Chuyển hóa nền giáo dục và đào tạo xã hội chủ nghĩa là mục tiêu trong chiến lược “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch nhằm xóa bỏ thành quả cách mạng Việt Nam. Thực chất, đây là “cách mạng trắng” nhằm làm phai nhạt ý thức hệ, làm suy yếu nền tảng tư tưởng của Đảng và cắt đứt sự tiếp nối sự nghiệp cách mạng đối với thế hệ trẻ. Vì vậy, đấu tranh làm thất bại chiến lược này trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với việc bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng và bảo đảm sự kế tục sự nghiệp cách mạng của các thế hệ Việt Nam.

Để triển khai chiến lược “diễn biến hòa bình”, hay còn gọi là “cách mạng trắng” (White Revolution) trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo ở nước ta, các thế lực chống phá sử dụng nhiều thủ đoạn với mức độ công khai và tinh vi khác nhau. Trên các kênh báo chí, truyền thông trái chiều và mạng xã hội, những hiện tượng tiêu cực nảy sinh trong hoạt động giáo dục và đào tạo như tuyển sinh, thi cử, quan hệ đồng nghiệp, bạo lực học đường… thường bị chúng lợi dụng, thổi phồng, xuyên tạc nhằm bôi nhọ bản chất của nền giáo dục Việt Nam. Từ các vụ việc cá biệt, chúng quy kết rằng mọi hạn chế của giáo dục đều bắt nguồn từ việc áp đặt quan điểm chính trị, qua đó phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng và sự quản lý của Nhà nước đối với lĩnh vực giáo dục và đào tạo. Đây là thủ đoạn khá lộ liễu, dễ bị nhận diện và vô hiệu hóa khi các sai phạm được xử lý nghiêm minh, kịp thời, đồng thời các hành vi lợi dụng để xuyên tạc, chống phá bị ngăn chặn bằng các biện pháp hành chính và pháp luật.
Tinh vi và nguy hiểm hơn là việc lợi dụng, cổ xúy cái gọi là “giáo dục khai phóng” để từng bước chuyển hóa nền giáo dục xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam. Dưới danh nghĩa đổi mới, hội nhập và tự do học thuật, các thế lực thù địch tìm cách truyền bá những quan điểm giáo dục xa rời định hướng xã hội chủ nghĩa, từng bước hình thành cái gọi là “nền giáo dục khai phóng” nhằm làm suy giảm vai trò định hướng chính trị, tư tưởng của giáo dục, qua đó thực hiện mục tiêu “diễn biến hòa bình”, “cách mạng trắng” trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo.
“Giáo dục khai phóng” (Liberal Education) có nguồn gốc từ triết học Hy Lạp – La Mã cổ đại và phát triển qua nhiều giai đoạn lịch sử như một trào lưu tư tưởng về giáo dục. Bên cạnh những giá trị tích cực như đề cao tự do tư tưởng, chống tư tưởng chuyên chế và khuyến khích phát triển tư duy phản biện trong nhận thức chân lý, bản thân mô hình này cũng chứa đựng nhiều yếu tố gây tranh luận, như khuynh hướng tuyệt đối hóa tự do cá nhân, cổ súy chủ nghĩa hoài nghi và quan niệm giáo dục đứng ngoài chính trị. Xét từ nền tảng tư tưởng và mục tiêu giáo dục, “giáo dục khai phóng” có sự khác biệt căn bản với nền giáo dục Việt Nam hiện nay. Điều 3, khoản 1, Luật Giáo dục năm 2019 khẳng định: nền giáo dục Việt Nam là nền giáo dục xã hội chủ nghĩa, có tính nhân dân, dân tộc, khoa học, hiện đại, lấy chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng.
