du lịch sinh thái và vai trò của khu vực kinh tế tư nhân tại An Giang trong liên kết vùng Đồng bằng sông Cửu Long. Kết quả cho thấy khu vực tư nhân giữ vai trò chủ đạo nhưng hiệu quả còn hạn chế do liên kết vùng chưa chặt chẽ. Từ đó, bài viết đề xuất các giải pháp tăng cường liên kết vùng, đổi mới sáng tạo và hoàn thiện chính sách đầu tư xanh nhằm thúc đẩy tăng trưởng xanh và phát triển bền vững tại An Giang.

Nghị quyết số 68-NQ/TW ngày 04/5/2025 của Bộ Chính trị xác định kinh tế tư nhân là “một động lực quan trọng nhất của nền kinh tế quốc gia”, đồng thời đặt ra yêu cầu doanh nghiệp tư nhân tiên phong thúc đẩy tăng trưởng xanh, đổi mới sáng tạo và hội nhập quốc tế . Trong bối cảnh đó, du lịch sinh thái, loại hình du lịch gắn với thiên nhiên, hướng đến bảo tồn môi trường và nâng cao phúc lợi cộng đồng địa phương được Tổ chức Du lịch Thế giới (UNWTO) xác định là trụ cột của du lịch bền vững và kinh tế xanh, chính là lĩnh vực mà khu vực kinh tế tư nhân có thể phát huy vai trò dẫn dắt mạnh mẽ nhất .

An Giang, với lợi thế đặc sắc từ hệ sinh thái núi Thất Sơn, rừng tràm Trà Sư đến di sản văn hóa đa sắc tộc, đã chứng kiến sự tham gia sâu rộng của các doanh nghiệp tư nhân vào chuỗi giá trị du lịch. Khu vực kinh tế tư nhân đã tham gia mạnh mẽ vào phát triển du lịch địa phương và trở thành lực lượng chủ đạo. Tuy nhiên, một nghịch lý đang tồn tại: dù sở hữu tài nguyên phong phú và lực lượng doanh nghiệp đông đảo, du lịch sinh thái An Giang vẫn chưa thể bứt phá thành điểm đến tầm cỡ quốc tế.

Phân tích cho thấy điểm nghẽn của du lịch sinh thái An Giang không nằm ở nguồn lực hay số lượng doanh nghiệp, mà ở sự thiếu vắng một hệ sinh thái liên kết vùng hiệu quả. Dù giữ vai trò chủ đạo, khu vực kinh tế tư nhân vẫn chưa phát huy hết tiềm năng do thiếu cơ chế kết nối để tạo sức mạnh hệ thống. Trong bối cảnh thực hiện Nghị quyết số 68-NQ/TW, phát triển du lịch sinh thái không chỉ nhằm khai thác lợi thế địa phương mà còn khẳng định vai trò của kinh tế tư nhân trong thúc đẩy tăng trưởng xanh. Để thực sự trở thành “động lực quan trọng nhất” của nền kinh tế, khu vực này cần được hỗ trợ bởi một hệ sinh thái thể chế, liên kết và đổi mới sáng tạo đồng bộ.

Xuất phát từ thực trạng trên, bài viết tập trung làm rõ cách thức nâng cao vai trò của kinh tế tư nhân từ chủ thể tham gia sang chủ thể dẫn dắt phát triển du lịch sinh thái thông qua xây dựng hệ sinh thái liên kết vùng. Theo đó, bài viết được triển khai theo ba nội dung chính: (1) phân tích vai trò của kinh tế tư nhân trong phát triển du lịch sinh thái An Giang; (2) nhận diện những hạn chế trong liên kết vùng Đồng bằng sông Cửu Long; và (3) đề xuất các giải pháp tăng cường cơ chế điều phối, phát huy vai trò của khu vực tư nhân theo tinh thần Nghị quyết số 68-NQ/TW.

