Sau gần 40 năm đổi mới, kinh tế tư nhân Việt Nam đã phát triển cả về quy mô và chất lượng, trở thành động lực quan trọng thúc đẩy tăng trưởng, đổi mới sáng tạo và ổn định xã hội. Tuy nhiên, khu vực này vẫn chưa phát huy hết tiềm năng khi đa số doanh nghiệp có quy mô nhỏ, năng lực công nghệ và đổi mới sáng tạo còn hạn chế. Nguyên nhân cốt lõi là những bất cập về thể chế, pháp luật, quyền tài sản, quyền tự do kinh doanh và chi phí kinh doanh còn cao.

Cho đến nay, khu vực kinh tế tư nhân đã khẳng định vai trò là động lực quan trọng của nền kinh tế nhưng vẫn đối mặt với nhiều rào cản về thể chế, pháp luật, làm hạn chế khả năng bứt phá về quy mô, năng lực cạnh tranh và đổi mới sáng tạo. Nhằm tạo đột phá trong phát triển khu vực này, tháng 5/2025, Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân và Nghị quyết số 66-NQ/TW về đổi mới công tác xây dựng, thi hành pháp luật; Quốc hội tiếp đó ban hành Nghị quyết số 198/2025/QH15 để thể chế hóa các chủ trương trên bằng những cơ chế, chính sách đặc biệt.
Trên cơ sở đó, bài viết phân tích những đổi mới trong tư duy lý luận của Đảng về phát triển kinh tế tư nhân và việc thể chế hóa các quan điểm này thông qua Nghị quyết số 198/2025/QH15, tập trung vào các chính sách bảo đảm an toàn pháp lý cho hoạt động kinh doanh, hạn chế hình sự hóa các quan hệ kinh tế, đổi mới công tác thanh tra, kiểm tra và các cơ chế ưu đãi thúc đẩy đổi mới sáng tạo. Từ đó, bài viết đề xuất một số khuyến nghị nhằm nâng cao hiệu quả thực thi các nghị quyết, góp phần xây dựng môi trường đầu tư, kinh doanh an toàn, minh bạch, cạnh tranh và phát huy vai trò dẫn dắt của khu vực kinh tế tư nhân trong phát triển kinh tế đất nước.
Thực trạng phát triển kinh tế tư nhân đến cuối năm 2025 và những điểm nghẽn cấu trúc
Quá trình đổi mới gần 40 năm đã tạo ra một diện mạo hoàn toàn mới cho khu vực kinh tế tư nhân tại Việt Nam. Tính đến cuối năm 2025, kinh tế tư nhân đã khẳng định được sức sống mãnh liệt và đóng góp toàn diện trên các mặt trận kinh tế – xã hội.
Quy mô chủ thể, năng lực hấp thụ lao động và đóng góp vĩ mô
Quy mô chủ thể: Tính đến năm 2024-2025, hệ sinh thái kinh tế tư nhân hiện bao gồm hơn 940 nghìn doanh nghiệp đang hoạt động và hơn 05 triệu hộ kinh doanh cá thể. Sự gia tăng liên tục về số lượng chủ thể, ngay cả trong những giai đoạn nền kinh tế toàn cầu đối mặt với “đa khủng hoảng”, phản ánh tinh thần khởi nghiệp và sức chống chịu bền bỉ của người dân. Nhiều doanh nghiệp tư nhân đã phát triển lớn mạnh, hình thành các tập đoàn kinh tế tư nhân đa ngành, khẳng định thương hiệu và vươn ra thị trường khu vực, thế giới.
Hấp thụ lao động: Điểm sáng lớn nhất của kinh tế tư nhân chính là năng lực giải quyết việc làm. Khu vực này hiện đang sử dụng khoảng 82% tổng số lao động toàn xã hội. Bằng việc tạo ra hàng chục triệu việc làm phi nông nghiệp, kinh tế tư nhân đóng vai trò là “bộ đệm giảm xóc” cho áp lực việc làm, góp phần trực tiếp vào việc xóa đói giảm nghèo và duy trì sự ổn định của cấu trúc an sinh xã hội.
Đóng góp GDP và Ngân sách: Sự gia tăng về số lượng chủ thể đã được chuyển hóa thành tỷ trọng đóng góp vĩ mô ổn định. Dữ liệu đến năm 2025 cho thấy, khu vực kinh tế tư nhân đóng góp khoảng 50% đến 51% vào tổng sản phẩm quốc nội (GDP). Về khía cạnh tài khóa, kinh tế tư nhân hiện đóng góp hơn 30% tổng thu ngân sách nhà nước, cung cấp nguồn lực tài chính quan trọng để vận hành bộ máy hành chính và đầu tư công.
