Gần 80 năm sau Hội nghị Văn hóa toàn quốc lần thứ nhất (1946), lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Văn hóa phải soi đường cho quốc dân đi” vẫn vẹn nguyên giá trị. Trong tiến trình phát triển đất nước, văn hóa luôn được xác định là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu, vừa là động lực phát triển. Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu quan trọng, đời sống văn hóa hiện nay cũng bộc lộ nhiều biểu hiện lệch chuẩn, đòi hỏi những giải pháp quyết liệt để chấn hưng văn hóa, xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện, đáp ứng yêu cầu của kỷ nguyên mới.

Văn hóa soi đường cho quốc dân đi – tư tưởng vượt thời đại của Chủ tịch Hồ Chí Minh.
Trong Đề cương về văn hóa Việt Nam năm 1943 cùng nhiều bài viết, bài nói sau này, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đưa ra quan niệm toàn diện về văn hóa. Theo Người, văn hóa không chỉ bao gồm văn học, nghệ thuật hay các hoạt động tinh thần đơn thuần mà là toàn bộ những giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo ra nhằm phục vụ cuộc sống. Từ tiếng nói, chữ viết, đạo đức, pháp luật đến khoa học, lối sống và cách ứng xử đều thuộc phạm vi văn hóa. Với cách tiếp cận đó, xây dựng văn hóa thực chất là xây dựng con người và tạo dựng nền tảng bền vững cho sự phát triển của quốc gia, dân tộc.
Tháng 11/1946, tại Hội nghị Văn hóa toàn quốc lần thứ nhất, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nêu luận điểm nổi tiếng: “Văn hóa phải soi đường cho quốc dân đi”. Câu nói ngắn gọn nhưng hàm chứa tầm nhìn chiến lược sâu sắc. Người không xem văn hóa là lĩnh vực đi sau hay phụ thuộc vào sự phát triển kinh tế, chính trị, mà là lực lượng dẫn dắt, định hướng cho toàn bộ tiến trình phát triển của đất nước. Một dân tộc muốn phát triển bền vững phải có nền văn hóa đủ mạnh để nuôi dưỡng lý tưởng, đạo đức, khát vọng và niềm tin của nhân dân.
Tư tưởng ấy tiếp tục được thể hiện qua quan niệm của Người về năm nhiệm vụ lớn của văn hóa: xây dựng tâm lý độc lập, tự cường; xây dựng luân lý biết hy sinh vì lợi ích chung; xây dựng xã hội vì hạnh phúc của nhân dân; xây dựng chính trị dân chủ; và xây dựng nền kinh tế vững mạnh. Điều đó cho thấy ngay từ những năm đầu của cách mạng, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhìn nhận văn hóa như một bộ phận hữu cơ trong chiến lược phát triển đất nước. Văn hóa không đứng ngoài đời sống mà phải tham gia trực tiếp vào việc tạo dựng sức mạnh tổng hợp của quốc gia, trở thành nền tảng tinh thần và động lực cho sự nghiệp giải phóng dân tộc, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Đặc biệt, Người nhấn mạnh văn hóa phải làm cho nhân dân “hiểu biết hơn, đoàn kết hơn, phấn khởi hơn và tin tưởng hơn” vào tương lai của dân tộc. Đây chính là thước đo cốt lõi của một nền văn hóa chân chính. Khi văn hóa góp phần nâng cao nhận thức, bồi đắp nhân cách, củng cố trách nhiệm công dân và khơi dậy niềm tin vào tương lai, văn hóa đã hoàn thành sứ mệnh soi đường cho xã hội phát triển. Ngược lại, nếu văn hóa suy giảm vai trò định hướng, những khoảng trống về giá trị rất dễ bị lấp đầy bởi các biểu hiện lệch chuẩn, làm ảnh hưởng đến sự phát triển lành mạnh của cộng đồng và đất nước.
Những thành tựu quan trọng khẳng định sức sống của nền văn hóa Việt Nam.
