Đối chiếu Đường lối, phương châm giáo dục của Đảng đã được pháp luật hóa tại Khoản 1, Điều 3 Luật Giáo dục 2019 với quá trình đổi mới sách giáo khoa phổ thông cho thấy nhiều dấu hiệu “lệch chuẩn”. Riêng môn Tiếng Việt và Ngữ văn không chỉ bộc lộ những hạn chế về nội dung so với trước khi đổi mới mà còn có dấu hiệu chệch định hướng giáo dục xã hội chủ nghĩa. Từ đó đặt ra nghi vấn: liệu có hay không “cái bắt tay ngầm” giữa một số cá nhân thuộc Bộ Giáo dục và Đào tạo và một số nhà văn thuộc Hội Nhà văn Việt Nam, với động cơ không trong sáng, dẫn đến sự “lệch chuẩn” này?

Để làm rõ những dấu hiệu “lệch chuẩn” trong quá trình đổi mới môn Tiếng Việt và Ngữ văn, cần nhìn lại Chương trình phối hợp giữa Bộ Giáo dục và Đào tạo với Hội Nhà văn Việt Nam được ký ngày 10/1/2013 về phát triển văn học trong nhà trường giai đoạn 2013–2020. Đây là văn bản triển khai nhằm thực hiện Nghị quyết số 23/NQTW ngày 16/6/2008 của Bộ Chính trị về “Tiếp tục xây dựng và phát triển văn học nghệ thuật trong thời kỳ đổi mới” và Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI, Kết luận số 51-KL/TW ngày 29/10/2012 của Ban Chấp hành Trung ương về Đề án “Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế”.
Chương trình phối hợp xác định rõ vai trò của hai bên: Hội Nhà văn Việt Nam hiện thực hóa các định hướng thông qua hoạt động chuyên môn, sáng tác và đội ngũ nhà văn; Bộ Giáo dục và Đào tạo chịu trách nhiệm triển khai trên cơ sở khoa học giáo dục. Đáng chú ý, Bộ được giao chủ động mời Hội Nhà văn tham gia nghiên cứu đổi mới chương trình, nội dung, phương pháp giảng dạy và đánh giá kết quả học tập môn Ngữ văn; đồng thời, Hội Nhà văn có trách nhiệm giới thiệu những nhà văn có uy tín, đủ năng lực tham gia biên soạn, phản biện và góp ý chương trình, sách giáo khoa để Bộ xem xét, quyết định.
Nếu được thực hiện đúng mục tiêu, cơ chế phối hợp này được kỳ vọng sẽ góp phần nâng cao chất lượng chương trình và sách giáo khoa, đặc biệt là chất lượng giảng dạy môn Tiếng Việt và Ngữ văn; đồng thời bồi dưỡng năng lực cảm thụ văn học, giáo dục thẩm mỹ và giá trị nhân văn cho giáo viên, học sinh, sinh viên.
Tuy nhiên, sau hơn một thập kỷ, những tranh luận về chất lượng và định hướng của chương trình Ngữ văn mới khiến dư luận đặt câu hỏi về hiệu quả thực tế của cơ chế phối hợp này. Càng đáng chú ý hơn khi tháng 7/2025, Hội Nhà văn Việt Nam tiếp tục đề xuất triển khai định hướng giáo dục giá trị sống, lý tưởng sống và văn hóa, nghệ thuật trong các trường phổ thông.
Thực tế cho thấy, quá trình triển khai Chương trình phối hợp và các định hướng nêu trên chưa đạt được mục tiêu như kỳ vọng. Theo lý thuyết, sự phối hợp giữa Bộ Giáo dục và Đào tạo với Hội Nhà văn Việt Nam, nếu được thực hiện đúng tinh thần và mục tiêu đã đề ra, phải tạo ra bước chuyển biến rõ nét trong đổi mới nội dung môn Tiếng Việt và Ngữ văn, góp phần nâng cao chất lượng dạy và học. Tuy nhiên, kết quả đạt được không chỉ bộc lộ nhiều hạn chế mà còn xuất hiện những biểu hiện bị cho là “lệch chuẩn”, làm dấy lên nhiều tranh luận trong dư luận và giới chuyên môn.