Cơ sở lý luận và khung phân tích
Du lịch sinh thái bền vững trong kinh tế xanh.
Theo Hiệp hội Du lịch Sinh thái Quốc tế (TIES), du lịch sinh thái là du lịch có trách nhiệm đến các khu vực thiên nhiên nhằm bảo tồn môi trường, duy trì phúc lợi cho người dân địa phương và bao gồm các yếu tố giáo dục. Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (2022) nhấn mạnh tăng trưởng xanh trong du lịch đòi hỏi ba điều kiện cốt lõi: đổi mới mô hình kinh doanh xanh; quản lý dựa trên sức chịu tải của hệ sinh thái; và huy động khu vực tư nhân thông qua chính sách khuyến khích phù hợp .Đây là khung chuẩn để đánh giá thực trạng và đề xuất giải pháp cho du lịch sinh thái An Giang trong bài viết này.

Lý thuyết Tạo ra giá trị chung – nền tảng cho vai trò kinh tế tư nhân. Lý thuyết tạo ra giá trị chung của Porter và Kramer (2011) chỉ rõ doanh nghiệp có thể đồng thời tạo ra giá trị kinh tế và giá trị xã hội – môi trường . Trong du lịch sinh thái, tạo ra giá trị chung thể hiện cụ thể: doanh nghiệp tư nhân đầu tư bảo tồn rừng, phát triển làng nghề hay nông nghiệp sinh thái không chỉ tạo sản phẩm du lịch độc đáo mà còn đóng góp trực tiếp vào các mục tiêu phát triển xanh của địa phương. Tuy nhiên, tạo ra giá trị chung không thể hiện thực hóa từng doanh nghiệp đơn lẻ; nó đòi hỏi một hệ sinh thái – mạng lưới liên kết giữa doanh nghiệp, chính quyền, cộng đồng và thị trường – để duy trì và nhân rộng giá trị chung đó. Đây là lý do tại sao thiếu liên kết vùng sẽ triệt tiêu tiềm năng tạo ra giá trị chung của từng doanh nghiệp tư nhân.

Lý thuyết cụm ngành – nền tảng cho liên kết vùng. Lý thuyết cụm ngành (cluster theory) của tác giả Porter chỉ ra rằng sức cạnh tranh của một điểm đến du lịch phụ thuộc quyết định vào chất lượng mạng lưới liên kết với các điểm đến bổ sung trong vùng. Khi thiếu liên kết cụm ngành, từng doanh nghiệp tư nhân – dù năng động đến đâu – bị giới hạn bởi quy mô nhỏ, sản phẩm đơn lẻ và không thể thâm nhập thị trường quốc tế bền vững. Đây chính là cơ chế giải thích nghịch lý của An Giang và Đồng bằng song Cửu Long: tài nguyên phong phú, doanh nghiệp đông đảo nhưng chưa tạo ra sức cạnh tranh vùng tương xứng.

Ba lý thuyết trên cùng cung cấp một khung phân tích nhất quán cho bài viết: kinh tế tư nhân cần được đặt trong hệ sinh thái, hệ sinh thái đó phải có liên kết vùng (cluster theory), và toàn bộ quá trình hướng đến tăng trưởng xanh (OECD framework). Đây cũng chính là ba tầng lập luận cốt lõi được triển khai trong thực tiễn: (1) Tạo giá trị chung; (2) Liên kết vùng theo mô hình cụm ngành; (3) Chuyển đổi sang mô hình kinh doanh xanh. Nghĩa là, doanh nghiệp sẽ tạo ra lợi nhuận song hành với việc bảo tồn môi trường và hỗ trợ cộng đồng; kết nối giữa các doanh nghiệp và điểm đến để vượt qua hạn chế về quy mô nhỏ lẻ; đồng thời, thực hiện quản lý du lịch dựa trên sức chịu tải của hệ sinh thái và chính sách khuyến khích phù hợp.

Từ các tiếp cận lý thuyết trên có thể khẳng định rằng, du lịch sinh thái trong nghiên cứu này không chỉ được xem là một loại hình du lịch, mà là một cấu phần quan trọng của mô hình tăng trưởng xanh, trong đó khu vực kinh tế tư nhân đóng vai trò trung tâm trong việc chuyển hóa tài nguyên sinh thái thành giá trị kinh tế bền vững.

