Thứ Sáu, Tháng 7 10, 2026
* Email: bbt.dongnama@gmail.com *Tòa soạn: 0989011688 - 0768908888
spot_img
[gtranslate]

Đẩy mạnh gắn kết 3 Nhà góp phần phát triển đất nước: Sớm thể chế hóa tam giác hợp tác, 3 bên cùng chịu trách nhiệm



ĐNA -

(Đà Nẵng). Trong chuỗi các hoạt động của “Tuần lễ Kinh tế – Tài chính và Công nghệ Đà Nẵng năm 2026”, sáng nay 10/7/2026, Đại học Đà Nẵng chủ trì, phối hợp cùng UBND thành phố Đà Nẵng, tổ chức hội thảo “Đẩy mạnh gắn kết 3 Nhà (Nhà nước – Đại học – Doanh nghiệp) thực chất, hiệu quả góp phần phát triển đất nước trong kỷ nguyên vươn mình”.

Hội thảo đã góp phần hiện thực hóa và triển khai hiệu quả hơn Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số quốc gia; Nghị quyết số 71-NQ/TW ngày 22/8/2025 của Bộ Chính trị về đột phá trong giáo dục đào tạo. Ngoài giới lãnh đạo, chuyên gia, nhà quản lý, doanh nghiệp, nhà khoa học…trong nước, hội thảo có sự tham gia của các đối tác, chuyên gia và nhà khoa học đến từ hơn 10 quốc gia, gồm Pháp, Ý, Đức, Nhật Bản, Canada, Australia, Hàn Quốc… Trong đó, GS. TS Harald Kuhn – Viện trưởng Fraunhofer ENAS (CHLB Đức); TS. Shu Namỉkỉ – Viện KHCN và Công nghiệp tiên tiến Quổc gia (Nhật Bản)…đã có tham luận trực tiếp.

PGS.TS Nguyễn Ngọc Vũ – Giám đốc Đại học Đà Nẵng (thứ hai, từ phải sang) và Chủ tọa đoàn hội thảo. Ảnh: T.Ngọc.

Vẫn còn nhiều điểm nghẽn
Các bài viết, tham luận (trình bày tại hội thảo và được tuyển chọn xuất bản trong Kỷ yếu, số lượng đến gần 80 bài viết, tham luận) đã tập trung vào các chủ đề: Giải pháp thúc đẩy, gợi ý một số mô hình gắn kết, hợp tác 3 Nhà trong đào tạo nguồn nhân lực, nghiên cứu khoa học, chuyển giao công nghệ và đổi mới sáng tạo; Cơ chế, mô hình, giải pháp thúc đầy nhà nước, nhà doanh nghiệp “đặt hàng” nhà trường đào tạo các ngành mũi nhọn, lĩnh vực công nghệ chiến lược; hợp tác nghiên cứu phát triển R&D để khai thác tiềm năng, lợi thế, nguồn lực của các bên liên quan, chia sẻ lợi ích, tài sản trí tuệ về kết quả họp tác 3 nhà; Phát triển Hệ sinh thái số dùng chung, kết nối “thời gian thực” giữa hồ sơ năng lực (nghiên cứu khoa học, giảng viên, sinh viên) và nhu cầu chuyển giao công nghệ, tuyển dụng của doanh nghiệp; Đồng hành phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao cho kỷ nguyên mới: Chia sẻ kinh nghiệm hỗ trợ sinh viên thực tập (Học kỳ doanh nghiệp, Chương trình học – làm), tuyển dụng.

Một số bài viết, tham luận cũng thẳng thắn phân tích các điểm nghẽn vừa qua, khiến lộ trình hợp tác chưa đi vào lõi thực chất, mới dừng lại ở một số hoạt động, chưa tạo thành nguồn lực cho nhau, chưa hướng tới trách nhiệm xã hội của 3 Nhà, cũng như góp phần cho các mục tiêu phát triển bền vững (SDGs) theo tinh thần cùng đồng hành, cùng thực hiện.

“Mặc dù chủ trương gắn kết 3 Nhà đã được quan tâm trong nhiều năm qua ở Việt Nam, tuy nhiên thực tiễn cho thấy gắn kết 3 Nhà vẫn còn những điểm nghẽn cần được nhìn nhận thẳng thắn để tháo gỡ.

