Trong bối cảnh toàn cầu hóa và sự bùng nổ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, bảo vệ Tổ quốc không chỉ dừng lại ở việc gìn giữ độc lập, chủ quyền lãnh thổ về mặt địa lý mà còn mở rộng sang mặt trận tư tưởng và không gian văn hóa. Các thế lực thù địch không ngừng sử dụng những phương thức tinh vi để tiến hành diễn biến hòa bình, xâm lăng văn hóa nhằm làm phai nhạt bản sắc dân tộc và suy yếu nền tảng tư tưởng của Đảng. Nhận thức sâu sắc vấn đề này, Đảng ta đã có những bước chuyển biến mạnh mẽ trong tư duy chiến lược, nâng tầm nhiệm vụ bảo vệ và phát triển văn hóa thành một hệ thống phòng thủ toàn diện. Việc xây dựng thế trận an ninh văn hóa trở thành một nhiệm vụ đặc biệt quan trọng, đòi hỏi sự tham gia của toàn bộ hệ thống chính trị, trong đó lực lượng vũ trang nhân dân nói chung và đội ngũ cán bộ quân đội nói riêng đóng vai trò là lực lượng nòng cốt. Việc nghiên cứu, quán triệt và triển khai các giải pháp xây dựng thế trận an ninh văn hóa không chỉ là nhiệm vụ mang tính chiến lược quốc gia mà còn có ý nghĩa thực tiễn sống còn đối với công tác huấn luyện, chỉ huy và rèn luyện bản lĩnh chính trị của đội ngũ cán bộ quân đội hiện nay.

Nội dung nghiên cứu
Thực trạng và yêu cầu đặt ra đối với xây dựng thế trận an ninh văn hóa ở Việt Nam hiện nay
Quá trình đổi mới và hội nhập quốc tế sâu rộng đã mang lại cho đất nước ta những thành tựu phát triển vượt bậc trên nhiều lĩnh vực, trong đó có lĩnh vực văn hóa. Tuy nhiên, nhìn nhận một cách khách quan và biện chứng, mặt trận văn hóa và an ninh tư tưởng đang phải đối diện với một bức tranh đa chiều, nơi những thành tựu đan xen cùng hàng loạt khó khăn, thách thức và những biểu hiện yếu kém có nguy cơ đe dọa trực tiếp đến sự tồn vong của chế độ.
Về kết quả đạt được, sự nghiệp xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đã có những bước tiến đáng ghi nhận. Nhận thức của toàn Đảng, toàn dân về vị trí, vai trò của văn hóa ngày càng được nâng lên. Hệ thống thiết chế văn hóa từ trung ương đến cơ sở được quan tâm đầu tư xây dựng, từng bước đáp ứng nhu cầu hưởng thụ tinh thần của nhân dân. Công tác bảo tồn, tôn tạo và phát huy các giá trị di sản văn hóa vật thể, phi vật thể đạt được nhiều kết quả tích cực, góp phần quảng bá hình ảnh Việt Nam ra thế giới và thúc đẩy kinh tế di sản. Các ngành công nghiệp văn hóa, dịch vụ văn hóa bước đầu hình thành và có đóng góp vào tăng trưởng kinh tế chung. Đời sống văn hóa của đồng bào các dân tộc thiểu số, vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo cũng được cải thiện thông qua các chính sách đầu tư, hỗ trợ đồng bộ của Nhà nước.
Về những tồn tại, hạn chế, dù đã có nhiều nỗ lực, lĩnh vực văn hóa hiện nay vẫn chưa thực sự trở thành nguồn lực, sức mạnh nội sinh và động lực mạnh mẽ của sự phát triển như kỳ vọng. Thực trạng đáng báo động nhất hiện nay là sự suy thoái về đạo đức xã hội và lối sống ở một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên và người dân. Đảng ta đã thẳng thắn chỉ rõ trong các văn kiện: “Tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống chưa có chiều hướng thuyên giảm. Chưa có giải pháp hữu hiệu để ngăn chặn, đẩy lùi sự xuống cấp nghiêm trọng về một số mặt văn hoá, đạo đức, lối sống, gây bức xúc xã hội”[1]. Môi trường văn hóa xã hội nhiều nơi tiếp tục bị ô nhiễm bởi các tệ nạn xã hội, bạo lực học đường, tệ tham nhũng, lãng phí và tiêu cực. Lối sống thực dụng, chạy theo đồng tiền, vị kỷ đang làm xói mòn các giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc như tình làng nghĩa xóm, sự tương thân tương ái.
Bên cạnh đó, thể chế, cơ sở pháp lý và chính sách đầu tư cho văn hóa còn nhiều bất cập, chậm đổi mới, chưa theo kịp thực tiễn và thiếu tính đồng bộ. Việc bố trí nguồn lực cho phát triển văn hóa chưa tương xứng với tăng trưởng kinh tế, đầu tư còn mang tính dàn trải, thiếu trọng tâm, trọng điểm. Các ngành công nghiệp văn hóa phát triển chưa tương xứng với tiềm năng to lớn của đất nước, thị trường văn hóa chậm hình thành và thiếu tính cạnh tranh so với các nước trong khu vực. Đáng chú ý, mức độ tiếp cận và hưởng thụ thành quả phát triển văn hóa còn sự chênh lệch lớn giữa các vùng miền, đặc biệt là giữa khu vực đô thị và nông thôn, miền núi. Số lượng tác phẩm văn học, nghệ thuật có giá trị tư tưởng và nghệ thuật cao mang tầm vóc thời đại còn hạn chế; một bộ phận sáng tác có xu hướng chạy theo thị hiếu tầm thường, thương mại hóa, làm hạ thấp chức năng giáo dục và định hướng thẩm mỹ của văn hóa.
