Thứ Hai, Tháng 7 6, 2026
* Email: bbt.dongnama@gmail.com *Tòa soạn: 0989011688 - 0768908888
spot_img
[gtranslate]

40 năm dòng dầu đầu tiên và hành trình tình nghĩa Việt – Xô, Việt – Nga trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc



ĐNA -

Ngày 26/6/1986, dòng dầu thương mại đầu tiên từ mỏ Bạch Hổ đánh dấu bước ngoặt lịch sử của ngành dầu khí Việt Nam. Đằng sau cột mốc ấy là hành trình bền chặt của tình hữu nghị Việt – Xô, từ những dòng xăng dầu xẻ dọc tuyến đường Trường Sơn, các công trình thủy điện đồ sộ trong hòa bình, cho đến các giàn khoan kiên cường giữa biển khơi. Bốn mươi năm sau nhìn lại, đây không chỉ là câu chuyện về một ngành kinh tế mũi nhọn, mà còn là biểu tượng của tình đoàn kết quốc tế, lòng biết ơn, nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền biển đảo và khát vọng vươn lên của dân tộc Việt Nam.

Thử vỉa dầu trong tầng móng Bạch Hổ. Ảnh tư liệu Vietsovpetro

Từ Trường Sơn đến dòng chảy hậu cần chiến lược
Trong những năm tháng ác liệt nhất của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, tình hữu nghị Việt – Xô được hun đúc và thử thách bằng những hành động viện trợ thiết thực, kịp thời. Những chuyến tàu vượt đại dương chở đầy vũ khí, phương tiện, hàng hóa và đặc biệt là nguồn xăng dầu quý giá từ Liên Xô đã bổ sung nguồn lực hậu cần chiến lược, tiếp thêm sức mạnh cho quân và dân Việt Nam. Từ các bến cảng, kho tàng bí mật, những dòng nhiên liệu nghĩa tình ấy được vận chuyển vào tuyến đường Trường Sơn huyền thoại, tiếp sức cho các đoàn xe vượt mưa bom bão đạn, đưa sức người, sức của đến tiền tuyến miền Nam, góp phần hiện thực hóa khát vọng độc lập, thống nhất đất nước.

Lịch sử cũng ghi nhận hơn 11.000 chuyên gia quân sự Liên Xô đã trực tiếp sát cánh cùng bộ đội phòng không, không quân Việt Nam trên những trận địa ác liệt. Giữa tọa độ lửa đạn, họ không quản hiểm nguy huấn luyện bộ đội Việt Nam làm chủ tên lửa SAM-2, máy bay MiG-21 và nhiều khí tài hiện đại; thậm chí có những người đã anh dũng hy sinh ngay trên chiến trường. Cùng với vũ khí, nguồn nhiên liệu được vận chuyển từ vùng Viễn Đông của Liên Xô, bất chấp sự phong tỏa đường biển của đối phương, đã trở thành mạch máu nuôi sống hệ thống đường ống Trường Sơn, bảo đảm những đoàn xe chi viện cho chiến trường không ngừng lăn bánh. Mỗi giọt xăng khi ấy không chỉ là nguồn năng lượng cho cuộc kháng chiến mà còn thấm đượm tinh thần đoàn kết quốc tế và nghĩa tình Việt – Xô son sắt.

Sau ngày đất nước hoàn toàn thống nhất, dòng chảy nghĩa tình ấy không dừng lại mà tiếp tục được nối dài trong công cuộc kiến thiết hòa bình. Nếu trong chiến tranh, sự giúp đỡ chí tình của Liên Xô góp phần tiếp thêm sinh lực để Việt Nam giành độc lập, thì trong thời bình, tình hữu nghị Việt – Xô lại trở thành động lực quan trọng cho công cuộc tái thiết và phát triển đất nước. Từ tuyến hậu cần Trường Sơn năm xưa đến những đại công trường xây dựng, từ bảo đảm hậu cần quân sự đến phát triển ngành năng lượng hiện đại, đó là sự chuyển tiếp tự nhiên của một mối quan hệ được bồi đắp bằng lòng tin, sự thủy chung và khát vọng cùng hướng tới tương lai.