Ở nhiều nơi, hợp tác còn nặng tính sự kiện, dừng lại ở ký kết, nhưng lại thiếu cơ chế triển khai, nguồn lực, đầu mối điều phối và chỉ số đánh giá cụ thể. Trong đào tạo, doanh nghiệp chưa thực sự tham gia sâu vào quá trình xây dựng chương trình, giảng dạy và đánh giá năng lực người học, làm gia tăng khoảng cách giữa đào tạo và nhu cầu lao động trong bối cảnh chuyển đổi số, trí tuệ nhân tạo và tự động hóa đang diễn ra với tốc độ chưa từng có.

Trong nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ, cơ chế đặt hàng, tài chính, sở hữu trí tuệ, chia sẻ lợi ích và thương mại hóa kết quả còn thiếu rõ ràng, khiến hợp tác chưa thực sự hấp dẫn và bền vững”, PGS.TS Nguyễn Ngọc Vũ, Giám đốc Đại học Đà Nẵng phân tích.

Đại biểu quốc tế tham dự hội thảo về Đẩy mạnh gắn kết 3 Nhà (Nhà nước – Đại học – Doanh nghiệp), sáng 10/7 tại Đà Nẵng. Ảnh: T.Ngọc.

 Hợp tác thực chất 3 Nhà mới thúc đẩy và hoàn thiện hệ sinh thái đổi mới sáng tạo
Hợp tác 3 Nhà (hay còn gọi là mô hình Triple Helix), không hề là chủ đề mới. Song làm thế nào để mô hình này vận hành thực chất, tạo ra giá trị đo lường được và đóng góp trực tiếp vào tăng trưởng kinh tế, đó mới là câu hỏi mà chúng ta không ngừng trăn trở. Và câu hỏi đó chưa bao giờ cấp bách như lúc này khi đất nước bước vào Kỷ nguyên phát triển mới – PGS.TS Nguyễn Ngọc Vũ chia sẻ.

Lãnh đạo Đại học Đà Nẵng khẳng định, để đẩy mạnh gắn kết 3 Nhà thực chất, hiệu quả, cộng đồng doanh nghiệp phải giữ vai trò “Trung tâm của hệ sinh thái đổi mới sáng tạo”, là nơi đặt hàng, tiếp nhận, ứng dụng và thương mại hóa kết quả nghiên cứu, tạo ra giá trị mới cho nền kinh tế. Các trường đại học và đội ngũ nhà khoa học, tập trung mạnh hơn vào nhiều bài toán thực tiễn của đất nước, của ngành, của địa phương và của doanh nghiệp; lấy hiệu quả ứng dụng, chuyển giao và thương mại hóa làm thước đo quan trọng.

Và Nhà nước giữ vai trò kiến tạo thể chế, đặt hàng phát triển, điều phối nguồn lực và bảo đảm môi trường chính sách thuận lợi; đồng thời đi đầu trong đổi mới cơ chế tài chính, “cởi trói” thực sự cho các hoạt động đào tạo, nghiên cứu khoa học và đổi mới sáng tạo. Đó chính là nền tảng tư tưởng và chính trị vững chắc nhất để Việt Nam xây dựng mô hình Triple Helix một cách phù hợp, hiệu quả và có tính đột phá trong thời gian đến.

Phó Chủ tịch UBND thành phố, ông Hồ Quang Bửu: Đà Nẵng cam kết đồng hành cùng Đại học Đà Nẵng, cộng đồng doanh nghiệp trong xây dựng môi trường thuận lợi cho nghiên cứu, đổi mới sáng tạo và phát triển nguồn nhân lực.Ảnh: T.Ngọc.

Phó Chủ tịch UBND thành phố, ông Hồ Quang Bửu cho biết và nhấn mạnh rằng: Chính quyền, ngành hữu quan của thành phố luôn dành sự quan tâm đặc biệt đến việc thúc đẩy sự liên kết chặt chẽ giữa các chủ thể trong hệ sinh thái đổi mới sáng tạo: Nhà nước – Nhà trường – Nhà doanh nghiệp. Đây chính là “chìa khóa vàng” để biến các chủ trương thành hiện thực, đưa thành phố Đà Nẵng phát triển nhanh và bền vững.