Trên thực tế, việc lợi dụng tư tưởng “giáo dục khai phóng” để từng bước làm thay đổi nền giáo dục truyền thống và định hướng chính trị không chỉ được đặt ra đối với Việt Nam mà đã xuất hiện ở nhiều quốc gia có thể chế chính trị khác biệt. Theo quan điểm này, “giáo dục khai phóng” được xem là một trong những yếu tố tác động đến các phong trào biểu tình, bạo loạn và bất ổn xã hội tại một số quốc gia như Trung Quốc với “Sự kiện Thiên An Môn” năm 1989, Bangladesh với làn sóng biểu tình năm 2024 (còn gọi là Cách mạng tháng Bảy), Nepal năm 2025, cũng như nhiều cuộc bãi khóa, biểu tình của học sinh, sinh viên ở các nước khác. Ngay tại nhiều quốc gia phương Tây, những tranh luận về hệ quả của mô hình giáo dục này cũng gắn với các phong trào phản đối chính sách giáo dục và những biến đổi về giá trị văn hóa, đạo đức truyền thống. Từ đó, ở nhiều nơi đã xuất hiện những quan điểm phê phán hoặc phản đối mô hình “giáo dục khai phóng” do lo ngại các tác động tiêu cực đối với ổn định chính trị, xã hội và hệ giá trị văn hóa truyền thống.
Đối với Việt Nam, các thế lực thù địch bị cho là đã lợi dụng những yếu tố tiêu cực của “giáo dục khai phóng” để phục vụ chiến lược “diễn biến hòa bình”, “cách mạng trắng”, từng bước tác động vào nền tảng tư tưởng của Đảng trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo. Dưới các khẩu hiệu như “tự do học thuật”, “tự do tư tưởng”, “cách nhìn đa chiều”, “phát triển tư duy phản biện”…, họ tìm cách phủ nhận hoặc làm suy giảm các giá trị truyền thống của gia đình, dân tộc và cách mạng; làm phai nhạt lòng yêu nước xã hội chủ nghĩa, tinh thần tự tôn, tự hào dân tộc, từ đó hướng một bộ phận học sinh, sinh viên đến tư tưởng bất đồng chính kiến, cực đoan và chống đối thể chế. Để thực hiện mục tiêu này, các đối tượng chống phá lợi dụng quá trình mở cửa, hội nhập và hợp tác quốc tế trong giáo dục, đồng thời móc nối với những cá nhân có biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, nhằm tác động vào các khâu của quá trình đổi mới giáo dục và đào tạo. Những thủ đoạn này được triển khai dưới nhiều hình thức khác nhau, trong đó nổi bật là các phương thức sau đây:
Một là, tác động làm thay đổi triết lý giáo dục từ truyền thống dân tộc và triết lý giáo dục xã hội chủ nghĩa sang triết lý “giáo dục khai phóng”.
“Tiên học lễ, hậu học văn” là triết lý giáo dục truyền thống cốt lõi của dân tộc Việt Nam, đề cao việc tu dưỡng đạo đức, rèn luyện nhân cách và chuẩn mực ứng xử làm nền tảng trước khi tiếp thu tri thức. Kế thừa và phát triển truyền thống đó, triết lý giáo dục xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam được xây dựng trên nền tảng chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, hướng tới mục tiêu đào tạo con người phát triển toàn diện về đức, trí, thể, mỹ, đáp ứng yêu cầu xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa.
Theo quan điểm này, các thế lực tiến hành “diễn biến hòa bình”, “cách mạng trắng” đang tìm cách từng bước thay thế triết lý giáo dục truyền thống và triết lý giáo dục xã hội chủ nghĩa bằng triết lý “giáo dục khai phóng”. Thực tế, tại một số cơ sở đào tạo, khẩu hiệu “Tiên học lễ, hậu học văn” đã được thay bằng các phương châm như “Toàn diện – Khai phóng”, “Nhân văn – Khai phóng – Sáng tạo”… Qua đó, từng bước định hình mô hình giáo dục đề cao chủ nghĩa cá nhân, làm giảm vai trò của chủ nghĩa tập thể, chuyển từ quan niệm công dân gắn với quốc gia, dân tộc sang “công dân toàn cầu”, từ đó tác động đến định hướng tư tưởng và hệ giá trị của người học.
Sự chuyển đổi này còn được thể hiện qua việc thay đổi các biểu tượng giáo dục trong nhà trường. Theo đó, hình tượng các danh nhân văn hóa, nhà giáo dục có nhiều đóng góp cho dân tộc như Chu Văn An, Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Lê Quý Đôn… dần bị thay thế hoặc giảm vị trí biểu tượng, trong khi xuất hiện những biểu tượng mới được cho là xa lạ với truyền thống giáo dục Việt Nam. Theo quan điểm của tác giả, việc xây dựng biểu tượng “Nữ thần Khai sáng” tại Trường Đại học Tân Tạo xã Đức Hòa, Tây Ninh là một biểu hiện đáng chú ý của xu hướng này, đặt ra yêu cầu cần nghiên cứu, đánh giá khách quan về tác động đối với bản sắc và định hướng của nền giáo dục Việt Nam.