Về sự tác động của bối cảnh mới và không gian mạng, đây là thách thức lớn nhất đối với thế trận an ninh văn hóa hiện nay. Sự bùng nổ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, đặc biệt là công nghệ số, trí tuệ nhân tạo và mạng xã hội xuyên biên giới, đã phá vỡ mọi rào cản địa lý truyền thống. Điều này dẫn đến sự giao thoa văn hóa diễn ra mạnh mẽ nhưng cũng kéo theo nguy cơ đồng hóa văn hóa, lai căng văn hóa. Đáng quan ngại hơn, không gian mạng đã trở thành mặt trận chính mà các thế lực thù địch, phản động lợi dụng để thực hiện chiến lược diễn biến hòa bình. Chúng liên tục tung ra các thông tin xấu độc, xuyên tạc lịch sử, bôi nhọ lãnh tụ, phủ nhận nền tảng tư tưởng của Đảng là chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, nhằm gieo rắc sự hoài nghi, gây chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Tình trạng này đặt chủ quyền không gian mạng và chủ quyền tư tưởng quốc gia trước những mối đe dọa hiện hữu, chưa từng có tiền lệ. Việc quản lý văn hóa, thông tin trên các nền tảng xuyên biên giới còn nhiều lúng túng, bộc lộ khoảng trống pháp lý, khiến rác văn hóa và các trào lưu độc hại dễ dàng đầu độc nhận thức của giới trẻ.
Từ thực trạng trên, hàng loạt yêu cầu cấp bách được đặt ra đối với việc xây dựng thế trận an ninh văn hóa trong giai đoạn hiện nay:
Một là, phải nhận thức lại một cách toàn diện và sâu sắc về vai trò của văn hóa, đặt văn hóa ngang hàng với kinh tế, chính trị và xã hội. Cấp ủy, chính quyền các cấp phải xem việc xây dựng và bảo vệ văn hóa không chỉ là hoạt động phong trào mà là một bộ phận cấu thành của chiến lược an ninh quốc gia. Văn hóa phải thực sự là hệ điều tiết, là sức mạnh mềm giúp quốc gia định vị bản sắc và gia tăng sức cạnh tranh trên trường quốc tế. Việc đầu tư cho văn hóa phải được xem là đầu tư cho phát triển bền vững, cần có các cơ chế, chính sách đột phá để thu hút mọi nguồn lực xã hội hóa tham gia kiến tạo hệ sinh thái văn hóa.
Hai là, chuyển đổi phương thức từ phòng ngự thụ động sang chủ động tiến công trên mặt trận văn hóa tư tưởng. Điều này đòi hỏi phải thiết lập thế trận an ninh văn hóa liên hoàn, đa tầng, kết hợp chặt chẽ giữa đời thực và không gian mạng. Cần khẩn trương xây dựng các màng lọc kỹ thuật và pháp lý vững chắc để kiểm soát dòng chảy thông tin xuyên biên giới, buộc các nền tảng công nghệ toàn cầu phải tuân thủ luật pháp Việt Nam. Đồng thời, phải thực hiện tốt phong trào lấy cái đẹp dẹp cái xấu, liên tục phủ xanh không gian truyền thông bằng những dòng thông tin chính thống, nhân văn, khơi dậy tinh thần yêu nước và khát vọng vươn mình của dân tộc, tạo ra sức đề kháng tự nhiên cho mỗi cá nhân trước các làn sóng văn hóa ngoại lai độc hại.
Ba là, phát huy sức mạnh tổng hợp của hệ thống chính trị và toàn dân trong việc bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng. Xây dựng thế trận an ninh văn hóa phải gắn kết hữu cơ với thế trận quốc phòng toàn dân, an ninh nhân dân và đặc biệt là thế trận lòng dân. Yêu cầu đặt ra là phải xây dựng và thực thi hiệu quả hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hóa, hệ giá trị gia đình và chuẩn mực con người Việt Nam thời đại mới. Chính những chuẩn mực này sẽ trở thành ranh giới biên giới mềm, định vị rõ ràng bản sắc cốt cách của người Việt, giúp chúng ta chủ động hội nhập, tiếp thu tinh hoa nhân loại mà không bị hòa tan, không để đánh mất mình. Đồng thời, phải liên tục đào tạo, bồi dưỡng lực lượng chuyên trách sắc bén trên mặt trận tư tưởng, đủ năng lực phản bác trực diện và đập tan mọi luận điệu xuyên tạc, bảo vệ vững chắc trận địa lý luận của Đảng trong mọi tình huống.