Để tiếp nối dòng chảy nghĩa tình ấy, quan hệ Việt – Xô bước sang một giai đoạn phát triển mới với những cam kết hợp tác mang tầm chiến lược, hướng tới tương lai lâu dài. Những người lính vừa bước ra từ khói lửa chiến tranh cùng lớp kỹ sư trẻ đầy nhiệt huyết đã ngồi lại với các chuyên gia Liên Xô để đặt những viên gạch đầu tiên cho nền công nghiệp năng lượng Việt Nam. Đó không chỉ là quá trình chuyển giao máy móc, thiết bị hay tri thức kỹ thuật, mà còn là sự truyền trao tinh thần vượt khó, ý chí tự lực tự cường và niềm tin vào khả năng hồi sinh, phát triển của một đất nước vừa đi qua chiến tranh. Chính từ nền tảng ấy, dòng chảy hậu cần chiến lược của thời chiến đã được tiếp nối thành dòng chảy của tri thức, công nghệ và hợp tác, mở đường cho những công trình năng lượng mang tầm vóc quốc gia trong thời kỳ hòa bình.

Từ những dòng điện đến khát vọng công nghiệp hóa
Sau chiến tranh, Việt Nam bước vào công cuộc tái thiết đất nước với muôn vàn khó khăn. Một nền kinh tế kiệt quệ đòi hỏi nguồn điện cho sản xuất, hạ tầng đồng bộ, nền công nghiệp hiện đại và đặc biệt là đội ngũ cán bộ khoa học – kỹ thuật đủ năng lực để kiến thiết tương lai. Trong bối cảnh ấy, sự hợp tác toàn diện giữa Việt Nam và Liên Xô tiếp tục ghi dấu bằng hàng loạt công trình trọng điểm như Thủy điện Hòa Bình trên sông Đà, Thủy điện Trị An cùng nhiều dự án quy mô lớn khác. Những công trình ấy không chỉ cung cấp nguồn năng lượng cho đất nước mà còn trở thành biểu tượng của tình hữu nghị Việt – Xô trong thời bình.

Tại công trường Thủy điện Hòa Bình, hơn 9.000 tấn thiết bị siêu trường, siêu trọng được vận chuyển từ Liên Xô vượt đại dương đến Việt Nam, góp phần chinh phục dòng sông Đà và xây dựng công trình thủy điện lớn nhất Đông Nam Á thời bấy giờ. Tình hữu nghị ấy còn được viết bằng sự hy sinh khi 42 chuyên gia Liên Xô đã mãi mãi nằm lại nơi lòng núi sông Đà cùng các kỹ sư, công nhân Việt Nam trong quá trình thi công. Cũng trong giai đoạn này, Cung Văn hóa Lao động Hữu nghị Việt – Xô, khởi công năm 1978 và khánh thành năm 1985 bằng nguồn tài trợ của Công đoàn Liên Xô, trở thành biểu tượng bền vững của tình đoàn kết giữa nhân dân hai nước và khát vọng xây dựng một đất nước hòa bình, phát triển.

Ở phía Nam, Thủy điện Trị An trên sông Đồng Nai tiếp tục là minh chứng sinh động cho hiệu quả của sự hợp tác Việt – Xô. Khởi công năm 1984 và phát điện tổ máy đầu tiên vào cuối năm 1987, công trình ra đời đúng thời điểm miền Nam đang thiếu hụt điện năng nghiêm trọng cho sản xuất và đời sống. Với sự hỗ trợ về chuyên gia, thiết bị và công nghệ từ Liên Xô, Trị An hoàn thành đúng tiến độ, bổ sung nguồn điện quan trọng cho lưới điện quốc gia và tạo động lực phát triển vùng kinh tế trọng điểm phía Nam.

Chính từ những công trình năng lượng quy mô ấy, Việt Nam từng bước tích lũy nền tảng về cơ sở vật chất, công nghệ và nguồn nhân lực để tự tin tiến vào các lĩnh vực công nghiệp nặng có hàm lượng kỹ thuật cao, trong đó có dầu khí. Sự giúp đỡ vô tư của Liên Xô không chỉ hiện hữu qua những nhà máy, tổ máy phát điện hay các công trình bê tông đồ sộ, mà còn góp phần đào tạo một thế hệ kỹ sư, công nhân lành nghề biết làm chủ khoa học – công nghệ hiện đại, rèn luyện tác phong công nghiệp và nuôi dưỡng niềm tin rằng người Việt Nam hoàn toàn có thể chinh phục những lĩnh vực tưởng chừng ngoài tầm với. Chính nền tảng ấy đã mở đường cho bước ngoặt tiếp theo của ngành năng lượng Việt Nam: chinh phục biển khơi và khai thác dòng dầu đầu tiên từ mỏ Bạch Hổ.