Nhà nước giữ vai trò kiến tạo môi trường, hoàn thiện cơ chế, chính sách và đầu tư hạ tầng; các trường đại học, viện nghiên cứu là trung tâm đào tạo nguồn nhân lực và nghiên cứu khoa học; còn doanh nghiệp là nơi tiếp nhận, ứng dụng, thương mại hóa kết quả nghiên cứu và dẫn dắt nhu cầu đổi mới sáng tạo của thị trường. Khi 3 chủ thể này gắn kết thực chất, chúng ta sẽ hình thành chuỗi giá trị đổi mới sáng tạo hoàn chỉnh, góp phần nâng cao năng suất, chất lượng tăng trưởng và năng lực cạnh tranh của nền kinh tế.

Thành phố Đà Nẵng đã có định hướng xuyên suốt: Phát triển phải dựa trên tri thức, công nghệ và nguồn nhân lực chất lượng cao luôn là, việc triển khai các chủ trương lớn như xây dựng Trung tâm tài chính quốc tế, phát triển Khu thương mại tự do, thúc đẩy các ngành công nghiệp công nghệ cao, vi mạch bán dẫn, trí tuệ nhân tạo (AI), trung tâm dữ liệu đang mở ra nhiều cơ hội mới. Tuy nhiên, để hiện thực hóa những mục tiêu đó, điều kiện tiên quyết là phải có nguồn nhân lực chất lượng cao, năng lực nghiên cứu mạnh và sự đồng hành của cộng đồng doanh nghiệp trong đổi mới sáng tạo.

Lúng túng quy định, khung pháp lý để định giá kết quả nghiên cứu, biến tài sản trí tuệ thành hàng hóa còn nhiều khó khăn
Trong tham luận “Cơ chế đặt hàng – Thúc đẩy thương mại hóa sản phẩm nghiên cứu khoa học, Đổi mới sáng tạo – Phát triển mô hình hợp tác 3 Nhà”; TS. Nguyễn Thanh Hồng, Giám đốc Sở Khoa học và Công nghệ Thành phố Đà Nẵng, chỉ ra rằng, trong quá trình thay đổi mô hình kinh tế từ phụ thuộc vào tài nguyên và nhân công giá rẻ sang nền kinh tế dựa trên tài sản trí tuệ, khoa học công nghệ, và đổi mới sáng tạo hiện nay, hoạt động nghiên cứu khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo  phải gắn chặt với nhu cầu thực tiễn của xã hội và doanh nghiệp, nâng cao hiệu quả ứng dụng kết quả nghiên cứu khoa học và đổi mới sáng tạo.

Điều đó, cho thấy cần đổi mới cơ chế đặt hàng nhiệm vụ, thúc đẩy thương mại hóa kết quả nghiên cứu và tăng cường liên kết giữa 3 Nhà (Nhà nước – Nhà trường – Nhà doanh nghiệp) trên địa bàn Đà Nẵng, đây là nhiệm vụ có ý nghĩa quyết định trong nâng cao hiệu quả nghiên cứu khoa học, thúc đẩy phát triển kinh tế – xã hội của thành phố.

Tuy nhiên, việc xác định nhiệm vụ khoa học và công nghệ vẫn chủ yếu xuất phát từ khu vực cơ quan quản lý nhà nước và các đơn vị nghiên cứu, chưa có sự tham gia đề xuất nhiều từ doanh nghiệp. Một số đề xuất nhiệm vụ chưa xác định rõ sản phẩm đầu ra gắn với nhu cầu cụ thể của thị trường hoặc chưa có địa chỉ tiếp nhận, ứng dụng sản phẩm nghiên cứu nên không thể được đưa vào danh mục thực hiện. Bản thân một số đề tài nghiên cứu cũng còn mang tính hàn lâm, chưa giải quyết trúng nhu cầu thực tế của thị trường.

Từ thực trạng như trên, TS. Nguyễn Thanh Hồng đã phân tích thêm hạn chế và nguyên nhân, với tinh thần nhìn thẳng vào tồn tại: Hoạt động nghiên cứu khoa học vẫn chủ yếu vận hành theo hướng Nhà nước và Nhà khoa học đóng vai trò trung tâm. Doanh nghiệp chưa tham gia vào quá trình hình thành chuỗi giá trị. Tức từ nghiên cứu khoa học, sản xuất thử nghiệm đến thương mại hóa sản phẩm, tiếp cận thị thường.

Thị trường khoa học và công nghệ, vì vậy, đã phát triển chưa tương xứng với tiềm năng và nhu cầu thực tiễn. Nguồn cung công nghệ, đặc biệt là các kết quả nghiên cứu sẵn sàng thương mại hóa còn hạn chế; trong khi đó, nhu cầu đổi mới công nghệ của doanh nghiệp chưa được kết nối hiệu quả.