Gần tám thập kỷ qua, nền văn hóa Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng, góp phần khẳng định vai trò nền tảng tinh thần của xã hội và sức sống bền bỉ của các giá trị dân tộc. Hệ thống di sản văn hóa vật thể và phi vật thể không ngừng được bảo tồn, tôn tạo và phát huy giá trị. Nhiều di sản của Việt Nam được quốc tế ghi nhận, góp phần quảng bá hình ảnh đất nước, con người và bản sắc văn hóa Việt Nam ra thế giới. Các giá trị truyền thống tốt đẹp tiếp tục được gìn giữ, trở thành nguồn lực tinh thần quan trọng, bồi đắp bản lĩnh, ý chí và sức mạnh đoàn kết của dân tộc trong quá trình phát triển.
Cùng với sự phát triển kinh tế – xã hội, đời sống văn học, nghệ thuật cũng có nhiều chuyển biến tích cực. Nhiều tác phẩm có giá trị tư tưởng và nghệ thuật đã phản ánh sinh động công cuộc đổi mới, sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, tạo được sức lan tỏa trong đời sống xã hội. Các hoạt động văn hóa ở cơ sở ngày càng được mở rộng, góp phần nâng cao khả năng tiếp cận và thụ hưởng văn hóa của người dân ở mọi vùng miền. Qua đó, đời sống tinh thần của nhân dân từng bước được cải thiện, đồng thời củng cố niềm tin vào con đường phát triển của đất nước.
Trong lĩnh vực giáo dục, xuất bản, báo chí và truyền thông, nhiều thành tựu quan trọng cũng được ghi nhận. Trình độ dân trí không ngừng được nâng cao, cơ hội tiếp cận tri thức ngày càng mở rộng. Phong trào học tập suốt đời, xây dựng xã hội học tập từng bước đi vào chiều sâu, tạo nền tảng để phát huy vai trò chủ thể sáng tạo văn hóa của mỗi người dân. Đây cũng là sự kế thừa và phát huy tinh thần nâng cao dân trí, xóa nạn mù chữ mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khởi xướng ngay từ những ngày đầu lập nước.
Những kết quả đạt được cho thấy văn hóa đã và đang đóng góp quan trọng vào sự nghiệp đổi mới và phát triển đất nước. Tuy nhiên, chính từ những thành tựu đó, yêu cầu tiếp tục xây dựng và phát triển văn hóa càng trở nên cấp thiết hơn. Việc nhìn nhận thẳng thắn những hạn chế, bất cập đang nảy sinh trong đời sống văn hóa là điều cần thiết để có những giải pháp phù hợp. Chỉ khi phát huy được những giá trị tích cực và khắc phục hiệu quả những biểu hiện lệch chuẩn, văn hóa mới tiếp tục khẳng định vai trò là nền tảng tinh thần của xã hội, là động lực nội sinh cho sự phát triển bền vững của đất nước trong giai đoạn mới.

Khi những lệch chuẩn tìm cách lấp đầy khoảng trống văn hóa
Bên cạnh những thành tựu quan trọng đã đạt được, đời sống văn hóa hiện nay cũng xuất hiện không ít biểu hiện đáng suy ngẫm. Trong môi trường số, tình trạng sử dụng ngôn ngữ thiếu chuẩn mực, các phát ngôn cực đoan, thông tin sai lệch và những nội dung câu khách bằng sự giật gân, phản cảm đang có xu hướng lan rộng. Đáng chú ý, không ít sản phẩm gây tranh cãi lại thu hút sự quan tâm lớn hơn những giá trị tích cực, nhân văn. Điều đó cho thấy vai trò định hướng của văn hóa đang đứng trước những thách thức mới trong bối cảnh bùng nổ thông tin và truyền thông đa nền tảng.
Một biểu hiện lệch chuẩn khác là xu hướng đề cao sự nổi tiếng tức thời hơn những giá trị cống hiến bền vững. Trong một số trường hợp, lượt theo dõi hay khả năng tạo hiệu ứng truyền thông được xem như thước đo chủ yếu của thành công. Khi sự chú ý của đám đông trở thành mục tiêu cao nhất, các chuẩn mực văn hóa và đạo đức dễ bị xem nhẹ, kéo theo nguy cơ xói mòn những giá trị nền tảng của xã hội.