Giải pháp xây dựng thế trận an ninh văn hóa ở Việt Nam
Thiết lập hệ thống phòng thủ đa tầng trên môi trường số và không gian mạng
Trong kỷ nguyên số và sự bùng nổ của công nghệ thông tin toàn cầu, không gian mạng đã trở thành tuyến đầu của cuộc đấu tranh tư tưởng, nơi diễn ra sự giao thoa, cạnh tranh khốc liệt giữa các luồng văn hóa và hệ giá trị khác nhau. Do đó, thiết lập hệ thống phòng thủ đa tầng trên môi trường số đóng vai trò là lá chắn tiền tiêu, quyết định khả năng tự chủ và an toàn của quốc gia trên mặt trận tư tưởng. Giải pháp này không chỉ giúp ngăn chặn từ sớm, từ xa các thông tin độc hại, sai trái mà còn bảo đảm quyền làm chủ dữ liệu cá nhân, bảo vệ an ninh con người và an ninh quốc gia một cách trọn vẹn. Điều này đóng vai trò cốt lõi trong việc vô hiệu hóa các âm mưu diễn biến hòa bình, sự xâm lăng văn hóa của các thế lực thù địch trên không gian mạng, đồng thời duy trì sự ổn định, trong sạch của môi trường văn hóa số. Nếu không thiết lập được ranh giới bảo vệ vững chắc trên môi trường này, các giá trị truyền thống có nguy cơ bị bào mòn nhanh chóng, đe dọa trực tiếp đến sự tồn vong của chế độ.
Nội dung giải pháp tập trung vào việc thiết lập một cơ chế bảo vệ liên hoàn, bao gồm năm lớp phòng thủ cơ bản. Thứ nhất, là lớp công nghệ và kỹ thuật, tập trung ứng dụng trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn và các công nghệ hiện đại khác để tự động kiểm soát, quét, phát hiện và bóc gỡ thông tin độc hại, đồng thời phát triển hạ tầng số tự chủ, nền tảng số mang thương hiệu Việt Nam. Thứ hai, là lớp pháp lý và quản lý, yêu cầu hoàn thiện hành lang pháp lý vững chắc, ban hành quy tắc ứng xử trên không gian mạng, buộc các nền tảng xuyên biên giới phải tuân thủ nghiêm ngặt luật pháp quốc gia. Thứ ba, là lớp tư tưởng và lòng dân, hướng tới việc giáo dục, nâng cao sức đề kháng văn hóa cho nhân dân, biến mỗi cá nhân thành một bộ lọc thông tin tự nhiên và tự giác, biết bảo vệ mình và lan tỏa hệ giá trị quốc gia. Thứ tư, là lớp lực lượng chuyên trách, phát huy vai trò nòng cốt của các cơ quan chức năng, ban chỉ đạo chuyên trách, lực lượng quân đội, công an trong việc hiệp đồng tác chiến trên không gian mạng, đào tạo đội ngũ chuyên gia lý luận sắc bén. Thứ năm, là lớp an ninh kỷ nguyên mới, bảo vệ tuyệt đối chủ quyền dữ liệu cá nhân và an toàn thông tin quốc gia. Nội dung này được Đảng ta nhấn mạnh rõ: “Bảo đảm an ninh số, an ninh mạng, an ninh, an toàn thông tin; bảo đảm an ninh dữ liệu, bảo vệ dữ liệu cá nhân. Bảo đảm chủ quyền số quốc gia trên không gian mạng trong mọi tình huống và bảo đảm môi trường số an toàn, ổn định cho phát triển”[2].
Để triển khai hiệu quả giải pháp phòng thủ trên không gian mạng, cần thực hiện đồng bộ các biện pháp cụ thể sau:
Một là, đầu tư mạnh mẽ cho hạ tầng công nghệ và tự chủ kỹ thuật số. Cần tập trung nguồn lực từ ngân sách nhà nước và xã hội hóa để phát triển các trung tâm dữ liệu quốc gia, hệ thống máy chủ, và mạng lưới lưu trữ đám mây do Việt Nam hoàn toàn làm chủ. Ứng dụng sâu rộng công nghệ trí tuệ nhân tạo để tự động hóa quá trình rà quét, phát hiện và ngăn chặn kịp thời các dòng thông tin sai lệch, phản văn hóa, thù địch trước khi chúng lây lan rộng rãi trên các nền tảng xã hội. Khuyến khích các doanh nghiệp công nghệ trong nước tham gia phát triển các mạng xã hội, công cụ tìm kiếm và ứng dụng giải trí mang thương hiệu Việt Nam, qua đó giảm bớt sự phụ thuộc vào các nền tảng công nghệ nước ngoài và làm chủ hoàn toàn không gian truyền thông nội địa.