TS. Nguyễn Thanh Hồng: Hoạt động thương mại hóa sản phẩm nghiên cứu khoa học vẫn còn hạn chế, nhiều kết quả nghiên cứu dừng lại ở quy mô thử nghiệm. Ảnh: T.Ngọc.

Trong đề xuất nhiệm vụ khoa học và công nghệ, ông Hồng cho rằng, chủ yếu xuất phát từ nhu cầu địa phương, đơn vị nên phạm vi và hiệu quả của việc ứng dụng vẫn chủ yếu mang tính trong phạm vi đơn vị tiếp nhận, chưa hình thành các mô hình ứng dụng quy mô lớn hoặc có khả năng lan tỏa rộng. Một số nội dung, mặc dù đã được giao quyền khai thác nhưng chưa được triển khai thực chất, dẫn đến hiệu quả chưa tương xứng với các giá trị đã đầu tư. Hoạt động chuyển giao công nghệ theo cơ chế thị trường chưa hình thành rõ nét trong các nhiệm vụ sử dụng ngân sách nhà nước. Hoạt động thương mại hóa sản phẩm nghiên cứu khoa học vẫn còn hạn chế. Nhiều kết quả nghiên cứu dừng lại ở quy mô thử nghiệm, chưa được triển khai rộng rãi trong sản xuất và phát triển kinh tế-xã hội.

 Làm rõ hơn nguyên nhân vì sao ứng dụng, chuyển giao và thương mại hóa kết quả nhiệm vụ khoa học và công nghệ, gắn kết “3 nhà” trong thời gian qua”, xuất hiện các điểm nghẽn, lãnh đạo Sở Khoa học và Công nghệ Đà Nẵng, lần lượt chỉ rõ: Phân định và xác định quyền sở hữu tài sản hình thành từ ngân sách nhà nước còn nhiều vướng mắc về mặt thủ tục hành chính, khâu chuyển giao gặp nhiều rủi ro pháp lý. (Đến nay) chưa có quy định và khung pháp lý rõ ràng để định giá kết quả nghiên cứu, gây khó khăn trong biến tài sản trí tuệ thành hàng hóa hoặc góp vốn thành lập doanh nghiệp.

“Ngay cả tính kết nối giữa “bên cung” (Viện nghiên cứu, trường đại học) và “bên cầu” (doanh nghiệp) còn khá rời rạc. Thiếu năng lực quản trị tài sản trí tuệ tại các tổ chức chủ trì, cũng như thiếu sự tham gia của doanh nghiệp trong quá trình khai thác kết quả nghiên cứu.

Trong khi đó, cơ chế phối hợp giữa các tổ chức trung gian với cơ quan quản lý nhà nước, viện, trường và doanh nghiệp chưa chặt chẽ; thiếu các công cụ, nền tảng số để hỗ trợ kết nối, chia sẻ thông tin và thúc đẩy giao dịch công nghệ trên diện rộng, làm hạn chế khả năng lan tỏa và khai thác giá trị của kết quả nghiên cứu.Mặt khác, nhiều doanh nghiệp trong nước (đặc biệt là doanh nghiệp vừa và nhỏ) có năng lực tài chính và trình độ công nghệ còn thấp, khó tiếp nhận, ứng dụng và làm chủ các công nghệ mới, phức tạp”, ông Nguyễn Thanh Hồng ví dụ.

Tham luận cũng nhìn nhận nguồn kinh phí cho hoạt động nghiên cứu khoa học phần lớn đến từ Nhà nước, chưa thu hút được vốn đối ứng mạnh mẽ từ khu vực tư nhân.Quá trình chuyển đổi từ “kết quả nghiên cứu trong phòng thí nghiệm” (quy mô nhỏ) sang “sản xuất thương mại” (quy mô lớn)thì đòi hỏi nguồn vốn đầu tư mạo hiểm lớn, trong khi các quỹ đầu tư mạo hiểm tại Việt Nam còn hạn chế. Ngoài ra, hệ thống các tổ chức trung gian, sàn giao dịch công nghệ hay tổ chức định giá tài sản trí tuệ còn thiếu và yếu, chưa tạo được niềm tin cho các nhà đầu tư và nhà khoa học.