Hai là, từ việc từng bước thay đổi triết lý và mục tiêu giáo dục, các thế lực chống phá tiếp tục tác động những yếu tố tiêu cực của “giáo dục khai phóng” vào toàn bộ quá trình đổi mới giáo dục, từ chương trình, nội dung, phương pháp dạy học đến kiểm tra, đánh giá, trong đó trọng tâm là nội dung giảng dạy, phương pháp truyền thụ và thi cử.
Về nội dung giảng dạy, lợi dụng chủ trương đổi mới giáo dục và đào tạo, các đối tượng chống phá tìm cách tác động làm cắt giảm nội dung và thời lượng các môn khoa học xã hội và nhân văn, nhất là lịch sử, giáo dục chính trị (giáo dục công dân) và ngữ văn, đặc biệt là bộ phận văn học cách mạng. Theo quan điểm của tác giả, quá trình đổi mới sách giáo khoa phổ thông với việc đồng thời tồn tại nhiều bộ sách do các hội đồng khác nhau biên soạn đã bộc lộ những vấn đề cần được xem xét. Có thể trước hết xuất phát từ những hạn chế về nhận thức chính trị trong quá trình xây dựng chương trình, song cũng không loại trừ khả năng có sự tác động từ bên ngoài hoặc sự tham gia của một số cá nhân có biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong quá trình lựa chọn nội dung đưa vào sách giáo khoa.
Thực tế cho thấy, một số nội dung được cho là có ý nghĩa giáo dục truyền thống đã không còn xuất hiện hoặc giảm vị trí trong chương trình mới. Chẳng hạn, 5 điều Bác Hồ dạy và một số bài thơ của Chủ tịch Hồ Chí Minh về lịch sử dân tộc không còn trong sách giáo khoa tiểu học; môn Lịch sử từng được bố trí là môn học lựa chọn ở một số cấp học; nhiều tác phẩm thuộc dòng văn học cách mạng trong chương trình Ngữ văn được tinh giản, làm giảm vai trò chủ lưu của mạch văn học này. Đồng thời, dư luận cũng từng đặt vấn đề về thành phần một số hội đồng biên soạn sách giáo khoa, trong đó có những cá nhân từng tham gia các kiến nghị liên quan đến sửa đổi Điều 4 Hiến pháp năm 2013, từ đó làm dấy lên những tranh luận về định hướng chính trị trong quá trình đổi mới giáo dục.
Cùng với việc điều chỉnh cơ cấu nội dung, theo quan điểm của tác giả, các thế lực chống phá còn tìm cách đưa vào chương trình những tác phẩm hoặc quan điểm còn nhiều tranh luận về lịch sử và chiến tranh cách mạng. Thông qua chủ trương đa dạng hóa sách giáo khoa, các ấn phẩm mang tư tưởng khác với quan điểm chính thống được quảng bá rộng rãi, từng bước tạo dư luận, vận động để đưa vào chương trình giáo dục phổ thông. Trường hợp tiểu thuyết Nỗi buồn chiến tranh của Bảo Ninh được xem là một ví dụ điển hình. Theo cách nhìn này, tác phẩm sử dụng hình thức hư cấu, góc nhìn cá nhân và cách tiếp cận đa chiều đối với chiến tranh, từ đó bị cho là làm giảm tính chính nghĩa của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, gây tranh luận về hình tượng người lính cách mạng và cách diễn giải lịch sử. Việc giới thiệu tác giả ở cấp trung học cơ sở và đưa trích đoạn tác phẩm vào chương trình trung học phổ thông được nhìn nhận là lộ trình từng bước mở rộng ảnh hưởng của cách tiếp cận này đối với nhận thức của học sinh.