Từ thực tế đó, câu hỏi đặt ra là: nguyên nhân của những hạn chế và dấu hiệu “lệch chuẩn” này xuất phát từ đâu? Xét ở góc độ chuyên môn, khó có thể quy nguyên nhân cho năng lực của đội ngũ tham gia xây dựng chương trình và biên soạn sách giáo khoa. Phần lớn đều là các nhà văn có uy tín, các chuyên gia giáo dục có học vị tiến sĩ, chức danh từ phó giáo sư trở lên, được Bộ Giáo dục và Đào tạo cùng Hội Nhà văn Việt Nam lựa chọn tham gia những khâu quan trọng của quá trình đổi mới. Chính vì vậy, khoảng cách giữa chất lượng đội ngũ và kết quả thực tế càng đặt ra nhiều dấu hỏi cần được lý giải.
Từ đó xuất hiện một nghi vấn cần được làm rõ: liệu có hay không việc một số cá nhân, tổ chức trong quá trình thực hiện nhiệm vụ đã lợi dụng cơ chế phối hợp, lạm dụng quyền hạn hoặc hành động không đúng với mục tiêu của Chương trình phối hợp và các định hướng đã được phê duyệt, dẫn đến việc làm sai lệch mục tiêu, phương châm giáo dục xã hội chủ nghĩa trong quá trình xây dựng chương trình và biên soạn sách giáo khoa môn Tiếng Việt và Ngữ văn?
Đây là giả thiết cần được kiểm chứng bằng chứng cứ khách quan, thay vì chỉ dừng ở suy đoán. Để xem xét nghi vấn này, trước hết có thể tiếp cận từ hai căn cứ sau đây:
Thứ nhất, cần xem xét giả thiết về mối liên hệ giữa quá trình đổi mới chương trình, sách giáo khoa môn Tiếng Việt và Ngữ văn với một số cá nhân từng có quan điểm chính trị khác với đường lối của Đảng và Nhà nước. Trong đó, dư luận từng nhắc đến “nhóm 72”, nhóm gồm một số trí thức, nhà văn và nhân sĩ đã ký kiến nghị trong quá trình sửa đổi Hiến pháp năm 2013, đề xuất thực hiện “đa nguyên chính trị”, “đa đảng đối lập” và bãi bỏ Điều 4 Hiến pháp quy định vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam.
Từ thực tế đó, một giả thiết được đặt ra là: sau khi các kiến nghị theo phương thức trực tiếp không đạt kết quả, liệu có hay không việc một số cá nhân chuyển sang tác động gián tiếp thông qua lĩnh vực văn hóa, văn học và giáo dục nhằm từng bước truyền tải hoặc hiện thực hóa những quan điểm của mình? Nếu giả thiết này có cơ sở, thì cần làm rõ liệu quá trình đổi mới chương trình, sách giáo khoa môn Tiếng Việt và Ngữ văn có bị một số cá nhân lợi dụng để tác động làm sai lệch mục tiêu, định hướng giáo dục đã được Đảng và Nhà nước xác định hay không.
Nghi vấn này càng cần được làm rõ khi trong đội ngũ tham gia xây dựng Chương trình giáo dục phổ thông mới và biên soạn sách giáo khoa có những cá nhân từng được cho là có liên hệ hoặc có quan điểm gần với “nhóm 72”, trong đó có người giữ cương vị Tổng Chủ biên Chương trình giáo dục phổ thông và Tổng Chủ biên sách giáo khoa môn Tiếng Việt, Ngữ văn. Tuy nhiên, việc đánh giá mối liên hệ giữa yếu tố nhân sự và chất lượng, định hướng của chương trình chỉ có thể được kết luận trên cơ sở các chứng cứ khách quan, toàn diện và có thể kiểm chứng.
Thứ hai, nếu giả thiết về “cái bắt tay ngầm” là có cơ sở, thì quá trình làm “lệch chuẩn” môn Tiếng Việt và Ngữ văn đã được triển khai ngay sau khi Hiến pháp năm 2013 có hiệu lực. Theo cách nhìn này, Chương trình phối hợp giữa Bộ Giáo dục và Đào tạo với Hội Nhà văn Việt Nam giai đoạn 2013–2020 đã bị một số cá nhân lợi dụng để chuẩn bị cho việc đổi mới chương trình, sách giáo khoa từ năm 2018 theo hướng chệch khỏi mục tiêu giáo dục đã được xác định. Sự tác động, nếu có, được cho là diễn ra trên cả hai phương diện: thiết kế chương trình và biên soạn nội dung.