Hiệu suất công nghệ và nghịch lý năng suất
Mặc dù có đóng góp áp đảo về lượng (82% lao động), nhưng kinh tế tư nhân chỉ đóng góp khoảng 50% GDP, điều này bộc lộ một nghịch lý về năng suất: năng suất lao động bình quân của khu vực tư nhân nội địa vẫn thấp hơn đáng kể so với khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài (FDI) và doanh nghiệp Nhà nước. Hầu hết các doanh nghiệp tư nhân có năng lực công nghệ và đổi mới sáng tạo ở mức thấp. Trình độ quản trị hạn chế, tư duy kinh doanh còn thiếu tầm nhìn chiến lược dài hạn, và mức độ kết nối với các chuỗi cung ứng toàn cầu thông qua khối FDI vẫn còn rất rời rạc.
Nhận diện các điểm nghẽn và nguyên nhân cấu trúc
Sự phát triển của kinh tế tư nhân chưa tương xứng với tiềm năng. Đồ thị phát triển của kinh tế tư nhân đang có dấu hiệu tiệm cận giới hạn trên do các điểm nghẽn mang tính cấu trúc sau:
Bẫy quy mô siêu nhỏ và rào cản chính thức hóa: Hầu hết các doanh nghiệp tư nhân hiện nay có quy mô siêu nhỏ, nhỏ và vừa (SMEs). Tình trạng phân mảnh này ngăn cản các doanh nghiệp đạt được “lợi thế nhờ quy mô” để tối ưu hóa chi phí biên. Đáng chú ý, hơn 5 triệu hộ kinh doanh cá thể vẫn e ngại việc chuyển đổi mô hình lên doanh nghiệp. Nguyên nhân sâu xa là do “chi phí tuân thủ” về kế toán, thuế, và bảo hiểm tăng phi tuyến tính khi chuyển đổi mô hình, tạo ra động lực ngược, khiến các chủ thể kinh tế muốn giữ quy mô nhỏ để tránh sự chú ý của các cơ quan thanh tra, kiểm tra.
Rủi ro pháp lý và “chi phí giao dịch” phi chính thức: Quyền tài sản và quyền tự do kinh doanh chưa được bảo đảm một cách tuyệt đối. Thực trạng thanh tra, kiểm tra chồng chéo, nhũng nhiễu đã làm tăng đột biến chi phí giao dịch không chính thức, bào mòn biên lợi nhuận của doanh nghiệp. Ranh giới giữa vi phạm hành chính, dân sự trong kinh tế và chế tài hình sự trong một số văn bản pháp luật trước đây chưa thực sự rõ ràng. Nỗi lo sợ bị “hình sự hóa” các quan hệ kinh tế dân sự đã triệt tiêu “khẩu vị rủi ro” của các nhà đầu tư lớn, khiến họ e ngại mở rộng đầu tư vào các lĩnh vực sản xuất cốt lõi đòi hỏi vốn lớn và thời gian thu hồi dài.
Bất đối xứng trong tiếp cận nguồn lực (đất đai và tín dụng): Về mặt bằng sản xuất: Chi phí tiếp cận quỹ đất sạch trong các khu công nghiệp vượt quá khả năng tài chính của các doanh nghiệp tư nhân hiện nay có quy mô siêu nhỏ, nhỏ và vừa (SMEs) và các doanh nghiệp khởi nghiệp đổi mới sáng tạo công nghệ. Vướng mắc về thể chế đất đai khiến chi phí mặt bằng trở thành gánh nặng cố định khổng lồ.
Về vốn tín dụng: Sự bất đối xứng thông tin trên thị trường tín dụng khiến các ngân hàng thương mại đặt ra các tiêu chuẩn tài sản đảm bảo (chủ yếu là bất động sản) rất khắt khe. Các doanh nghiệp tư nhân, đặc biệt là doanh nghiệp công nghệ dựa trên tài sản vô hình, gần như không thể tiếp cận nguồn vốn trung và dài hạn với chi phí hợp lý.