Tầng 1: Kinh tế tư nhân đã là lực lượng chủ đạo trong du lịch sinh thái An Giang.
Dưới góc độ chính sách phát triển, có thể nhận thấy khu vực kinh tế tư nhân tại An Giang không chỉ đơn thuần là lực lượng tham gia thị trường, mà đã và đang giữ vai trò dẫn dắt trong quá trình hình thành các mô hình du lịch sinh thái gắn với tăng trưởng xanh. Sự chủ động đầu tư, đổi mới sản phẩm và thích ứng với xu hướng tiêu dùng xanh đã cho thấy khu vực này đang từng bước hiện thực hóa định hướng của Đảng về phát triển kinh tế tư nhân trở thành động lực quan trọng của nền kinh tế.

Tiềm năng tài nguyên và kết quả tăng trưởng. An Giang là tỉnh duy nhất ở Đồng bằng song Cửu Long có địa hình vừa đồng bằng vừa đồi núi, sở hữu ba cụm tài nguyên sinh thái đặc sắc: (i) rừng tràm Trà Sư khoảng 850 ha – một trong những khu rừng tràm nguyên sinh lớn nhất Đồng bằng song Cửu Long; (ii) hệ sinh thái ngập nước sông Tiền – sông Hậu và Búng Bình Thiên – hồ nước ngọt tự nhiên lớn nhất Đồng bằng song Cửu Long; (iii) vùng núi Thất Sơn với hệ động thực vật đặc trưng và chuỗi di tích tín ngưỡng – văn hóa đa sắc tộc Kinh – Khmer – Chăm – Hoa. Đây là nền tảng tài nguyên đủ điều kiện để phát triển du lịch sinh thái đẳng cấp vùng và quốc tế.

Về kết quả, năm 2024 tỉnh An Giang đón khoảng 9,2 triệu lượt khách, trong đó khách quốc tế đạt khoảng 185.000 lượt; tổng doanh thu du lịch ước đạt 5.800 tỷ đồng, tăng 12,4% so với năm 2023 , phản ánh sức hút ngày càng tăng của điểm đến, đặc biệt sau sắp xếp đơn vị hành chính khi tỉnh bổ sung thêm tài nguyên du lịch biển đảo từ Phú Quốc và quần đảo Nam Du.

Kinh tế tư nhân đã chiếm vai trò chủ đạo. Khu vực kinh tế tư nhân hiện giữ vai trò chủ đạo trong ngành du lịch An Giang, chiếm khoảng 87% cơ sở lưu trú và 93% cơ sở dịch vụ ăn uống, lữ hành. Đến cuối năm 2024, tỉnh có khoảng 1.240 doanh nghiệp tư nhân hoạt động trong lĩnh vực du lịch – dịch vụ, tăng 18,3% so với năm 2022, trong đó khoảng 156 doanh nghiệp hoạt động trực tiếp trong du lịch sinh thái. Giai đoạn 2021–2025, vốn đầu tư tư nhân vào hạ tầng du lịch sinh thái đạt trên 2.300 tỷ đồng, tương đương khoảng 68% tổng vốn đầu tư của ngành.

Không chỉ dẫn đầu về đầu tư, khu vực tư nhân còn tích cực đổi mới sản phẩm với các mô hình du lịch cộng đồng, homestay nông nghiệp và ứng dụng công nghệ số trong kết nối, cá nhân hóa dịch vụ. Điều này cho thấy kinh tế tư nhân tại An Giang có đủ động lực và năng lực phát triển; vấn đề đặt ra là làm thế nào để phát huy hiệu quả hơn thông qua các cơ chế liên kết và hợp tác vùng.

