Ngày 2/6/2026, Ban Chỉ đạo Trung ương họp sơ kết một năm vận hành mô hình tổ chức tổng thể của hệ thống chính trị và mô hình chính quyền 3 cấp, với mục tiêu xây dựng bộ máy tinh gọn, vận hành thông suốt, phân định rõ thẩm quyền, trách nhiệm và nâng cao chất lượng phục vụ người dân, doanh nghiệp. Tuy nhiên, tại khu vực Đồng bằng sông Cửu Long, việc hiện thực hóa các mục tiêu này vẫn gặp nhiều trở ngại do những điểm nghẽn về thể chế, hạ tầng và năng lực tổ chức thực thi, ảnh hưởng đến hiệu quả vận hành của bộ máy ở cơ sở.

Nhận diện lực cản từ thực tiễn vận hành
Tại Đồng bằng sông Cửu Long, nhiều điểm nghẽn phát triển hiện rõ qua hoạt động sản xuất, lưu thông hàng hóa và giải quyết thủ tục hành chính hằng ngày. Hàng hóa nông sản, thủy sản vẫn phải qua nhiều khâu vận chuyển; hạ tầng giao thông chưa theo kịp nhu cầu; doanh nghiệp muốn mở rộng vùng nguyên liệu, kho lạnh hay nhà máy còn phải thực hiện nhiều thủ tục về đất đai, đầu tư, xây dựng và môi trường.
Ở cấp cơ sở, những vướng mắc thể hiện qua quá trình tiếp nhận và giải quyết hồ sơ hành chính. Người dân và doanh nghiệp cần biết rõ nơi tiếp nhận, thời hạn xử lý, trách nhiệm của từng cơ quan và đầu mối giải quyết khi phát sinh chậm trễ. Sau sắp xếp tổ chức bộ máy, yêu cầu không chỉ là duy trì hoạt động bình thường mà còn phải bảo đảm phục vụ thông suốt, giảm thời gian đi lại và hạn chế thủ tục phát sinh.
Là vùng trọng điểm về lúa gạo, thủy sản và trái cây của cả nước, Đồng bằng sông Cửu Long vẫn đối mặt với nhiều hạn chế như hạ tầng kết nối chưa đồng bộ, chi phí logistics cao, liên kết vùng còn yếu, thiếu nhân lực chất lượng cao. Cùng với đó, biến đổi khí hậu, sạt lở, xâm nhập mặn và sụt lún đang đặt ra những yêu cầu quản lý ngày càng phức tạp.
Doanh nghiệp cần quy trình rõ ràng để chủ động đầu tư và mở rộng sản xuất; chính quyền cơ sở cần đủ thẩm quyền, nhân lực, dữ liệu và công cụ để thực hiện nhiệm vụ. Nếu bộ máy đã tinh gọn nhưng quy trình chưa thông suốt, hoặc đã phân cấp nhưng thiếu điều kiện thực thi, hiệu quả phục vụ người dân và doanh nghiệp sẽ khó đạt như kỳ vọng.
Thực tế cho thấy, thành công của giai đoạn sắp xếp tổ chức chưa đồng nghĩa với thành công trong vận hành. Trọng tâm hiện nay là chuyển từ “sắp xếp xong” sang “vận hành tốt”, từ ổn định tổ chức sang nâng cao chất lượng quản trị và năng lực thực thi. Đây cũng là yêu cầu cấp thiết đối với Đồng bằng sông Cửu Long, nơi các vấn đề phát triển luôn đan xen giữa hạ tầng, nguồn nước, môi trường, sản xuất và an sinh xã hội.
Một trong những lực cản lớn là thể chế và cơ chế vận hành. Một số quy định, hướng dẫn chưa đồng bộ với mô hình mới; có nhiệm vụ đã phân cấp nhưng chưa đủ điều kiện thực hiện; một số lĩnh vực còn chồng chéo hoặc chưa xác định rõ trách nhiệm. Với những dự án hạ tầng liên tỉnh, đầu tư chế biến nông sản hay xử lý sạt lở, việc phối hợp nhiều ngành, nhiều cấp vẫn là thách thức.
Bên cạnh đó, phân cấp, phân quyền chưa luôn đi kèm với nguồn lực tương ứng. Giao nhiệm vụ nhưng thiếu tài chính, nhân lực, dữ liệu và công cụ thực hiện khiến cấp cơ sở gặp khó khăn, nhất là tại các xã, phường có địa bàn rộng, dân cư phân tán và nhu cầu giải quyết thủ tục hành chính lớn.
Đồng bằng sông Cửu Long còn đối mặt với điểm nghẽn đặc thù về hạ tầng và logistics. Đối với vùng sản xuất nông nghiệp hàng hóa quy mô lớn, yêu cầu phát triển không chỉ dừng ở hệ thống giao thông mà còn bao gồm cảng biển, kho lạnh, trung tâm logistics, đường thủy nội địa và kết nối hiệu quả giữa vùng nguyên liệu với nhà máy chế biến, thị trường xuất khẩu.