Giới hạn ngân sách cho nghiên cứu – phát triển và đổi mới sáng tạo: Năng lực công nghệ thấp của kinh tế tư nhân bắt nguồn từ việc thiếu vắng các đòn bẩy tài chính đủ mạnh để chia sẻ rủi ro nghiên cứu. Đầu tư cho nghiên cứu và phát triển (R&D) mang tính chất chi phí chìm rất cao. Trong bối cảnh thiếu hụt các quỹ đầu tư mạo hiểm và chính sách ưu đãi thuế chưa mang tính đột phá, doanh nghiệp tư nhân chủ yếu lựa chọn chiến lược nhập khẩu máy móc thế hệ cũ hoặc gia công lắp ráp với hàm lượng giá trị gia tăng nội địa thấp, dẫn đến sự đình trệ trong việc nâng cấp năng suất tổng hợp.
Nguyên nhân hệ thống: Theo đánh giá của Trung ương Đảng, nguyên nhân gốc rễ xuất phát từ tư duy, nhận thức về vị trí của kinh tế tư nhân trong nền kinh tế còn chưa đầy đủ, chưa theo kịp thực tiễn; Còn tồn tại tư tưởng định kiến về kinh tế tư nhân trong một bộ phận bộ máy công quyền. Tư duy quản lý nhà nước vẫn còn nặng về “tiền kiểm”, cấp phép, mang dáng dấp của cơ chế “xin – cho”, thiếu vắng sự kiến tạo, đồng hành thực chất cùng doanh nghiệp.
Sự chuyển biến đột phá trong tư duy lý luận của đảng về kinh tế tư nhân
Hệ thống các Nghị quyết mới ban hành năm 2025 thể hiện một bước tiến vượt bậc trong tư duy lý luận của Đảng về vị trí, vai trò của kinh tế tư nhân trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.
Thứ nhất, nâng tầm vị thế kinh tế tư nhân thành “động lực quan trọng nhất”. Nếu Nghị quyết 10-NQ/TW (khóa XII) xác định kinh tế tư nhân là “một động lực quan trọng”, thì Nghị quyết 68-NQ/TW đã nâng lên thành “một động lực quan trọng nhất của nền kinh tế quốc gia”. Sự thay đổi này không chỉ là vấn đề câu chữ mà là một sự dịch chuyển về chất trong tư duy, đặt kinh tế tư nhân vào vị thế trung tâm, là lực lượng tiên phong thúc đẩy tăng trưởng và hiện đại hóa. Việc phát triển kinh tế tư nhân được xác định vừa là nhiệm vụ trọng tâm, cấp bách, vừa mang tính chiến lược lâu dài nhằm kích hoạt và sử dụng hiệu quả mọi nguồn lực trong Nhân dân.
Thứ hai, định hướng tư duy “nhà nước kiến tạo” và “pháp luật cạnh tranh”. Nghị quyết 66-NQ/TW xác định công tác xây dựng và thi hành pháp luật cũng là “đột phá của đột phá”. Tư duy quản lý nhà nước có sự thay đổi căn bản:
Chuyển từ nền hành chính công vụ, quản lý là chủ yếu sang phục vụ và kiến tạo phát triển, lấy doanh nghiệp làm trung tâm.
Dứt khoát từ bỏ tư duy “không quản được thì cấm”.
Đưa thể chế, pháp luật trở thành lợi thế cạnh tranh quốc gia, là nền tảng vững chắc để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế “hai con số”.
Thứ ba, tôn vinh đội ngũ doanh nhân và xóa bỏ định kiến. Văn kiện của Đảng yêu cầu xóa bỏ triệt để nhận thức, thái độ định kiến về kinh tế tư nhân, tôn trọng doanh nghiệp, xác định doanh nhân là “người chiến sĩ trên mặt trận kinh tế”. Lần đầu tiên, vai trò của doanh nhân được đề cao gắn liền với việc xây dựng đạo đức, văn hóa kinh doanh, góp phần củng cố niềm tin giữa nhà nước và khu vực kinh tế tư nhân.
Thể chế hóa các cơ chế, chính sách đặc biệt để bứt phá kinh tế tư nhân
Để cụ thể hóa Nghị quyết 68-NQ/TW, Quốc hội khóa XV đã ban hành Nghị quyết số 198/2025/QH15 quy định các cơ chế, chính sách đặc biệt với những giải pháp can thiệp trực diện vào các “điểm nghẽn” thực tiễn.
Bảo đảm an toàn pháp lý, “phi hình sự hóa” các quan hệ kinh tế
Bảo vệ quyền tài sản và giảm thiểu rủi ro pháp lý là nền tảng để doanh nghiệp an tâm đầu tư. Các nguyên tắc xử lý vi phạm đã được định hình lại một cách căn bản:
Phân định rõ trách nhiệm của pháp nhân với cá nhân, giữa tài sản hình thành hợp pháp với tài sản vi phạm.