Tầng 2: Điểm nghẽn cốt lõi – chưa tạo được hệ sinh thái liên kết vùng
|
Chính việc khu vực kinh tế tư nhân An Giang đã có tiềm lực và sự tham gia mạnh mẽ càng cho thấy nhu cầu làm rõ nguyên nhân khiến du lịch sinh thái chưa tạo được bước đột phá. Thực trạng cho thấy điểm nghẽn không nằm ở nguồn lực hay doanh nghiệp, mà ở sự thiếu hụt một hệ sinh thái liên kết vùng hiệu quả, thể hiện qua bốn hạn chế có mối liên hệ chặt chẽ với nhau:

Liên kết vùng còn rời rạc và hình thức. Mặc dù An Giang đã tham gia các cơ chế hợp tác du lịch trong vùng Đồng bằng sông Cửu Long và ký kết liên kết với nhiều địa phương, hiệu quả liên kết vẫn còn hạn chế. Tỷ lệ khách du lịch kết hợp tham quan từ hai tỉnh trở lên trong vùng chỉ khoảng 23%, thấp hơn đáng kể so với các vùng du lịch phát triển khác; đồng thời chưa hình thành sản phẩm du lịch sinh thái liên tỉnh theo cơ chế đồng thương hiệu và chia sẻ doanh thu.

Hệ quả là thời gian lưu trú trung bình của khách tại An Giang chỉ đạt khoảng 1,8 ngày, thấp hơn nhiều so với các điểm đến sinh thái hàng đầu trong khu vực Đông Nam Á. Việc thiếu các tuyến du lịch liên kết hấp dẫn đã hạn chế khả năng mở rộng thị trường và nâng cao giá trị gia tăng của doanh nghiệp tư nhân, cho thấy vai trò then chốt của liên kết vùng trong nâng cao năng lực cạnh tranh du lịch.

Sản phẩm thiếu tính khác biệt – hệ quả tất yếu của thiếu liên kết chuỗi. Theo Viện Nghiên cứu Phát triển Du lịch Việt Nam (2024), hơn 70% sản phẩm du lịch sinh thái tại Đồng bằng sông Cửu Long, trong đó có An Giang, có mức độ tương đồng cao, chủ yếu khai thác cảnh quan sông nước, vườn cây ăn trái và đặc sản địa phương, trong khi thiếu các trải nghiệm đặc sắc gắn với bản sắc văn hóa. Thực trạng này phản ánh sự thiếu liên kết trong chuỗi giá trị du lịch vùng, khiến các doanh nghiệp phát triển sản phẩm riêng lẻ, dễ dẫn đến trùng lặp và cạnh tranh nội vùng, thay vì nâng cao sức cạnh tranh với các điểm đến trong khu vực và quốc tế.

Doanh nghiệp tư nhân nhỏ lẻ – thiếu năng lực hội nhập thị trường quốc tế. Phần lớn doanh nghiệp du lịch tư nhân tại An Giang có quy mô nhỏ và siêu nhỏ, với khoảng 84% tổng số doanh nghiệp trong ngành. Khảo sát năm 2024 cho thấy nhiều doanh nghiệp gặp khó khăn về thủ tục hành chính, tiếp cận vốn đầu tư xanh và kết nối thị trường quốc tế. Thực trạng này cho thấy không phải doanh nghiệp thiếu năng lực, mà chủ yếu do thiếu một hệ sinh thái hỗ trợ và liên kết hiệu quả. Khi chưa hình thành chuỗi giá trị chung, các doanh nghiệp khó tạo lợi thế quy mô, hạn chế khả năng đầu tư, đổi mới và mở rộng thị trường.

Chính sách hỗ trợ chưa kiến tạo được hệ sinh thái. Doanh nghiệp tư nhân đầu tư vào du lịch sinh thái bền vững đối mặt với chi phí ban đầu cao (công nghệ xanh, tiêu chuẩn môi trường, đào tạo nhân lực) trong khi lợi nhuận chỉ xuất hiện dài hạn – đây là thất bại thị trường (market failure) điển hình của hàng hóa công cộng và ngoại tác tích cực, đòi hỏi can thiệp chính sách. Tuy nhiên, các cơ chế hỗ trợ hiện hành mới chỉ dừng ở mức hành chính (đơn giản hóa thủ tục, ưu đãi thuê đất) mà thiếu gói hỗ trợ tài chính xanh, thiếu hệ thống chứng nhận du lịch sinh thái bền vững và thiếu nền tảng số kết nối thị trường cấp tỉnh và vùng.