Bạch Hổ – Điểm hội tụ của niềm tin và trí tuệ
Khát vọng xây dựng ngành công nghiệp dầu khí Việt Nam đã được nhen nhóm từ rất sớm. Năm 1959, trong chuyến thăm khu công nghiệp dầu khí Baku, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã bày tỏ mong muốn Việt Nam sau này cũng sẽ có một ngành dầu khí phát triển. Hai năm sau, Đoàn chuyên gia địa chất Liên Xô đầu tiên, mang mật danh Đoàn 36, đến khảo sát tại đồng bằng Bắc Bộ, đặt những nền móng đầu tiên cho công tác điều tra địa chất dầu khí. Đến ngày 19/6/1981, việc thành lập Liên doanh Dầu khí Việt – Xô (Vietsovpetro) mở ra bước ngoặt lịch sử, đưa khát vọng ấy từ ý tưởng trở thành hiện thực. Giữa vùng biển đầy sóng gió của thềm lục địa phía Nam, các chuyên gia Liên Xô và kỹ sư Việt Nam bắt đầu hành trình tìm kiếm “vàng đen” trong điều kiện còn nhiều thiếu thốn về vốn, thiết bị và kinh nghiệm.

Ngày 26/6/1986, dòng dầu thương mại đầu tiên từ mỏ Bạch Hổ được khai thác thành công, đánh dấu sự ra đời của ngành công nghiệp khai thác dầu khí hiện đại ở Việt Nam. Cột mốc này xuất hiện đúng thời điểm đất nước chuẩn bị bước vào công cuộc Đổi mới, khi nền kinh tế đang đứng trước những yêu cầu cấp bách về nguồn lực phát triển. Những thùng dầu đầu tiên không chỉ mang lại nguồn ngoại tệ quan trọng cho ngân sách nhà nước mà còn củng cố niềm tin rằng Việt Nam hoàn toàn có thể xây dựng và làm chủ một ngành công nghiệp hiện đại trên biển, tạo động lực mới cho quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.

Từ dòng dầu lịch sử ấy, một chuỗi giá trị dầu khí đồng bộ từng bước được hình thành, bao gồm tìm kiếm, thăm dò, khai thác, vận chuyển khí vào bờ, phát triển công nghiệp điện – khí, sản xuất phân bón, lọc hóa dầu và các dịch vụ kỹ thuật chuyên sâu. Trong nhiều thập niên, ngành dầu khí đã trở thành một trong những trụ cột của nền kinh tế, đóng góp quan trọng cho ngân sách nhà nước, cân đối nguồn ngoại tệ, phát triển hạ tầng công nghiệp và bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia, tạo nền tảng vật chất cho sự nghiệp Đổi mới.

Không chỉ mang ý nghĩa kinh tế, mỏ Bạch Hổ còn ghi dấu một thành tựu khoa học – công nghệ có giá trị quốc tế với việc phát hiện và khai thác hiệu quả dầu trong tầng đá móng nứt nẻ. Thành công này đã thay đổi nhiều nhận thức trong lĩnh vực địa chất dầu khí, đồng thời khẳng định năng lực nghiên cứu, sáng tạo và làm chủ công nghệ của đội ngũ kỹ sư Việt Nam cùng các chuyên gia Liên Xô. Từ thực tiễn sản xuất, hàng nghìn sáng kiến và giải pháp kỹ thuật đã được triển khai, không ngừng nâng cao hiệu quả khai thác, đưa Vietsovpetro trở thành một trong những mô hình hợp tác dầu khí thành công và bền vững nhất giữa hai quốc gia.