Trường hợp áp dụng pháp luật có thể dẫn đến xử lý hình sự hoặc không xử lý hình sự thì kiên quyết không áp dụng xử lý hình sự.
Ưu tiên áp dụng các biện pháp dân sự, kinh tế trước; Cho phép các doanh nghiệp được chủ động khắc phục sai phạm, thiệt hại.
Trường hợp đến mức xử lý hình sự thì việc khắc phục hậu quả kinh tế chủ động là căn cứ quan trọng để xem xét các biện pháp xử lý tiếp theo.
Cải cách môi trường kinh doanh, hạn chế tối đa thanh tra, kiểm tra
Tình trạng thanh tra chồng chéo, nhũng nhiễu làm tăng chi phí tuân thủ đã được chấn chỉnh thông qua các quy định mang tính pháp lệnh:
Chuyển mạnh từ “tiền kiểm” sang “hậu kiểm”, chuyển quản lý điều kiện kinh doanh từ cấp phép sang công bố điều kiện.
Số lần thanh tra, kiểm tra (bao gồm cả liên ngành) đối với mỗi doanh nghiệp không được quá 01 lần trong năm, trừ trường hợp có dấu hiệu vi phạm rõ ràng.
Thực hiện cắt giảm ít nhất 30% thời gian xử lý thủ tục hành chính, ít nhất 30% chi phí tuân thủ pháp luật, ít nhất 30% điều kiện kinh doanh.
Tạo bệ phóng về mặt bằng sản xuất và đòn bẩy tài chính
Các chính sách mới trực tiếp khơi thông nguồn lực đất đai và vốn cho khối kinh tế tư nhân:
Về đất đai: Các khu công nghiệp, cụm công nghiệp phải dành quỹ đất bình quân tối thiểu 20 ha/khu hoặc 5% tổng quỹ đất cho doanh nghiệp công nghệ cao, doanh nghiệp nhỏ và vừa, doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo thuê. Những doanh nghiệp này được hỗ trợ giảm tối thiểu 30% tiền thuê lại đất trong 05 năm đầu.
Về tín dụng và thuế: Hỗ trợ lãi suất 2%/năm đối với các dự án xanh, tuần hoàn và áp dụng khung tiêu chuẩn các tiêu chí đánh giá mức độ phát triển bền vững của doanh nghiệp (ESG). Chấm dứt việc thu lệ phí môn bài và xóa bỏ hình thức thuế khoán đối với hộ kinh doanh từ ngày 01/01/2026, nhằm khuyến khích chuyển đổi lên mô hình doanh nghiệp.
Cơ chế đột phá cho nghiên cứu phát triển và đổi mới sáng tạo
Để hướng kinh tế tư nhân phát triển theo chiều sâu, nâng cao năng suất, thể chế mới đã ban hành các ưu đãi thuế mạnh mẽ nhất từ trước đến nay:
Khuyến nghị trong tổ chức thực hiện và hoàn thiện pháp luật
Để đạt mục tiêu phấn đấu đến năm 2030 đạt 02 triệu doanh nghiệp (đóng góp 55% – 58% GDP) và đến năm 2045 đạt ít nhất 03 triệu doanh nghiệp (đóng góp trên 60% GDP), cũng như kiến tạo thế hệ “sếu đầu đàn” mang tầm vóc toàn cầu, tự chủ chuỗi cung ứng, việc ban hành các Nghị quyết là một bước tiến quan trọng. Tuy nhiên, để đưa chính sách vào cuộc sống, cần thực hiện đồng bộ các giải pháp sau:
Thứ nhất, khẩn trương thể chế hóa và đồng bộ hệ thống pháp luật. Cần thực hiện nghiêm túc chương trình hành động số: 05 – CTr/ĐUQH của Đảng ủy Quốc hội. Cần trình Quốc hội tiếp tục sửa đổi hàng loạt dự án, những điều luật còn chưa phù hợp so với thực tiễn đặt ra, như luật doanh nghiệp, luật đầu tư, luật đất đai, luật các tổ chức tín dụng và đặc biệt là bộ luật hình sự, bộ luật tố tụng hình sự để đồng bộ hóa nguyên tắc “phi hình sự hóa”.