Các điểm nghẽn về thể chế, hạ tầng, dữ liệu và nguồn lực đều tác động trực tiếp đến hiệu quả hoạt động của chính quyền các cấp, làm tăng chi phí cho doanh nghiệp, kéo dài thời gian xử lý thủ tục và gia tăng rủi ro sản xuất. Vì vậy, đánh giá hiệu quả vận hành mô hình chính quyền 3 cấp cần gắn với yêu cầu phát triển vùng. Hiệu quả không chỉ được đo bằng số đầu mối giảm đi, mà quan trọng hơn là khả năng phối hợp liên ngành, giải quyết công việc và phục vụ người dân, doanh nghiệp tốt hơn.

Gỡ nghẽn bằng quản trị vùng, hạ tầng và chính quyền gần dân
Đồng bằng sông Cửu Long đang bước vào giai đoạn chuyển trọng tâm từ sắp xếp tổ chức bộ máy sang vận hành hiệu quả bộ máy. Thành công của quá trình đổi mới không thể chỉ được đánh giá bằng số lượng đầu mối giảm xuống hay những báo cáo hành chính, mà phải được đo bằng chất lượng phục vụ người dân và doanh nghiệp trong thực tiễn.
Để tháo gỡ các điểm nghẽn phát triển của vùng, trước hết cần bảo đảm phân cấp, phân quyền đi đôi với điều kiện thực thi. Giao quyền phải gắn với giao trách nhiệm, nguồn lực tài chính, nhân lực, dữ liệu và công cụ quản lý. Nếu cấp cơ sở được giao thêm nhiệm vụ nhưng thiếu cán bộ đủ năng lực, thiếu dữ liệu liên thông, thiếu hướng dẫn nghiệp vụ và cơ chế phối hợp hiệu quả, thì phân cấp rất dễ trở thành việc chuyển gánh nặng xuống cơ sở, trong khi người dân và doanh nghiệp vẫn phải chờ đợi.
Cùng với đó, cải cách hành chính cần tập trung vào những thủ tục tác động trực tiếp đến sản xuất và đời sống như đất đai, đầu tư, xây dựng, môi trường, đăng ký kinh doanh hay an sinh xã hội. Mỗi quy trình phải được rà soát từ góc độ phục vụ: người dân phải đi lại bao nhiêu lần, hồ sơ có còn trùng lặp hay không, thời hạn giải quyết có được công khai minh bạch hay không và trách nhiệm thuộc về ai khi hồ sơ chậm trễ.
Chuyển đổi số cũng cần trở về đúng bản chất là nâng cao hiệu quả quản trị và chất lượng phục vụ người dân, doanh nghiệp. Khi dữ liệu về dân cư, đất đai, doanh nghiệp, quy hoạch hay an sinh còn phân tán, việc xử lý công việc khó tránh khỏi chậm trễ, làm gia tăng chi phí xã hội. Chuyển đổi số chỉ thực sự có ý nghĩa khi giúp giảm giấy tờ, rút ngắn thời gian giải quyết thủ tục và hỗ trợ chính quyền đưa ra quyết định nhanh chóng, chính xác hơn.
Sau sắp xếp bộ máy, xây dựng chính quyền gần dân càng trở thành yêu cầu quan trọng. Gần dân không chỉ là khoảng cách địa lý, mà còn là khả năng lắng nghe, phản hồi và giải quyết kịp thời những vấn đề phát sinh từ cơ sở; là sự minh bạch trong xử lý công việc và trách nhiệm giải trình của người đứng đầu; là bảo đảm để mọi người dân đều được tiếp cận dịch vụ công thuận tiện, công bằng và hiệu quả hơn.
Trong bối cảnh biến đổi khí hậu ngày càng tác động sâu sắc đến vùng, mọi giải pháp phát triển cũng phải gắn với yêu cầu thích ứng bền vững. Từ quy hoạch sản xuất, quản lý nguồn nước đến phòng chống sạt lở, bảo vệ môi trường và chuyển đổi sinh kế đều cần được triển khai đồng bộ, phù hợp với điều kiện tự nhiên của Đồng bằng sông Cửu Long.
Sau cùng, hiệu quả của mô hình chính quyền 3 cấp không nằm ở việc bộ máy được tổ chức lại như thế nào, mà ở kết quả mang lại cho người dân và doanh nghiệp. Khi thủ tục thông thoáng hơn, dữ liệu được kết nối tốt hơn, trách nhiệm được xác định rõ ràng hơn, cấp cơ sở có đủ điều kiện thực thi nhiệm vụ và người dân được phục vụ thuận lợi hơn, đó mới là thước đo thực chất của cải cách. Tinh thần “nói phải có cơ sở, làm phải mang lại kết quả thiết thực” cần được cụ thể hóa bằng những chuyển biến rõ ràng trong quản trị và phát triển của vùng.
Trọng Nguyễn