Vietsovpetro – những cụm công nghiệp dầu khí, những cột mốc chủ quyền của Việt Nam giữa biển khơi
Giữa trùng khơi lộng gió, những giàn khoan của Liên doanh Vietsovpetro không chỉ là biểu tượng của nền công nghiệp dầu khí hiện đại mà còn là những cột mốc khẳng định sự hiện diện bền bỉ của Việt Nam trên thềm lục địa và vùng đặc quyền kinh tế của mình. Mỗi ngọn đuốc rực sáng giữa biển khơi, mỗi công trình vận hành liên tục ngày đêm đều thể hiện việc thực thi quyền chủ quyền và quyền tài phán của Việt Nam bằng những hoạt động kinh tế hợp pháp, hòa bình và hiệu quả. Trải qua hơn bốn thập kỷ, các cụm công nghiệp dầu khí đã hình thành một vành đai kinh tế – quốc phòng vững chắc, biến những vùng biển xa thành không gian phát triển gắn chặt với chủ quyền quốc gia.

Trong hành trình ấy, Liên Xô trước đây và Liên bang Nga ngày nay luôn là đối tác chiến lược tin cậy, sát cánh cùng Việt Nam duy trì các hoạt động dầu khí trên biển. Từ những ngày đầu thành lập Vietsovpetro đến hiện tại, sự hợp tác bền chặt giữa hai quốc gia không chỉ tạo nên những thành tựu kinh tế có ý nghĩa đặc biệt mà còn góp phần củng cố sự hiện diện liên tục của Việt Nam trên các vùng biển thuộc quyền chủ quyền và quyền tài phán theo Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982. Mỗi công trình được xây dựng, mỗi giếng dầu được đưa vào khai thác đều là minh chứng sinh động cho sự kết hợp hài hòa giữa phát triển kinh tế biển và bảo vệ lợi ích quốc gia trên biển bằng các biện pháp hòa bình.

Sự kết hợp giữa phát triển kinh tế biển và bảo đảm quốc phòng, an ninh đã trở thành định hướng xuyên suốt trong hoạt động của Vietsovpetro. Các giàn công nghệ trung tâm, giàn khoan tự nâng, hệ thống đường ống và đội tàu dịch vụ không chỉ phục vụ khai thác dầu khí mà còn góp phần tăng cường khả năng hiện diện, quan trắc và phối hợp với các lực lượng thực thi pháp luật trên biển. Mỗi kỹ sư, công nhân dầu khí làm việc giữa sóng gió đều mang trên vai sứ mệnh của những người lao động nơi đầu sóng ngọn gió, vừa tạo ra nguồn lực cho đất nước, vừa góp phần giữ vững sự hiện diện của Việt Nam trên biển.

Nhìn từ trên cao, các cụm giàn khoan kết nối với nhau bằng hệ thống đường ống ngầm như một quần thể công nghiệp hiện đại giữa đại dương. Những khối thép khổng lồ đứng vững trước sóng gió không chỉ là thành quả của trí tuệ và bản lĩnh người Việt Nam mà còn là biểu tượng của mối quan hệ hợp tác bền chặt giữa Việt Nam với Liên Xô trước đây và Liên bang Nga ngày nay. Việc duy trì hoạt động sản xuất liên tục tại các mỏ Bạch Hổ, Rồng, Đại Hùng và nhiều công trình ngoài khơi khác đã tạo nên sự hiện diện kinh tế thường xuyên, góp phần khẳng định bằng thực tiễn việc quản lý, khai thác và sử dụng hợp pháp các vùng biển của Việt Nam.

Từ những dòng dầu khai thác giữa biển khơi, Việt Nam có thêm nguồn lực quan trọng để phát triển đất nước, đầu tư cho công nghiệp, hạ tầng và hiện đại hóa lực lượng bảo vệ Tổ quốc. Đồng thời, chính sự hiện diện lâu dài của các công trình dầu khí cũng tạo nên thế trận kinh tế gắn với quốc phòng trên biển, trong đó phát triển là nền tảng để bảo vệ, còn bảo vệ vững chắc là điều kiện để phát triển bền vững. Đó cũng là giá trị đặc biệt mà sự hợp tác Việt Nam – Liên Xô trước đây và Việt Nam – Liên bang Nga ngày nay đã cùng vun đắp suốt hơn bốn thập kỷ qua: đồng hành vì sự phát triển của ngành dầu khí Việt Nam, đồng thời góp phần củng cố thế và lực của Việt Nam trong việc bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp trên biển.