Trong lĩnh vực văn học, nghệ thuật và nghiên cứu lịch sử, thời gian qua cũng xuất hiện những tranh luận liên quan đến cách tiếp cận quá khứ dân tộc, chiến tranh cách mạng và hình tượng những nhân vật lịch sử. Một số tác phẩm như “Nỗi buồn chiến tranh” của Bảo Ninh hay gần đây là “Câu chuyện với Thanh” của Nguyễn Thanh Nam đã tạo nên những luồng ý kiến khác nhau trong dư luận. Nhiều ý kiến bày tỏ băn khoăn khi cho rằng cách xây dựng nội dung, nhân vật hoặc các chi tiết hư cấu trong tác phẩm có thể dẫn đến những cách hiểu chưa đầy đủ về lịch sử, về hình ảnh người lính cách mạng và những giá trị đã được khẳng định qua thực tiễn đấu tranh của dân tộc.
Tranh luận học thuật là điều cần thiết đối với sự phát triển của đời sống văn hóa. Tuy nhiên, khi tiếp cận các vấn đề lịch sử và cách mạng, yêu cầu về tính khách quan, toàn diện và trách nhiệm xã hội luôn cần được đặt lên hàng đầu. Những giá trị cốt lõi đã được lịch sử kiểm chứng cần được nhìn nhận trên cơ sở tôn trọng sự thật lịch sử, góp phần củng cố niềm tin xã hội và giáo dục truyền thống cho các thế hệ mai sau.
Điều xã hội quan tâm không chỉ là giá trị nghệ thuật của một tác phẩm mà còn là trách nhiệm văn hóa đối với cộng đồng. Một nền văn hóa lành mạnh phải góp phần bồi đắp ký ức lịch sử, lan tỏa những giá trị tích cực, khơi dậy lòng yêu nước, tinh thần trách nhiệm công dân và tăng cường sự đồng thuận xã hội. Đó cũng chính là cách để văn hóa tiếp tục thực hiện sứ mệnh “soi đường cho quốc dân đi” trong bối cảnh mới.
Không thể để thị trường, thuật toán và thị hiếu nhất thời dẫn dắt xã hội.
Trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, thị trường là động lực quan trọng thúc đẩy sáng tạo, phát triển các ngành công nghiệp văn hóa và mở rộng khả năng tiếp cận các sản phẩm văn hóa đến công chúng. Tuy nhiên, quy luật thị trường không thể thay thế vai trò định hướng chính trị, tư tưởng và giá trị của văn hóa. Nếu mọi giá trị tinh thần chỉ được đánh giá bằng doanh thu, lượt tiếp cận hay hiệu ứng thương mại, rất dễ dẫn đến sự nhầm lẫn giữa cái phổ biến với cái đúng đắn, giữa giá trị nhất thời với giá trị bền vững. Văn hóa chân chính không chỉ đáp ứng nhu cầu hưởng thụ mà còn có sứ mệnh giáo dục, định hướng và nâng cao đời sống tinh thần của con người, hướng tới các giá trị chân, thiện, mỹ.
Sự phát triển của công nghệ số và các nền tảng mạng xã hội đã mở ra cơ hội to lớn cho việc quảng bá và lan tỏa các giá trị văn hóa. Tuy nhiên, nhiều nền tảng số hiện nay vận hành chủ yếu theo cơ chế tối đa hóa sự chú ý và lợi nhuận, khiến những nội dung gây tranh cãi, giật gân hoặc lệch chuẩn có xu hướng được lan truyền nhanh hơn các giá trị tích cực. Điều đó đặt ra yêu cầu phải nâng cao năng lực quản lý, định hướng và chọn lọc thông tin, đồng thời xây dựng môi trường văn hóa số lành mạnh để không gian mạng thực sự trở thành động lực phát triển văn hóa, thay vì trở thành nơi khuếch đại các biểu hiện lệch chuẩn và tác động tiêu cực đến đời sống xã hội.