Hai là, hoàn thiện và thực thi nghiêm minh hệ thống pháp luật về an ninh mạng. Cần liên tục rà soát, bổ sung các quy định pháp luật liên quan đến quản lý thông tin trên internet, quy định về trách nhiệm của các bên liên quan nhằm bảo vệ dữ liệu cá nhân và chủ quyền số quốc gia. Yêu cầu bắt buộc các nhà cung cấp dịch vụ mạng, đặc biệt là các tập đoàn công nghệ xuyên biên giới đang cung cấp dịch vụ tại Việt Nam, phải mở văn phòng đại diện, cam kết tuân thủ nghiêm ngặt pháp luật sở tại và phải phối hợp chặt chẽ với cơ quan chức năng trong việc gỡ bỏ nhanh chóng các nội dung vi phạm. Có chế tài xử phạt hành chính và hình sự thật nặng, đủ sức răn đe đối với các tổ chức, cá nhân lợi dụng không gian mạng để phát tán thông tin xấu độc, tin giả, xuyên tạc lịch sử, chống phá Đảng và Nhà nước.
Ba là, triển khai phong trào lấy cái đẹp dẹp cái xấu trên không gian số. Cần chủ động, liên tục tạo ra các luồng thông tin tích cực, lan tỏa rộng rãi các thông điệp nhân văn, gương người tốt việc tốt, và những giá trị tốt đẹp của văn hóa, lịch sử dân tộc. Việc định hướng truyền thông phải được thực hiện một cách chuyên nghiệp, đổi mới phương thức thể hiện cho hấp dẫn, thu hút sự quan tâm của giới trẻ, qua đó tự động lấn át, chiếm lĩnh không gian mạng và đẩy lùi các luồng thông tin tiêu cực. Đồng thời, liên tục mở các chiến dịch truyền thông giáo dục, đưa các chương trình đào tạo kỹ năng số vào trường học để nâng cao ý thức cảnh giác, kỹ năng phân biệt thông tin thật giả cho người dân và học sinh khi tham gia mạng xã hội.
Kiến tạo hệ sinh thái văn hóa quốc gia đa chủ thể và chuyển đổi tư duy quản lý văn hóa
Quản lý văn hóa hiện nay không chỉ là sự kiểm soát hành chính đơn thuần mà phải là quá trình mở đường, tạo động lực cho các nguồn lực văn hóa phát triển mạnh mẽ. Do đó, việc chuyển đổi tư duy quản lý và kiến tạo một hệ sinh thái văn hóa đa chủ thể giữ vị trí trung tâm trong chiến lược xây dựng thế trận an ninh văn hóa. Giải pháp này đóng vai trò quyết định trong việc khơi thông các điểm nghẽn về thể chế, giải phóng sức sáng tạo vô tận của toàn xã hội, đồng thời huy động tối đa các nguồn lực tài chính, nhân lực từ Nhà nước, cộng đồng doanh nghiệp và nhân dân. Một hệ sinh thái văn hóa phát triển lành mạnh, hài hòa, có sự tham gia của đa chủ thể không chỉ làm phong phú đời sống tinh thần của nhân dân mà còn tạo ra một lớp bảo vệ tự nhiên, vững chắc trước sự xâm nhập của các tư tưởng ngoại lai lệch chuẩn, củng cố ranh giới tư tưởng mềm của quốc gia.
Nội dung cốt lõi của giải pháp này là sự chuyển đổi phương thức quản lý của Nhà nước từ tư duy kiểm soát, xin cho sang tư duy kiến tạo, phục vụ. Nhà nước đóng vai trò định hướng chiến lược, xây dựng hành lang pháp lý minh bạch, ban hành các chính sách ưu đãi đột phá nhằm khuyến khích sự tham gia tích cực của mọi thành phần kinh tế, đặc biệt là kinh tế tư nhân, vào lĩnh vực văn hóa. Cùng với đó, nội dung giải pháp hướng tới việc thiết lập một hệ sinh thái văn hóa đa chủ thể liên kết chặt chẽ. Trong hệ sinh thái này, doanh nghiệp là động lực chính trong việc đầu tư, phát triển các sản phẩm, dịch vụ văn hóa; người dân vừa là trung tâm thụ hưởng thành quả, vừa là chủ thể trực tiếp sáng tạo và bảo tồn; còn Nhà nước bảo đảm sự công bằng, bình đẳng trong việc tiếp cận các giá trị văn hóa. Vấn đề này đã được Đảng ta khẳng định rõ bằng định hướng: “Chuyển từ quản lý sang quản trị, phân cấp, phân quyền rõ ràng, đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính theo hướng đơn giản, thuận tiện, minh bạch; nâng cao năng lực tự chủ của các đơn vị sự nghiệp công lập, đẩy mạnh xã hội hoá cung ứng dịch vụ công trong lĩnh vực văn hoá”[3].
Để chuyển đổi tư duy quản lý và kiến tạo hệ sinh thái văn hóa thành công, cần tập trung vào các biện pháp sau:
Một là, hoàn thiện thể chế và cơ chế chính sách kiến tạo văn hóa đồng bộ. Các cơ quan quản lý nhà nước cần khẩn trương rà soát, sửa đổi các quy định pháp luật còn chồng chéo, lỗi thời gây cản trở cho hoạt động sáng tạo và kinh doanh văn hóa. Xây dựng cơ chế hợp tác công tư đột phá, có các ưu đãi vượt trội về thuế, tín dụng trong lĩnh vực văn hóa nhằm thu hút vốn đầu tư từ khu vực tư nhân, các quỹ đầu tư quốc tế vào việc bảo tồn di sản, phát triển các không gian sáng tạo, rạp hát, bảo tàng và các trung tâm văn hóa nghệ thuật hiện đại. Phải tạo ra một môi trường đầu tư văn hóa hấp dẫn, minh bạch và an toàn. “Hoàn thiện đồng bộ cơ chế hoạt động để Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức, đoàn thể được tham gia sâu rộng trong hoạt động giám sát, phản biện xã hội, tham gia xây dựng Đảng, xây dựng Nhà nước”[4].