Từ Liên Xô đến Liên bang Nga – Sát cánh trong gian khó
Dù thế giới trải qua nhiều biến động sâu sắc, tình hữu nghị giữa Việt Nam với Liên Xô trước đây và Liên bang Nga ngày nay vẫn được gìn giữ, kế thừa và không ngừng phát triển trên nền tảng của sự tin cậy, thủy chung và tôn trọng lẫn nhau. Sau khi Liên Xô tan rã, cả Việt Nam và Liên bang Nga đều bước vào giai đoạn chuyển đổi với nhiều khó khăn. Tuy nhiên, dòng chảy hợp tác giữa hai nước không bị gián đoạn mà tiếp tục được duy trì, đặc biệt trong lĩnh vực dầu khí. Liên doanh Vietsovpetro vẫn hoạt động ổn định, trở thành minh chứng sinh động cho sức sống bền bỉ của mối quan hệ hợp tác được xây dựng qua nhiều thế hệ.

Một dấu mốc quan trọng trong giai đoạn mới là việc hai nước ký kết thỏa thuận xử lý khoản nợ tồn đọng từ thời Liên Xô. Năm 2000, dưới sự lãnh đạo của Tổng thống Vladimir Putin, Liên bang Nga và Việt Nam đã đạt được thỏa thuận giải quyết phần lớn khoản nợ lịch sử theo hướng tạo điều kiện thuận lợi cho Việt Nam tiếp tục phát triển kinh tế – xã hội. Quyết định này không chỉ tháo gỡ khó khăn về tài chính mà còn thể hiện tinh thần đồng hành, chia sẻ giữa hai quốc gia trong giai đoạn cùng đối mặt với những thách thức của quá trình đổi mới và hội nhập.

Quan hệ hợp tác năng lượng cũng bước sang một giai đoạn phát triển mới khi Việt Nam và Liên bang Nga không chỉ hợp tác khai thác dầu khí trên thềm lục địa Việt Nam mà còn cùng đầu tư tại chính lãnh thổ Nga. Sự ra đời của các liên doanh như Rusvietpetro đánh dấu bước chuyển quan trọng: từ mô hình hỗ trợ, chuyển giao công nghệ sang mô hình đối tác bình đẳng, cùng đầu tư, cùng quản trị và cùng chia sẻ thành quả. Những kỹ sư Việt Nam từng trưởng thành từ các mỏ Bạch Hổ, Rồng đã mang kinh nghiệm tích lũy qua nhiều thập kỷ sang chinh phục các mỏ dầu tại vùng Tây Siberia, khẳng định vị thế ngày càng trưởng thành của ngành dầu khí Việt Nam trên trường quốc tế.

Không chỉ trong lĩnh vực năng lượng, quan hệ Việt Nam – Liên bang Nga còn được bồi đắp bền chặt thông qua hợp tác về giáo dục, khoa học – công nghệ, quốc phòng, an ninh và giao lưu nhân dân. Hàng vạn cán bộ, kỹ sư, bác sĩ, nhà khoa học và sĩ quan Việt Nam đã được đào tạo tại các trường đại học, học viện của Nga, trở thành lực lượng nòng cốt trong nhiều lĩnh vực của đất nước. Trong những thời điểm khó khăn, từ thiên tai, dịch bệnh đến các biến động của tình hình quốc tế, hai nước luôn dành cho nhau sự hỗ trợ và sẻ chia trên tinh thần đối tác chiến lược toàn diện.

Hơn bốn thập kỷ kể từ ngày dòng dầu đầu tiên từ mỏ Bạch Hổ được khai thác, Vietsovpetro vẫn là biểu tượng tiêu biểu nhất của mối quan hệ Việt Nam – Nga. Đó không chỉ là một liên doanh thành công về kinh tế, mà còn là biểu tượng của niềm tin được bồi đắp qua thời gian, của sự đồng hành trong những giai đoạn khó khăn nhất và của khát vọng cùng phát triển vì lợi ích của nhân dân hai nước. Từ những chuyến tàu chở xăng dầu trên tuyến Trường Sơn năm nào đến những giàn khoan giữa Biển Đông và các mỏ dầu ở Siberia hôm nay, hành trình hợp tác ấy vẫn tiếp tục được viết bằng trí tuệ, bản lĩnh và tình hữu nghị bền vững giữa Việt Nam và Liên bang Nga.