Về phương pháp truyền thụ – lĩnh hội, các thế lực chống phá phê phán phương pháp giảng dạy truyền thống là cứng nhắc, giáo điều, coi người học chỉ tiếp nhận tri thức một chiều, từ đó cổ súy áp dụng phương pháp của “giáo dục khai phóng”, nổi bật là phương pháp “đối thoại”. Đây là phương pháp có nguồn gốc từ triết học Hy Lạp cổ đại, còn gọi là phương pháp Socrates (Socratic Method), dựa trên việc đặt câu hỏi liên tục để dẫn dắt người học khám phá vấn đề. Theo quan điểm của tác giả, khi được vận dụng trong một số hoạt động giáo dục ở nước ta, phương pháp này có thể bị lợi dụng để dẫn dắt người học từ nghi vấn đến hình thành những mâu thuẫn mang tính hình thức, qua đó phủ định những tri thức đã được xác lập. Để tăng sức tác động, phương pháp “đối thoại khai phóng” còn được kết hợp với các cách tiếp cận như “đa chiều”, “giải thiêng”, từng bước gieo rắc chủ nghĩa tương đối và chủ nghĩa hoài nghi. Hệ quả là làm xuất hiện tâm lý hoài nghi đối với các giá trị lịch sử, cách mạng, biểu tượng anh hùng dân tộc, từ đó ảnh hưởng đến niềm tin vào chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước.
Về kiểm tra, thi cử, theo quan điểm của tác giả, tư tưởng “giáo dục khai phóng” đã từng bước được phản ánh trong cách xây dựng đề thi, tiểu luận và hình thức đánh giá ở một số môn khoa học xã hội. Tác giả dẫn chứng kỳ thi tốt nghiệp trung học phổ thông năm 2026, trong đó đáp án môn Ngữ văn nêu nội dung “xây dựng nền giáo dục khai phóng, sáng tạo…”. Từ đó đặt vấn đề liệu cách diễn đạt này có hàm ý định hướng xây dựng “giáo dục khai phóng” như một mô hình giáo dục thay thế nền giáo dục xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam.
Cũng theo quan điểm của tác giả, việc sử dụng đoạn trích từ tác phẩm Code và Cat của Phan Tuấn trong đề thi Ngữ văn tốt nghiệp trung học phổ thông năm 2026 là một biểu hiện cần được xem xét. Tác giả cho rằng đây là người có nhiều phát ngôn gây tranh luận liên quan đến lịch sử, lãnh tụ cách mạng và thể chế chính trị; đồng thời nhận định các câu hỏi còn lại của đề thi cũng thể hiện cách tiếp cận mang tinh thần “khai phóng”, cần được đánh giá thận trọng về tác động đối với định hướng giáo dục.
Những thủ đoạn tác động các yếu tố tiêu cực của triết lý “giáo dục khai phóng” vào các khâu của quá trình đổi mới giáo dục và đào tạo thực chất là sự lợi dụng quy luật nhận thức thông qua quá trình truyền thụ – lĩnh hội để từng bước đưa những quan điểm lệch chuẩn vào nhận thức của người học. Mục tiêu của chúng là làm phai nhạt niềm tin của thế hệ trẻ đối với nền tảng tư tưởng của Đảng, chủ trương, đường lối của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước ngay từ khi còn ngồi trên ghế nhà trường. Đây là thủ đoạn tinh vi và nguy hiểm, nhằm từng bước làm suy giảm sức sống, làm xói mòn cơ sở tồn tại hiện thực của nền tảng tư tưởng của Đảng trong các thế hệ kế tục sự nghiệp cách mạng.
Sinh thời, trong Di chúc, Chủ tịch Hồ Chí Minh căn dặn: “Bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau là một việc rất quan trọng và rất cần thiết.” Lời căn dặn của Người có ý nghĩa chiến lược đối với sự nghiệp cách mạng Việt Nam. Để thực hiện nhiệm vụ đó, yêu cầu cốt lõi là phải thông qua giáo dục và đào tạo làm cho nền tảng tư tưởng của Đảng thấm sâu vào nhận thức, trở thành hạt nhân của thế giới quan, nhân sinh quan, lý tưởng và lẽ sống của các thế hệ trẻ, bảo đảm sự kế tục vững chắc sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Trên đây là một cách tiếp cận nhằm nhận diện thủ đoạn lợi dụng “giáo dục khai phóng” trong chiến lược “diễn biến hòa bình”, “cách mạng trắng” để phá hoại nền tảng tư tưởng của Đảng, từng bước làm chệch hướng nền giáo dục và đào tạo xã hội chủ nghĩa ở nước ta. Để đấu tranh làm thất bại thủ đoạn tinh vi này, cần tập trung thực hiện tốt một số giải pháp sau:
Một là, nâng cao nhận thức về tầm quan trọng của nhiệm vụ bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo trước âm mưu, thủ đoạn chuyển hóa nền giáo dục xã hội chủ nghĩa của các thế lực thù địch. Trong bối cảnh hiện nay, cần tăng cường cảnh giác, nhận diện đúng bản chất và phương thức lợi dụng “giáo dục khai phóng” với những biểu hiện, thủ đoạn ngày càng tinh vi; đẩy mạnh tuyên truyền, thống nhất nhận thức trong toàn Đảng, toàn dân và toàn ngành giáo dục; đồng thời kịp thời ban hành, triển khai đồng bộ các chủ trương, giải pháp và biện pháp phù hợp nhằm chủ động phòng ngừa, ngăn chặn, đấu tranh có hiệu quả.