Thứ hai, triệt tiêu tư duy “sợ sai, đùn đẩy trách nhiệm” trong bộ máy công quyền. Quy định pháp luật dù thông thoáng nhưng nếu cán bộ thực thi có tâm lý phòng thủ thì doanh nghiệp vẫn chịu thiệt thòi. Cần thể chế hóa rõ ràng cơ chế “miễn trừ trách nhiệm” đối với trường hợp cán bộ, công chức đã thực hiện đầy đủ các quy trình, không tư lợi, động cơ vì lợi xã hội, lợi ích quốc gia nhưng có thiệt hại do rủi ro khách quan. Đồng thời, xử lý nghiêm các hành vi nhũng nhiễu, lợi dụng thanh tra để gây khó khăn cho doanh nghiệp.
Thứ ba, hài hòa giữa “kiến tạo phát triển” và “quản lý nhà nước”. Quá trình chuyển từ “tiền kiểm” sang “hậu kiểm” cần đi kèm với việc ứng dụng mạnh mẽ công nghệ số, trí tuệ nhân tạo (AI) và dữ liệu lớn trong quản lý nhà nước và hoạt động thanh tra, kiểm tra. Ưu tiên thanh tra từ xa dựa trên dữ liệu điện tử, miễn kiểm tra thực tế đối với các doanh nghiệp tuân thủ tốt. Điều này vừa tạo không gian thông thoáng cho thị trường, vừa đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật.
Thứ tư, phát triển nguồn nhân lực. Thực hiện đồng bộ chương trình đào tạo 10.000 giám đốc điều hành hoặc tổng giám đốc điều hành (CEO) đến năm 2030 theo như dự kiến nhằm trang bị tư duy quản trị quốc tế, kỹ năng chuyển đổi số cho đội ngũ doanh nhân.
Sự ra đời của Nghị quyết số 68-NQ/TW, Nghị quyết số 66-NQ/TW của Bộ Chính trị và Nghị quyết số 198/2025/QH15 của Quốc hội đánh dấu bước chuyển quan trọng trong tư duy phát triển và hoàn thiện thể chế đối với khu vực kinh tế tư nhân ở Việt Nam. Việc xác định kinh tế tư nhân là một trong những động lực quan trọng nhất của nền kinh tế, cùng với các chủ trương bảo đảm quyền tài sản, quyền tự do kinh doanh, đổi mới phương thức thanh tra, kiểm tra, hạn chế hình sự hóa các quan hệ kinh tế và tăng cường các chính sách hỗ trợ đổi mới sáng tạo đã tạo nền tảng thể chế mới nhằm tháo gỡ các điểm nghẽn mang tính cấu trúc, khơi thông nguồn lực cho phát triển.
Tuy nhiên, hiệu quả của các chủ trương này phụ thuộc quyết định vào quá trình tổ chức thực thi. Trong thời gian tới, cần tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp luật theo tinh thần các nghị quyết, bảo đảm tính thống nhất, minh bạch và khả thi; đồng thời nâng cao hiệu lực thực thi của các cơ quan nhà nước, cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh và tạo dựng niềm tin pháp lý cho cộng đồng doanh nghiệp. Chỉ khi những cam kết thể chế được hiện thực hóa bằng các cơ chế thực thi hiệu quả, khu vực kinh tế tư nhân mới có thể phát huy đầy đủ vai trò là động lực tăng trưởng, đổi mới sáng tạo và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia, góp phần thực hiện mục tiêu đưa Việt Nam trở thành nước phát triển, có thu nhập cao vào năm 2045.
TS. Huỳnh Văn Lành/Học viện Chính trị khu vực II
Tài liệu tham khảo
1.Ban Chấp hành Trung ương Đảng (2025), Nghị quyết số 68-NQ/TW ngày 04/5/2025 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế tư nhân, Hà Nội.
2.Ban Chấp hành Trung ương Đảng (2025), Nghị quyết số 66-NQ/TW ngày 30/4/2025 của Bộ Chính trị về đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới, Hà Nội.
3.Quốc hội khóa XV (2025), Nghị quyết số 198/2025/QH15 ngày 17/5/2025 Về một số cơ chế, chính sách đặc biệt phát triển kinh tế tư nhân, Hà Nội.
4.Đảng ủy Quốc hội (2025), Chương trình hành động số 05-CTr/ĐUQH ngày 15/5/2025 Triển khai thực hiện Nghị quyết số 68-NQ/TW, Hà Nội.
5.Báo cáo chuyên đề (2025) Phân tích cơ sở lý luận, thực tiễn và những nội dung cốt lõi của Nghị quyết số 68-NQ/TW ngày 04/5/2025 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế tư nhân.
6.Văn kiện Đại hội 14 – TAP 1.pdf.
7.Văn kiện Đại hội 14 – TAP 2.pdf.