Dự án năng lượng hạt nhân và khát vọng tương lai xanh
Từ những dòng dầu đầu tiên ở mỏ Bạch Hổ đến các công trình năng lượng quy mô lớn, hợp tác Việt Nam – Nga đang tiếp tục mở ra một chương phát triển mới với lĩnh vực năng lượng hạt nhân vì mục đích hòa bình. Trong bối cảnh nhu cầu năng lượng ngày càng tăng và mục tiêu phát thải ròng bằng “0” vào năm 2050, điện hạt nhân được xác định là một trong những giải pháp quan trọng nhằm bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia, đa dạng hóa nguồn cung và thúc đẩy quá trình chuyển dịch năng lượng theo hướng xanh, bền vững. Với kinh nghiệm hàng đầu thế giới của Liên bang Nga cùng nền tảng hợp tác được xây dựng qua nhiều thập kỷ, lĩnh vực này hứa hẹn sẽ trở thành một điểm nhấn mới trong quan hệ đối tác chiến lược toàn diện giữa hai nước.

Song hành với định hướng phát triển đó là sự chuẩn bị bài bản về nguồn nhân lực và năng lực khoa học – công nghệ. Việt Nam và Liên bang Nga đang tiếp tục thúc đẩy hợp tác trong đào tạo chuyên gia hạt nhân, triển khai Dự án Trung tâm Nghiên cứu Khoa học và Công nghệ Hạt nhân tại Việt Nam, đồng thời mở rộng các chương trình đào tạo tại những trường đại học, viện nghiên cứu hàng đầu của Nga. Thế hệ kỹ sư trẻ hôm nay đang tiếp nối con đường của những lớp cán bộ dầu khí, năng lượng đi trước, từng bước tiếp cận, làm chủ các công nghệ tiên tiến và xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao cho ngành năng lượng tương lai.

Việc Quốc hội quyết định tái khởi động chủ trương đầu tư Dự án điện hạt nhân Ninh Thuận đã mở ra cơ hội hiện thực hóa những nền tảng hợp tác được chuẩn bị trong nhiều năm qua. Cùng với quá trình hoàn thiện cơ chế, chính sách, rà soát quy hoạch, chuẩn bị hạ tầng và nguồn nhân lực, Việt Nam cũng tiếp tục trao đổi với các đối tác quốc tế, trong đó có Liên bang Nga và Tập đoàn Rosatom, nhằm nghiên cứu các phương án hợp tác phù hợp với yêu cầu phát triển của đất nước. Mục tiêu không chỉ là xây dựng những nhà máy điện hạt nhân an toàn, hiện đại mà còn tiếp thu công nghệ, nâng cao năng lực quản lý, vận hành và từng bước phát triển hệ sinh thái công nghiệp hạt nhân phục vụ phát triển kinh tế – xã hội.

Từ những hành trình trải dài qua nhiều giai đoạn lịch sử; từ Trường Sơn rực lửa, đến Bạch Hổ trù phú và hướng tới những công nghệ năng lượng của tương lai – có thể thấy rõ một mạch nối bền chặt giữa quá khứ, hiện tại và tương lai trong quan hệ hợp tác Việt Nam – Liên bang Nga. Đó không chỉ là sự gắn kết về kinh tế – kỹ thuật, mà còn là biểu tượng của tình hữu nghị được vun đắp bằng niềm tin, sự chia sẻ tri thức và khát vọng phát triển bền vững.

Trong bối cảnh thế kỷ XXI, khi thế giới đang chuyển mình mạnh mẽ theo hướng xanh hóa và hiện đại hóa năng lượng, việc mở rộng hợp tác sang các lĩnh vực công nghệ cao, đặc biệt là năng lượng hạt nhân, không chỉ mở ra những cơ hội phát triển mới mà còn khẳng định tầm nhìn chiến lược của hai quốc gia. Tiếp nối di sản quý báu của các thế hệ đi trước, thế hệ hôm nay mang trên mình trách nhiệm gìn giữ hòa bình, bảo vệ chủ quyền và thúc đẩy phát triển kinh tế bền vững.

Hành trình ấy sẽ tiếp tục được viết tiếp bằng trí tuệ, bản lĩnh và khát vọng vươn lên, góp phần đưa Việt Nam tiến bước vững chắc trên con đường hội nhập và khẳng định vị thế trên trường quốc tế.

Thế Nguyễn – Minh Văn