Nhìn tổng thể, bốn điểm nghẽn trên không độc lập mà liên kết thành một cấu trúc hệ thống: thiếu liên kết ngang giữa các địa phương và doanh nghiệp trong vùng → sản phẩm trùng lặp, không tạo được hành trình đủ dài → doanh nghiệp nhỏ lẻ không có lợi thế quy mô → không đủ sức đầu tư xanh dài hạn → chính sách thiếu hệ sinh thái hỗ trợ. Điểm khởi đầu để phá vỡ vòng luẩn quẩn này chính là xây dựng hệ sinh thái liên kết vùng.

Những hạn chế nêu trên không chỉ phản ánh vấn đề nội tại của doanh nghiệp, mà còn cho thấy vai trò kiến tạo của Nhà nước và chính quyền địa phương chưa được phát huy đầy đủ trong việc hình thành một hệ sinh thái phát triển đồng bộ. Điều này đặt ra yêu cầu phải chuyển đổi mạnh mẽ từ tư duy quản lý sang tư duy kiến tạo phát triển, trong đó Nhà nước đóng vai trò điều phối, dẫn dắt và tạo lập môi trường thuận lợi cho khu vực kinh tế tư nhân phát triển.

Tầng 3: Xây dựng hệ sinh thái – liên kết – đổi mới sáng tạo.
Từ chẩn đoán điểm nghẽn hệ thống ở tầng 2, bộ giải pháp cần được thiết kế theo logic đảo ngược: phá vỡ trước nhất sự rời rạc liên kết vùng, từ đó tạo nền tảng cho đổi mới sáng tạo sản phẩm, và hoàn thiện hệ sinh thái chính sách để duy trì vòng xoáy tăng trưởng bền vững.

Xây dựng hệ sinh thái liên kết vùng – giải pháp gốc rễ. Giải pháp nền tảng là thành lập Liên minh Du lịch Sinh thái Đồng bằng song Cửu Long (Mekong Ecotourism Alliance) – tổ chức đối tác công – tư cấp vùng, hoạt động theo mô hình phi lợi nhuận, với sự tham gia của doanh nghiệp tư nhân đầu ngành từ các tỉnh Đồng bằng song Cửu Long, cơ quan quản lý du lịch cấp tỉnh và Tổng cục Du lịch Việt Nam. Mô hình này phù hợp với Quy hoạch vùng Đồng bằng song Cửu Long giai đoạn 2021-2030 .

Liên minh cần thực hiện ba nhiệm vụ cốt lõi để tạo liên kết thực chất thay vì hình thức: (i) Thiết kế và triển khai ít nhất 3-5 chuỗi sản phẩm du lịch sinh thái liên tỉnh kết nối An Giang với Đồng Tháp, Kiên Giang và Cần Thơ, với cơ chế chia sẻ doanh thu minh bạch; (ii) Xây dựng thương hiệu du lịch sinh thái Đồng bằng song Cửu Long đủ mạnh để cạnh tranh với các điểm đến sinh thái quốc tế trong khu vực; (iii) Đại diện đàm phán và ký kết với các hãng lữ hành quốc tế và nền tảng đặt tour trực tuyến, tạo kênh phân phối chung cho toàn bộ doanh nghiệp tư nhân trong vùng.

Tại cấu trúc liên kết đó, An Giang cần định vị mình là “gateway destination” – điểm khởi đầu và kết thúc lý tưởng của các tour sinh thái Đồng bằng song Cửu Long – dựa trên lợi thế so sánh độc nhất: địa hình núi – sông – biên giới, đa dạng văn hóa Khmer – Chăm – Kinh, và hạ tầng giao thông kết nối với Campuchia và Thái Lan. Khi được định vị trong chuỗi giá trị vùng, các doanh nghiệp tư nhân An Giang có thể chuyên môn hóa và khai thác lợi thế so sánh thay vì cạnh tranh toàn diện với từng tỉnh trong vùng .