Bên cạnh đó, cần có cái nhìn khách quan trong đánh giá các sản phẩm văn hóa, nghệ thuật. Việc một tác phẩm được quốc tế ghi nhận, dịch ra nhiều ngôn ngữ hay giành được các giải thưởng uy tín là điều đáng trân trọng, phản ánh năng lực sáng tạo và sức lan tỏa của văn hóa Việt Nam. Tuy nhiên, sự ghi nhận từ bên ngoài không thể trở thành tiêu chí duy nhất để đánh giá giá trị của một tác phẩm. Giá trị đích thực của văn hóa trước hết phải được đo bằng khả năng góp phần phát triển con người, bồi đắp bản sắc dân tộc, lan tỏa những giá trị nhân văn và phục vụ lợi ích của cộng đồng.
Lịch sử hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam cho thấy mọi giá trị văn hóa bền vững đều bắt nguồn từ nhân dân, gắn bó với nhân dân và hướng tới phụng sự Tổ quốc. Vì vậy, thước đo cuối cùng của văn hóa không nằm ở mức độ nổi tiếng hay số lượng giải thưởng đạt được, mà ở tác động tích cực đối với đời sống tinh thần xã hội. Một nền văn hóa mạnh không chỉ tạo ra các giá trị nghệ thuật đặc sắc mà còn phải có khả năng định hướng tư tưởng, bồi đắp nhân cách, khơi dậy khát vọng cống hiến và củng cố niềm tin của nhân dân vào những giá trị tốt đẹp của dân tộc và con đường phát triển đất nước.
Nhìn thẳng những bất cập trong quản lý văn hóa để đổi mới mạnh mẽ
Sự phát triển nhanh chóng của kinh tế thị trường, công nghệ số và các nền tảng truyền thông mới đang đặt ra những thách thức chưa từng có đối với công tác quản lý văn hóa. Nhiều quy định pháp luật được xây dựng trong bối cảnh trước đây đã bộc lộ những hạn chế nhất định khi phải điều chỉnh các hình thức sáng tạo, truyền tải và tiếp nhận thông tin hoàn toàn mới. Trong khi các sản phẩm văn hóa được lan truyền với tốc độ gần như tức thời, công tác quản lý nhiều khi vẫn chưa theo kịp sự vận động nhanh chóng của thực tiễn.
Thực tế thời gian qua cho thấy không ít hiện tượng lệch chuẩn trên không gian mạng chỉ được phát hiện và xử lý khi đã tạo ra tác động xã hội đáng kể. Từ những nội dung phản cảm, xuyên tạc lịch sử, cổ súy lối sống thực dụng đến các sản phẩm giải trí gây tranh cãi, nhiều trường hợp đã thu hút lượng lớn người tiếp cận trước khi cơ quan chức năng có biện pháp can thiệp phù hợp. Điều đó đặt ra yêu cầu phải nâng cao năng lực dự báo, nhận diện sớm nguy cơ và hoàn thiện cơ chế quản trị văn hóa trong môi trường số.
Một vấn đề khác cần được quan tâm là công tác định hướng dư luận trong các vấn đề văn hóa, lịch sử và nghệ thuật. Trong bối cảnh thông tin đa chiều, những tranh luận liên quan đến các tác phẩm văn học, điện ảnh hoặc cách tiếp cận các sự kiện lịch sử thường diễn ra mạnh mẽ trên không gian mạng. Tuy nhiên, ở một số thời điểm, các quan điểm chính thống có cơ sở khoa học và sức thuyết phục chưa được truyền tải kịp thời, tạo ra khoảng trống thông tin để các nhận định cảm tính hoặc thiếu kiểm chứng lan rộng.