“Để kết nối hiệu quả “3 Nhà”: Nhà nước, Nhà khoa học, Doanh nghiệp, tôi đề nghị Nhà nước làm tốt và làm tròn vai trò kiến tạo hành lang pháp lý, cấp ngân sách nghiên cứu ban đầu, hỗ trợ đấu thầu đặt hàng và kết nối mạng lưới.

 Nhà trường (Viện/Trường đại học) là trung tâm nghiên cứu, cung cấp nguồn nhân lực chất lượng cao và phát triển các sáng chế, tài sản trí tuệ. Doanh nghiệp tham gia với vai trò là khách hàng đặt hàng, cung cấp vốn đối ứng, kinh nghiệm quản trị và cơ sở hạ tầng để sản xuất hàng loạt. Cần xây dựng quy định cụ thể về đặt hàng, tài trợ nhiệm vụ khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo theo hướng gắn với nhu cầu thực tiễn của doanh nghiệp. Trong đó, yêu cầu doanh nghiệp tham gia ngay từ giai đoạn đề xuất nhiệm vụ; hồ sơ nhiệm vụ phải xác định rõ sản phẩm đầu ra, phương án ứng dụng và cam kết tiếp nhận kết quả nghiên cứu.

Sớm hình thành và triển khai các chương trình hợp tác trọng điểm theo ngành, lĩnh vực ưu tiên của thành phố. Trên cơ sở đó, thúc đẩy thiết lập quan hệ hợp tác dài hạn giữa doanh nghiệp, cơ sở nghiên cứu và cơ quan quản lý; ưu tiên bố trí nguồn lực cho các nhiệm vụ thuộc chương trình nhằm tạo chuỗi liên kết bền vững”. TS.Nguyễn Thanh Hồng đề xuất.

PGS.TS Nguyễn Ngọc Vũ: Cần sớm thể chế hóa tam giác hợp tác – 3 bên cùng chịu trách nhiệm về sản phẩm đầu ra. Ảnh: T.Ngọc.

Thể chế hóa tam giác hợp tác – 3 bên cùng chịu trách nhiệm về sản phẩm đầu ra
Trong phát biểu đề dẫn của mình, PGS.TS Nguyễn Ngọc Vũ cho biết và cũng “nhắc lại”, hội thảo làm việc theo tinh thần “trao đổi thẳng thắn, thực chất và có trọng tâm, không chỉ nêu vấn đề mà còn gợi mở giải pháp; không chỉ nói về nhu cầu hợp tác mà còn chỉ ra cách hợp tác hiệu quả để cùng tạo ra giá trị đo lường được”.

“Tầm nhìn và định hướng chiến lược thời gian tới, tôi cho rằng phải sớm thể chế hóa tam giác hợp tác. Đây là giải pháp cốt lõi và cấp bách nhất, chuyển hóa các quan hệ hợp tác phi chính thức, tự phát thành một kiến trúc thể chế có cấu trúc rõ ràng, trách nhiệm minh bạch và cơ chế vận hành thực chất.

Ưu tiên đổi mới mô hình đào tạo nhân lực chất lượng cao với sự tham gia thực chất của doanh nghiệp, nhất là làm thế nào để triển khai có hiệu quả chương trình “học kỳ doanh nghiệp”, chương trình “học – làm” . Nghiên cứu xây dựng không gian đổi mới sáng tạo tích hợp gắn với đổi mới mô hình đào tạo tại các trường đại học.

Đặc biệt, khởi động mô hình Triple Helix trên nền tảng ý tưởng các sản phẩm chiến lược hình thành từ các trường Đại học. Đây là giải pháp đặc thù và có tính khả thi cao nhất trong bối cảnh đất nước rất cần các sản phẩm công nghệ chiến lược. Các ý tưởng sản phẩm này đang chờ các doanh nghiệp khởi nghiệp cùng đồng hành đầu tư nghiên cứu phát triển, hoàn thiện thành sản phẩm có thể thương mại hóa.

Đây cũng chính là hiện thân cụ thể nhất của mô hình Triple Helix mà chúng ta đang hướng tới: Các Đại học tạo ra tri thức và công nghệ nền tảng, doanh nghiệp khởi nghiệp thương mại hóa và tạo ra giá trị kinh tế, chính quyền kiến tạo môi trường và cung cấp nguồn lực tài chính ban đầu, ba bên cùng chịu trách nhiệm về sản phẩm đầu ra, không phải về quy trình đầu vào”, PGS.TS Nguyễn Ngọc Vũ, Giám đốc Đại học Đà Nẵng nhấn mạnh.

Trần Ngọc