Trong quá trình triển khai các giải pháp liên kết vùng, vai trò của chính quyền địa phương cần được xác định như một “nhạc trưởng” điều phối các chủ thể trong hệ sinh thái du lịch sinh thái. Chính quyền không chỉ ban hành chính sách mà cần trực tiếp tham gia vào việc thiết kế cơ chế liên kết, hỗ trợ thông tin thị trường, kết nối doanh nghiệp và xây dựng thương hiệu chung cho toàn vùng. Đây là điều kiện tiên quyết để chuyển các liên kết mang tính hình thức hiện nay thành liên kết thực chất, có khả năng tạo ra giá trị gia tăng bền vững.

Thúc đẩy đổi mới sáng tạo sản phẩm – tạo sự khác biệt không thể sao chép.
Khi đã có liên kết vùng làm nền tảng, bước tiếp theo là hỗ trợ doanh nghiệp tư nhân đổi mới sáng tạo sản phẩm để tạo ra giá trị gia tăng cao hơn. Tỉnh An Giang cần xây dựng Trung tâm Đổi mới Sáng tạo Du lịch Sinh thái An Giang (Ecotourism Innovation Hub) – kết nối giữa doanh nghiệp tư nhân, Trường Đại học An Giang, Trường Chính trị Tôn Đức Thắng và các tổ chức du lịch quốc tế.

Trung tâm tập trung vào ba hướng đổi mới ưu tiên, mỗi hướng gắn với một lợi thế không thể thay thế của An Giang: (i) Sản phẩm “nông nghiệp xanh – sinh thái” kết hợp công nghệ số và AI cá nhân hóa – khai thác lợi thế nông nghiệp Đồng bằng song Cửu Long; (ii) Sản phẩm du lịch giáo dục về biến đổi khí hậu và hệ sinh thái Đồng bằng song Cửu Long dành cho khách học thuật quốc tế – khai thác lợi thế địa lý hội tụ núi – sông – biên giới; (iii) Du lịch cộng đồng đa sắc tộc Khmer – Chăm – Kinh tại vùng biên giới – tạo ra sản phẩm không thể sao chép mà không địa phương nào trong vùng Đồng bằng song Cửu Long có được. Chính sự khác biệt không thể thay thế này là vũ khí cạnh tranh để An Giang vươn ra thị trường quốc tế

Hoàn thiện hệ sinh thái chính sách hỗ trợ đầu tư xanh – duy trì vòng xoáy tăng trưởng bền vững. Để giải quyết triệt để thất bại thị trường trong đầu tư du lịch sinh thái xanh, tỉnh An Giang cần ban hành Nghị quyết chuyên đề về phát triển du lịch sinh thái bền vững gắn với kinh tế tư nhân và liên kết vùng Đồng bằng song Cửu Long, với ba nhóm công cụ chính sách cụ thể:

Về tài chính xanh: thiết lập Quỹ Phát triển Du lịch Sinh thái Bền vững An Giang (từ ngân sách tỉnh, vốn ODA và đóng góp doanh nghiệp) để hỗ trợ lãi suất vay đầu tư xanh; triển khai cơ chế chi trả dịch vụ hệ sinh thái (PES) để doanh nghiệp du lịch đóng góp vào bảo tồn tài nguyên thiên nhiên – tạo vòng phản hồi bền vững giữa kinh doanh và bảo tồn .

Về chứng nhận và tiêu chuẩn xanh: xây dựng hệ thống “Nhãn Du lịch Xanh An Giang” theo tiêu chuẩn Global Sustainable Tourism Council, tạo nền tảng để doanh nghiệp địa phương tiến tới chứng nhận quốc tế, mở rộng thị trường khách châu Âu, Bắc Mỹ và Nhật Bản – những phân khúc chi tiêu cao và yêu cầu khắt khe về tiêu chuẩn môi trường.