Hai là, đổi mới toàn diện cơ chế đặt hàng và bảo hộ chặt chẽ quyền sở hữu trí tuệ. Nhà nước cần thay đổi phương thức đầu tư ngân sách cho văn hóa nghệ thuật thông qua việc mở rộng cơ chế đặt hàng, đấu thầu công khai, minh bạch các dự án văn hóa, nghệ thuật có giá trị tư tưởng cao, giáo dục truyền thống cách mạng. Quá trình này phải hướng tới mọi chủ thể sáng tạo trong và ngoài hệ thống công lập, bảo đảm tính cạnh tranh để có tác phẩm chất lượng tốt nhất. Đồng thời, thiết lập một hệ thống bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ nghiêm minh, minh bạch trên cả môi trường thực và môi trường số để các văn nghệ sĩ, nhà sáng tạo nội dung được hưởng lợi chính đáng từ tác phẩm của mình, yên tâm cống hiến, ngăn chặn triệt để tình trạng sao chép, vi phạm bản quyền làm thui chột động lực sáng tạo của xã hội.
Ba là, phát triển đồng bộ mạng lưới thiết chế văn hóa cơ sở và nâng cao vai trò tự quản của cộng đồng. Tập trung nguồn lực đầu tư, nâng cấp các trung tâm văn hóa, thể thao, nhà văn hóa tại các xã, phường, thị trấn, đặc biệt ưu tiên phân bổ nguồn lực cho các vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo và vùng đồng bào dân tộc thiểu số để thu hẹp khoảng cách thụ hưởng văn hóa. Phân cấp, giao quyền tự chủ cho cộng đồng dân cư trong việc quản lý và tổ chức các hoạt động tại các thiết chế này, biến chúng thành không gian sinh hoạt văn hóa chung sống động, nơi bảo tồn và trao truyền trực tiếp các giá trị văn hóa truyền thống của địa phương. Việc phát huy tính tự quản của người dân sẽ giúp môi trường văn hóa cơ sở thêm sức sống, đa dạng và bền vững.
Thúc đẩy phát triển công nghiệp văn hóa và chủ động hội nhập quốc tế
Trong kỷ nguyên toàn cầu hóa, văn hóa không chỉ là yếu tố định danh tinh thần mà còn là một lĩnh vực kinh tế trực tiếp mang lại giá trị gia tăng rất cao. Do đó, việc thúc đẩy phát triển mạnh mẽ công nghiệp văn hóa và chủ động hội nhập quốc tế giữ vai trò đặc biệt quan trọng, được xem là mũi nhọn tiến công sắc bén của thế trận an ninh văn hóa. Phát triển công nghiệp văn hóa đóng vai trò then chốt trong việc biến các tài nguyên di sản, truyền thống văn hóa vô giá thành các sản phẩm hàng hóa, dịch vụ độc đáo, mang lại nguồn thu lớn cho nền kinh tế quốc dân, tạo việc làm và thu nhập cho người dân. Hơn thế nữa, thông qua việc xuất khẩu các sản phẩm văn hóa, Việt Nam có thể khuếch trương mạnh mẽ sức mạnh mềm, lan tỏa hình ảnh một đất nước Việt Nam yêu chuộng hòa bình, có chiều sâu lịch sử, thân thiện và năng động ra toàn thế giới. Hội nhập quốc tế chủ động giúp chúng ta vừa tiếp thu được tinh hoa văn hóa, khoa học công nghệ của nhân loại để làm giàu bản sắc dân tộc, vừa tạo lập một vị thế vững chắc, bình đẳng trên trường quốc tế, qua đó thiết lập hàng rào bảo vệ chủ quyền tư tưởng hiệu quả từ bên ngoài, ngăn chặn các luồng văn hóa độc hại.
Nội dung của giải pháp này hướng tới việc tập trung tối đa các nguồn lực để phát triển có trọng tâm, trọng điểm các ngành công nghiệp văn hóa có tiềm năng, lợi thế cạnh tranh của Việt Nam như điện ảnh, nghệ thuật biểu diễn, âm nhạc, phần mềm giải trí, mỹ thuật ứng dụng, thủ công mỹ nghệ và du lịch văn hóa. Mục tiêu là đưa công nghiệp văn hóa trở thành một ngành kinh tế mũi nhọn, có thương hiệu mạnh trên thị trường quốc tế, đóng góp tỷ trọng ngày càng lớn vào tăng trưởng kinh tế chung. Song song với đó, nội dung hội nhập quốc tế đòi hỏi một tư thế chủ động, tự tin tham gia sâu rộng vào các diễn đàn văn hóa toàn cầu, mở rộng giao lưu, hợp tác song phương và đa phương. Quan điểm này được Bộ Chính trị khẳng định bằng các chỉ tiêu cụ thể: “Phát triển các ngành công nghiệp văn hoá đóng góp 7% GDP; hình thành từ 5 – 10 thương hiệu quốc gia về công nghiệp văn hoá trong các lĩnh vực có tiềm năng, như: Điện ảnh, nghệ thuật biểu diễn, du lịch văn hoá, thiết kế và thời trang,…”[5]. Hội nhập phải gắn liền với nguyên tắc kiên định giữ vững bản sắc văn hóa dân tộc, linh hoạt trong phương thức nhưng kiên quyết chống lại mọi nguy cơ đồng hóa văn hóa.