Hai là, quán triệt và thực hiện nhất quán triết lý giáo dục truyền thống của dân tộc và triết lý giáo dục xã hội chủ nghĩa của Đảng trong toàn bộ quá trình đổi mới giáo dục và đào tạo. Trọng tâm là tiếp tục đổi mới chương trình, nội dung sách giáo khoa, nhất là ở bậc giáo dục phổ thông; đặc biệt chú trọng các môn Lịch sử, Ngữ văn và Giáo dục chính trị (Giáo dục công dân), bảo đảm tính khoa học, hiện đại, phù hợp thực tiễn, đồng thời giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa, không để các yếu tố tiêu cực của triết lý “giáo dục khai phóng” tác động làm chệch hướng mục tiêu giáo dục.
Ba là, chủ động xây dựng “sức đề kháng” cho nền giáo dục và đào tạo trước mọi âm mưu, thủ đoạn chống phá. Theo đó, cần tập trung xây dựng nền giáo dục và đào tạo vững mạnh theo tinh thần Đại hội XIV của Đảng và Nghị quyết số 71-NQ/TW ngày 22/8/2025 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo, hướng tới phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao. Trong đó, cần đặc biệt quan tâm xây dựng đội ngũ cán bộ quản lý và nhà giáo có đủ Tâm – Tầm – Trí, đáp ứng yêu cầu đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo; tăng cường sàng lọc, kiên quyết xử lý, đưa ra khỏi ngành những cán bộ, giáo viên có biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”; đồng thời không ngừng đổi mới nội dung, phương pháp và hình thức giáo dục, kịp thời khắc phục những bất cập, hạn chế trong thực tiễn để không tạo kẽ hở cho các thế lực thù địch lợi dụng chống phá, làm suy giảm niềm tin của thế hệ trẻ đối với Đảng và chế độ ngay từ môi trường nhà trường.
Trong bối cảnh các thế lực thù địch đẩy mạnh chiến lược “diễn biến hòa bình”, “cách mạng trắng”, giáo dục và đào tạo tiếp tục là một trọng điểm chống phá nhằm làm chệch hướng nền giáo dục xã hội chủ nghĩa và từng bước xói mòn nền tảng tư tưởng của Đảng. Việc lợi dụng những yếu tố tiêu cực của triết lý “giáo dục khai phóng” để tác động vào triết lý, mục tiêu, nội dung, phương pháp và quá trình đổi mới giáo dục là thủ đoạn tinh vi, lâu dài, cần được nhận diện đúng để chủ động đấu tranh, ngăn chặn. Vì vậy, kiên định triết lý giáo dục của Đảng, giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa, đồng thời xây dựng nền giáo dục tiên tiến, hiện đại trên nền tảng các giá trị dân tộc, chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh vừa là yêu cầu của đổi mới giáo dục, vừa là nhiệm vụ chiến lược trong bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng. Bảo vệ nền giáo dục xã hội chủ nghĩa là bảo vệ môi trường hình thành thế giới quan, nhân sinh quan, lý tưởng cách mạng của các thế hệ tương lai; qua đó giữ vững cơ sở tồn tại hiện thực và sức sống bền vững của nền tảng tư tưởng của Đảng, bảo đảm sự kế tục sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.
Đại tá, PGS,TS triết học Hà Nguyên Cát