Về chuyển đổi số: đầu tư xây dựng Nền tảng số du lịch sinh thái An Giang (Eco-Tourism Digital Platform) – tích hợp bản đồ tài nguyên sinh thái, đặt tour trực tuyến, đánh giá tiêu chuẩn xanh, kết nối với Booking.com, GetYourGuide và Airbnb Experiences. Đây chính là giải pháp công nghệ cho bài toán “71% doanh nghiệp thiếu thông tin và kết nối thị trường quốc tế” được chỉ ra ở tầng 2.

Nhà nước không chỉ đóng vai trò quản lý mà cần chuyển sang vai trò “kiến tạo phát triển”, thông qua việc thiết kế thể chế liên kết vùng, cung cấp hạ tầng số và tạo lập môi trường đầu tư minh bạch, ổn định. Đối với An Giang, chính quyền địa phưởng cần trở thành “nhạc trưởng” trong việc điều phối liên kết vùng, dẫn dắt xây dựng thường hiệu du lịch sinh thái và hỗ trợ doanh nghiệp tư nhân tiếp cận thị trường quốc tế. Đây không phải sự thế chỗ cho khu vực tư nhân, mà là điều kiện tiên quyết để kiến tạo hệ sinh thái đủ sức phát huy ở “động lực quan trọng nhất” của nền kinh tế.

Du lịch sinh thái trong nghiên cứu này không chỉ được xem là một loại hình du lịch, mà là một cấu phần của mô hình tăng trưởng xanh, nời kinh tế tư nhân đóng vai trò chuyển hóa tài nguyên sinh thái thành giá trị kinh tế bền vững. Nhìn theo góc độ này, ba giải pháp ở tầng 3 của bài viết – liên minh vùng, hub đổi mới sáng tạo và chính sách xanh – không chỉ là giải pháp ngành, mà là các cấu phần tất yếu của một chiến lược tăng trưởng xanh toàn diện và bền vững cho tỉnh An Giang.

Kết quả nghiên cứu cho thấy khu vực kinh tế tư nhân tại An Giang đã có đủ tiềm lực và động lực để giữ vai trò dẫn dắt phát triển du lịch sinh thái, nhưng hiệu quả vẫn bị hạn chế bởi sự thiếu hụt một hệ sinh thái liên kết vùng. Do đó, giải pháp trọng tâm không phải là gia tăng số lượng doanh nghiệp hay khai thác thêm tài nguyên, mà là xây dựng cơ chế liên kết vùng hiệu quả, thúc đẩy đổi mới sáng tạo sản phẩm và hoàn thiện hệ sinh thái chính sách hỗ trợ.

Trong bối cảnh thực hiện Nghị quyết số 68-NQ/TW và chuyển đổi sang mô hình tăng trưởng xanh, phát triển du lịch sinh thái cần được xem là một lĩnh vực tiêu biểu để phát huy vai trò của kinh tế tư nhân. Điều này đòi hỏi Nhà nước chuyển mạnh sang vai trò kiến tạo và điều phối, đồng thời triển khai đồng bộ các giải pháp về liên kết vùng, đổi mới sáng tạo và chính sách hỗ trợ đầu tư xanh, trong đó liên kết vùng là nền tảng mang tính quyết định.

Từ góc độ chính sách, phát triển du lịch sinh thái bền vững chỉ có thể đạt hiệu quả khi Nhà nước và khu vực kinh tế tư nhân cùng tham gia trong một hệ sinh thái liên kết chặt chẽ: Nhà nước giữ vai trò kiến tạo môi trường phát triển, còn khu vực tư nhân đóng vai trò trung tâm trong đầu tư, đổi mới sáng tạo và kết nối thị trường. Nếu được triển khai hiệu quả, du lịch sinh thái sẽ trở thành động lực quan trọng thúc đẩy tăng trưởng xanh, nâng cao năng lực cạnh tranh và góp phần hiện thực hóa mục tiêu đưa An Giang trở thành điểm đến sinh thái có vị thế trong khu vực và quốc tế đến năm 2050.