Để biến văn hóa thực sự thành sức mạnh mềm và động lực phát triển kinh tế mạnh mẽ, cần triển khai các biện pháp sau:
Một là, tập trung đầu tư hạ tầng phát triển các trung tâm công nghiệp văn hóa và hệ sinh thái sáng tạo quy mô lớn. Cần quy hoạch và hình thành các cụm liên kết ngành, các trung tâm đổi mới sáng tạo về văn hóa nghệ thuật mang tầm cỡ khu vực tại các thành phố lớn như Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh, Đà Nẵng. Các trung tâm này sẽ tạo không gian thuận lợi cho các doanh nghiệp, các nghệ sĩ trẻ, các nhà thiết kế khởi nghiệp trong lĩnh vực công nghiệp sáng tạo. Ban hành các chính sách ưu đãi đặc biệt về thuế thu nhập doanh nghiệp, miễn giảm tiền thuê đất và hỗ trợ tín dụng lãi suất thấp để kích thích các doanh nghiệp văn hóa trong nước lớn mạnh, đủ sức cạnh tranh sòng phẳng với các tập đoàn giải trí nước ngoài ngay trên thị trường nội địa và từng bước vươn ra chiếm lĩnh thị trường khu vực.
Hai là, đẩy mạnh ứng dụng công nghệ số để số hóa di sản và phát triển du lịch văn hóa bền vững. Thực hiện một cách bài bản, khoa học việc kiểm kê, số hóa toàn bộ hệ thống di tích lịch sử, văn hóa, các di sản văn hóa phi vật thể của quốc gia. Xây dựng các cơ sở dữ liệu quốc gia mở về văn hóa để phục vụ công tác nghiên cứu, giáo dục cộng đồng và làm nguồn tài nguyên phong phú cho việc khai thác kinh tế sáng tạo. Gắn kết chặt chẽ, hữu cơ giữa bảo tồn di sản với phát triển du lịch, tạo ra các chuỗi sản phẩm du lịch văn hóa đặc sắc, mang đậm dấu ấn đặc trưng của từng vùng miền Việt Nam, từ đó thu hút khách du lịch quốc tế và tạo sinh kế bền vững cho người dân địa phương; “Xây dựng Đề án phát triển du lịch với các giải pháp đột phá để đạt mục tiêu thu hút 45 – 50 triệu lượt khách du lịch quốc tế vào năm 2030”[6].
Ba là, nâng tầm công tác ngoại giao văn hóa, gia tăng sức mạnh mềm và quảng bá hình ảnh quốc gia. Triển khai các chiến lược truyền thông quốc tế chuyên nghiệp, hiện đại, đa nền tảng, đa ngôn ngữ nhằm giới thiệu vẻ đẹp văn hóa, lịch sử hào hùng, con người thân thiện và tiềm năng phát triển to lớn của Việt Nam đến với cộng đồng quốc tế. Đẩy mạnh việc đầu tư, thành lập và nâng cao hiệu quả hoạt động của các Trung tâm Văn hóa Việt Nam tại các quốc gia có vị trí chiến lược, các đối tác quan trọng và nơi có đông đảo kiều bào sinh sống. Các trung tâm này đóng vai trò là nhịp cầu văn hóa, đưa tiếng Việt và văn hóa Việt lan tỏa ra thế giới. Tích cực tham gia và chủ động đăng cai tổ chức các sự kiện văn hóa, thể thao, liên hoan nghệ thuật, triển lãm tầm cỡ quốc tế, qua đó khẳng định vị thế, nâng cao uy tín và năng lực hội nhập sâu rộng của văn hóa Việt Nam trong kỷ nguyên mới.
Phát huy sức mạnh tổng hợp của công tác tư tưởng, văn hóa và củng cố vững chắc thế trận lòng dân
Thực tiễn lịch sử cách mạng Việt Nam đã chứng minh, lòng yêu nước nồng nàn, sự đồng thuận xã hội cao và niềm tin tuyệt đối của nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng là cội nguồn tạo nên sức mạnh vô địch của dân tộc Việt Nam. Do đó, việc phát huy tối đa sức mạnh tổng hợp của công tác tư tưởng, văn hóa gắn liền với củng cố vững chắc thế trận lòng dân giữ vị trí đặc biệt quan trọng, là nền móng sâu xa và kiên cố nhất của thế trận an ninh văn hóa. Giải pháp này đóng vai trò sống còn trong việc liên kết mọi tầng lớp nhân dân, mọi thành phần kinh tế, mọi lực lượng xã hội thành một khối đại đoàn kết thống nhất, bất khả xâm phạm. Khi mỗi người dân được giác ngộ lý tưởng, có nhận thức chính trị vững vàng, hiểu rõ âm mưu của các thế lực thù địch và có lòng tự hào dân tộc sâu sắc, họ sẽ tự giác trở thành những chiến sĩ kiên cường bảo vệ văn hóa trên mọi mặt trận. Sự tự giác này tạo thành một mạng lưới phòng thủ tư tưởng vững chắc từ cơ sở, làm thất bại mọi âm mưu chia rẽ, phá hoại, xuyên tạc của các thế lực thù địch, bảo đảm sự ổn định chính trị và xã hội.