Những tranh luận xung quanh một số tác phẩm văn học về đề tài chiến tranh cách mạng trong nhiều năm qua cho thấy rõ yêu cầu đó. Các ý kiến trái chiều liên quan đến cách khắc họa hình tượng người lính, cách tiếp cận lịch sử hay việc sử dụng yếu tố hư cấu trong sáng tác đã đặt ra câu hỏi về ranh giới giữa tự do sáng tạo nghệ thuật và trách nhiệm xã hội của người cầm bút. Đây là những vấn đề cần được trao đổi trên cơ sở khoa học, khách quan và tôn trọng lịch sử, đồng thời bảo đảm vai trò của văn hóa trong việc bồi đắp lòng yêu nước, niềm tự hào dân tộc và ý thức trách nhiệm công dân.
Nhìn thẳng vào những bất cập trong công tác quản lý văn hóa không phải để phủ nhận những nỗ lực và kết quả đã đạt được, mà nhằm nhận diện đúng các thách thức mới để có giải pháp phù hợp. Trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới, việc hoàn thiện hệ thống pháp luật về văn hóa, nâng cao năng lực quản lý trên không gian số, tăng cường hiệu quả định hướng dư luận và phát huy trách nhiệm của các chủ thể tham gia đời sống văn hóa là những yêu cầu cấp thiết. Chỉ khi chủ động thích ứng với những biến đổi của thời đại, văn hóa mới tiếp tục giữ vững vai trò nền tảng tinh thần của xã hội, trở thành động lực nội sinh và sức mạnh mềm quan trọng trong quá trình phát triển đất nước.
Để văn hóa thực sự soi đường cho quốc dân đi trong kỷ nguyên mới.
Trở lại với tư tưởng Hồ Chí Minh, có thể khẳng định mục tiêu cao nhất của văn hóa là phục vụ nhân dân, vì con người và vì sự phát triển của đất nước. Văn hóa không chỉ đáp ứng nhu cầu tinh thần mà còn góp phần hình thành những công dân có tri thức, đạo đức, trách nhiệm xã hội và khát vọng cống hiến. Đây cũng là quan điểm xuyên suốt của Đảng ta khi luôn xác định con người vừa là trung tâm, vừa là chủ thể và động lực của sự phát triển bền vững.
Trong bối cảnh đất nước bước vào kỷ nguyên phát triển mới, việc xây dựng hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hóa và chuẩn mực con người Việt Nam càng có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Những giá trị cốt lõi như lòng yêu nước, ý chí tự cường dân tộc, tinh thần đoàn kết, trách nhiệm công dân, trung thực, nhân ái và sáng tạo cần tiếp tục được vun đắp, trở thành nền tảng tinh thần và sức mạnh nội sinh cho sự phát triển nhanh và bền vững của đất nước.
Cùng với việc giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc, cần chủ động tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại một cách chọn lọc, phù hợp với điều kiện và lợi ích của đất nước. Hội nhập quốc tế không đồng nghĩa với hòa tan bản sắc; tiếp thu cái mới không có nghĩa là xa rời những giá trị đã làm nên bản lĩnh và cốt cách Việt Nam. Một nền văn hóa mạnh là nền văn hóa biết làm giàu mình từ tinh hoa nhân loại nhưng luôn giữ vững bản sắc, giá trị và tâm hồn dân tộc.
Văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, là sức mạnh nội sinh của phát triển và là ngọn đuốc soi đường cho dân tộc trong mọi chặng đường lịch sử. Vì vậy, không thể để những biểu hiện lệch chuẩn, sự dễ dãi trong thẩm mỹ hay những lợi ích thương mại ngắn hạn chi phối đời sống văn hóa. Chừng nào văn hóa còn góp phần nâng cao dân trí, bồi dưỡng nhân cách, củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc, khơi dậy khát vọng phát triển và niềm tin vào tương lai đất nước, thì chừng đó tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh về vai trò của văn hóa vẫn tiếp tục tỏa sáng, dẫn dắt sự nghiệp xây dựng nước Việt Nam phồn vinh, hạnh phúc và phát triển bền vững.
Thế Nguyễn – Minh Văn