TS.Mai Chiếm Hiếu/Khoa Kinh tế Chính trị – Học viện Chính trị khu vực II

Danh mục tài liệu tham khảo
1. ADB: Green Value Chain: Promoting Sustainable Tourism in Southeast Asia, Manila, 2024.
2. Ban Chỉ đạo Tây Nam Bộ: Báo cáo liên kết phát triển du lịch vùng Đồng bằng sông Cửu Long năm 2023-2024, Cần Thơ, 2025.
3. Bộ Chính trị: Nghị quyết số 68-NQ/TW ngày 04/5/2025 về phát triển kinh tế tư nhân trở thành một động lực quan trọng của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, Hà Nội, 2025.
4. Bộ Kế hoạch và Đầu tư: Sách trắng doanh nghiệp Việt Nam 2024, NXB. Thống kê, Hà Nội, 2024.
5. Bộ Tài nguyên và Môi trường: Báo cáo hiện trạng môi trường quốc gia năm 2024 – Đồng bằng sông Cửu Long trước thách thức biến đổi khí hậu, Hà Nội, 2024.
6. Cục Thống kê tỉnh An Giang: Niên giám thống kê tỉnh An Giang năm 2024, NXB. Thống kê, An Giang, 2025.
7. Hiệp hội Du lịch Đồng bằng sông Cửu Long: Báo cáo kết quả hoạt động và định hướng phát triển du lịch vùng năm 2025, Cần Thơ, 2025.
8. IUCN: Guidelines for Ecotourism in Natural and Protected Areas, Gland, Switzerland, 2019.
9. OECD: Green Growth and Tourism, Paris, 2022.
10. Porter, M.E. & Kramer, M.R.: “Creating Shared Value”, Harvard Business Review, Vol.89, No.1/2, 2011.
11. Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh An Giang: Báo cáo tình hình đăng ký doanh nghiệp và hoạt động kinh tế tư nhân trong lĩnh vực du lịch – dịch vụ năm 2024, An Giang, tháng 02/2025.
12. Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh An Giang: Báo cáo khảo sát chỉ số hài lòng của khách du lịch tại An Giang năm 2024, An Giang, tháng 3/2025.
13. Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh An Giang: Báo cáo tổng kết hoạt động du lịch năm 2024 và định hướng 2025, An Giang, tháng 01/2025.
14. Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh An Giang: Đề án phát triển du lịch tỉnh An Giang giai đoạn 2021-2025, định hướng đến năm 2030, An Giang, 2021.
15. Thủ tướng Chính phủ: Quyết định số 287/QĐ-TTg ngày 28/02/2022 phê duyệt Quy hoạch vùng Đồng bằng sông Cửu Long thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050, Hà Nội, 2022.
16. Tổng cục Du lịch Việt Nam: Quyết định số 147/QĐ-TTg ngày 22/01/2020 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chiến lược phát triển du lịch Việt Nam đến năm 2030, Hà Nội, 2020.
17. UBND tỉnh An Giang: Kế hoạch số 112/KH-UBND ngày 15/3/2025 về triển khai Nghị quyết 68-NQ/TW trên địa bàn tỉnh An Giang, An Giang, 2025.
18. UBND tỉnh An Giang: Quyết định số 1572/QĐ-UBND ngày 28/6/2024 phê duyệt Quy hoạch tỉnh An Giang thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050, An Giang, 2024.
19. UNDP Việt Nam: Báo cáo Phát triển con người Việt Nam 2024 – Chuyển đổi xanh và tăng trưởng bền vững, Hà Nội, 2024.
20. UNWTO: Tourism for SDGs Platform. Tại: https://tourism4sdgs.org, truy cập ngày 15/4/2026.
21. Viện Nghiên cứu Phát triển Du lịch Việt Nam: Báo cáo thường niên du lịch Việt Nam 2024, Hà Nội, 2025.
22. World Bank: Tourism and the Private Sector: Partnership for Sustainable Development, Washington D.C., 2023.