Nội dung cốt lõi của giải pháp này là sự kết hợp nhuần nhuyễn, không thể tách rời giữa công tác giáo dục chính trị, tư tưởng với việc chăm lo thiết thực đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân. Giải pháp đòi hỏi phải thường xuyên đổi mới mạnh mẽ nội dung, phương pháp tuyên truyền, giáo dục Chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, truyền thống lịch sử vẻ vang, hệ giá trị văn hóa dân tộc cho mọi tầng lớp nhân dân, đặc biệt quan tâm tới thế hệ trẻ, học sinh, sinh viên. Phải làm cho các giá trị này thấm sâu vào tâm hồn, trở thành lẽ sống của mỗi người. Bên cạnh đó, nội dung giải pháp đặc biệt nhấn mạnh việc thực hiện tốt, có hiệu quả quy chế dân chủ ở cơ sở, giải quyết kịp thời, minh bạch, thấu đáo các bức xúc, khiếu kiện, nguyện vọng chính đáng của nhân dân ngay từ cơ sở. Sự gắn kết chặt chẽ giữa lý luận và thực tiễn, giữa lời nói đi đôi với việc làm của đội ngũ cán bộ, đảng viên là điều kiện tiên quyết, mang tính sống còn để củng cố và tăng cường niềm tin của nhân dân vào Đảng và chế độ. Định hướng này được Đại hội XIV nhấn mạnh: “Tăng cường củng cố và phát huy hiệu quả sức mạnh của Nhân dân và khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Mọi chủ trương, chính sách phải thực sự xuất phát từ nguyện vọng, quyền, lợi ích chính đáng, hợp pháp và hạnh phúc của Nhân dân”[7].
Để củng cố vững chắc thế trận lòng dân trên mặt trận tư tưởng, văn hóa, cần thực hiện đồng bộ, quyết liệt các biện pháp sau:
Một là, đổi mới mạnh mẽ, toàn diện công tác giáo dục chính trị, tư tưởng và giáo dục truyền thống dân tộc. Các cơ quan tuyên giáo, giáo dục, hệ thống báo chí truyền thông từ trung ương đến địa phương cần phối hợp chặt chẽ, đa dạng hóa các hình thức tuyên truyền, giáo dục. Cần ứng dụng mạnh mẽ công nghệ số, trí tuệ nhân tạo, đa phương tiện để truyền tải các thông điệp chính trị, lịch sử một cách sinh động, hấp dẫn, dễ hiểu, dễ nhớ, phù hợp với tâm lý tiếp nhận của từng nhóm đối tượng, đặc biệt là thanh thiếu niên. Việc giáo dục phải hướng tới mục tiêu: “Tăng cường giáo dục chính trị, lý tưởng cách mạng, đạo đức, lối sống văn hoá, nâng cao tinh thần tự chủ, tự tin, tự lực, tự cường, tự hào dân tộc, nuôi dưỡng hoài bão, khát vọng xây dựng đất nước phồn vinh, hạnh phúc; nêu cao tinh thần, trách nhiệm của thanh niên đối với đất nước, với xã hội”[8].
Hai là, đề cao thực chất vai trò nêu gương của đội ngũ cán bộ, đảng viên và phát huy trách nhiệm của lực lượng vũ trang nhân dân. Mỗi cán bộ, đảng viên, đặc biệt là cán bộ lãnh đạo, chỉ huy trong lực lượng quân đội, công an, phải thực sự là tấm gương sáng, mẫu mực về đạo đức cách mạng, lối sống văn hóa, kỷ luật nghiêm minh và tinh thần tận tụy phục vụ nhân dân. Việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh phải được đưa vào chiều sâu, trở thành việc làm thường xuyên, tự giác, có sản phẩm cụ thể. Đồng thời, các lực lượng vũ trang cần tiếp tục đẩy mạnh công tác dân vận khéo, thực hiện ba bám, bốn cùng, gắn bó máu thịt với nhân dân. Cán bộ, chiến sĩ cần trực tiếp giúp dân xóa đói giảm nghèo, phòng chống thiên tai, đồng thời tham gia xây dựng đời sống văn hóa, phát triển kinh tế – xã hội tại các địa bàn đóng quân, đặc biệt là vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, qua đó xây dựng thế trận lòng dân kiên cố, tạo thành phòng tuyến vững chắc tại các địa bàn chiến lược.
Ba là, phát huy cao độ vai trò chủ thể, tính tích cực của nhân dân trong xây dựng đời sống văn hóa ở cơ sở. Các cấp ủy đảng, chính quyền cần thực hiện nghiêm túc, có hiệu quả phương châm dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng trong quá trình hoạch định và thực thi mọi chủ trương, chính sách phát triển văn hóa. Cần có cơ chế khuyến khích, hỗ trợ bằng nguồn lực cụ thể để nhân dân tự tổ chức các hoạt động văn hóa, văn nghệ, thể dục thể thao quần chúng, bảo tồn và phát huy các lễ hội truyền thống, các phong tục tập quán tốt đẹp, đồng thời vận động nhân dân chủ động bài trừ hủ tục lạc hậu, mê tín dị đoan. Chính quyền các cấp cần quan tâm thiết thực đến việc cải thiện không gian sống, đầu tư hệ thống thiết chế văn hóa cơ sở đồng bộ, tạo điều kiện thuận lợi nhất để mọi người dân, không phân biệt vùng miền, giai tầng, đều được quyền tiếp cận, tham gia sáng tạo và thụ hưởng các giá trị văn hóa một cách công bằng, văn minh. Sự hài lòng và hạnh phúc của nhân dân chính là thước đo cao nhất cho sự thành công của thế trận an ninh văn hóa.
Kết luận
Xây dựng thế trận an ninh văn hóa ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay là một đòi hỏi tất yếu khách quan, một chiến lược trọng yếu nhằm bảo vệ vẹn nguyên linh hồn và cốt cách dân tộc cũng như nền tảng tư tưởng của Đảng trước những biến động phức tạp của thời đại. Bằng sự kết hợp đồng bộ giữa phòng thủ công nghệ trên không gian số, hoàn thiện hành lang pháp lý, phát triển công nghiệp văn hóa và giáo dục bản lĩnh con người, chúng ta đang chủ động chuyển từ thế giữ gìn sang thế kiến tạo và phát triển nội lực quốc gia.
Đối với đội ngũ cán bộ trong Quân đội nhân dân Việt Nam, vấn đề này không chỉ mang tầm vóc lý luận mà còn là mệnh lệnh từ trái tim người lính cách mạng. Việc nghiên cứu, quán triệt chiến lược an ninh văn hóa giúp cán bộ quân đội tự thắp sáng bản lĩnh chính trị cá nhân, giữ vững danh dự và phẩm chất cao quý của Bộ đội Cụ Hồ, đồng thời biết cách vận hành hiệu quả các thiết chế văn hóa tại đơn vị. Bằng tình cảm và trách nhiệm gắn bó máu thịt với nhân dân, cán bộ quân đội sẽ tiếp tục là lực lượng xung kích trên tuyến đầu, góp phần xây dựng thế trận lòng dân kiên cố, tạo thành một hệ thống bảo vệ vững chắc để đất nước tự tin tiến bước trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.
Thiếu tá, ThS. Nguyễn Quang Bốn – Học viện Chính trị/Bộ Quốc phòng
Chú thích tài liệu trích dẫn
[1] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, tập II, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2026, tr.125.
[2] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, tập I, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2026, tr.168.
[3] Đảng Cộng sản Việt Nam, Nghị quyết số 80-NQ/TW ngày 07/01/2026 của Bộ Chính trị về phát triển văn hoá Việt Nam, Hà Nội, 2026, tr.9.
[4] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, tập I, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2026, tr.197.
[5] Đảng Cộng sản Việt Nam, Nghị quyết số 80-NQ/TW ngày 07/01/2026 của Bộ Chính trị về phát triển văn hoá Việt Nam, Hà Nội, 2026, tr.4.
[6] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, tập I, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2026, tr.159.
[7] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, tập I, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2026, tr.74.
[8] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, tập I, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2026, tr.392.
Tài liệu tham khảo
- Ban Chấp hành Trung ương, Nghị quyết số 80-NQ/TW, ngày 07/01/2026, của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam, Hà Nội, 2026.
- Nguyễn Bá Dương, “Quan điểm về phát triển nền văn hóa Việt Nam trong Dự thảo báo cáo chính trị Đại hội XIV của Đảng”, Tạp chí Quốc phòng toàn dân điện tử, ngày 6/11/2025.
- Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, tập I, II, Nxb CTQGST, Hà Nội, 2021.
- Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, tập I, II, Nxb CTQGST, Hà Nội, 2026.
- Tô Lâm, “Báo cáo về các văn kiện trình Đại hội XIV của Đảng Cộng sản Việt Nam”, Tạp chí Cộng sản điện tử, ngày 20/01/2026.
- Tô Huy Rứa, Thực trạng phát triển lý luận của Đảng về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội từ năm 1986 đến nay, Nxb CTQGST, Hà Nội, 2024.
- Bùi Hoài Sơn, “Những quan điểm mới của Đảng về văn hoá trong Dự thảo Văn kiện Đại hội Đảng lần thứ XIV”, Tạp chí Văn hóa Nghệ thuật điện tử, ngày 13/11/2025.
- Bùi Hoài Sơn, “Văn hóa trong Văn kiện Đại hội XIV: Từ nền tảng đến động lực”, Tạp chí Văn hóa Nghệ thuật điện tử, ngày 21/01/2026.
- Nguyễn Phú Trọng, Xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, Nxb CTQGST, Hà Nội, 2024.