Về thiết kế chương trình, họ đã tác động giảm thiểu thời lượng, nhiều nội dung có vai trò bồi dưỡng tâm hồn, hình thành nhân cách theo định hướng giáo dục xã hội chủ nghĩa đã bị thu hẹp đáng kể. Biểu hiện là dòng văn học cách mạng không còn giữ vị trí chủ lưu; nhiều tác phẩm về truyền thống yêu nước, lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc bị cắt giảm hoặc loại bỏ; số lượng tác phẩm của Chủ tịch Hồ Chí Minh và các nhà cách mạng tiền bối viết về lịch sử, đạo đức, lối sống cũng giảm rõ rệt. Ngược lại, chương trình bổ sung nhiều tác phẩm trong và ngoài nước được cho là ít hoặc không nhấn mạnh giá trị giáo dục lòng yêu nước, lý tưởng xã hội chủ nghĩa và tinh thần cộng đồng, trong khi đề cao khuynh hướng phát triển chủ nghĩa cá nhân.
Về biên soạn nội dung, với danh nghĩa “cách nhìn đa chiều”, phát triển tư duy “khai phóng, sáng tạo”, họ từng bước đưa vào môn Tiếng Việt và Ngữ văn những tác phẩm, nội dung mang khuynh hướng phi giai cấp, phi dân tộc, đề cao chủ nghĩa cá nhân, coi nhẹ các giá trị tập thể và bản sắc dân tộc. Đáng lo ngại hơn, núp bóng xu hướng “đa chiều” và “giải thiêng” trong văn học, nghệ thuật, họ lồng ghép những nội dung đa nghĩa, gây tranh cãi, thậm chí có biểu hiện xuyên tạc lịch sử, bôi nhọ, hạ thấp hình tượng anh hùng dân tộc, lãnh tụ cách mạng và “Bộ đội Cụ Hồ”.
Một ví dụ điển hình là việc đưa trích đoạn tiểu thuyết Nỗi buồn chiến tranh của Bảo Ninh (đã lược bỏ một số tình tiết nhạy cảm) vào sách giáo khoa Ngữ văn lớp 12 (tập 1), đồng thời giới thiệu tác giả, tác phẩm trong sách giáo khoa Ngữ văn lớp 9 thuộc bộ Kết nối tri thức với cuộc sống. Theo quyết định của Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành tháng 12/2025, đây là bộ sách được sử dụng thống nhất trên phạm vi cả nước. Theo quan điểm của tác giả, việc lựa chọn tác phẩm này không chỉ làm lệch chuẩn nhận thức về các giá trị đạo đức, thẩm mỹ và truyền thống yêu nước, mà còn có nguy cơ làm phai nhạt nhận thức về tính chính nghĩa của các cuộc kháng chiến bảo vệ Tổ quốc, từ đó tác động tiêu cực đến lý tưởng cách mạng, lòng yêu nước và ý thức trách nhiệm của học sinh. Bởi lẽ, tác phẩm có thể hình thành quan niệm rằng mọi cuộc chiến tranh đều vô nghĩa, phi nghĩa và cần tránh xa, dẫn đến cách nhìn phiến diện về lịch sử đấu tranh giải phóng dân tộc, làm mờ nhạt những hy sinh, cống hiến to lớn của các thế hệ cha ông trong sự nghiệp giành và giữ độc lập, tự do của Tổ quốc.
Trong khi đó, lịch sử và thực tiễn đã khẳng định chiến tranh là một hiện tượng xã hội khách quan; xét theo luật pháp và công lý quốc tế, có chiến tranh chính nghĩa và chiến tranh phi nghĩa. Đối với Việt Nam, các cuộc kháng chiến chống ngoại xâm đều là những cuộc chiến tranh chính nghĩa nhằm bảo vệ độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ. Vì vậy, cùng với nhiệm vụ xây dựng và phát triển đất nước, giáo dục lòng yêu nước, ý thức quốc phòng và trách nhiệm bảo vệ Tổ quốc luôn phải được xác định là nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên của nền giáo dục. Từ góc nhìn đó, vấn đề đặt ra là: nếu thế hệ trẻ tiếp nhận quan niệm phủ nhận tính chính nghĩa của chiến tranh bảo vệ Tổ quốc, thì liệu điều đó có ảnh hưởng đến bản lĩnh chính trị, ý chí và trách nhiệm của họ trong sự nghiệp bảo vệ đất nước khi Tổ quốc đứng trước nguy cơ bị xâm lược hay không?
Gần đây, theo tác giả, tiếp tục xuất hiện trường hợp cuốn “Chuyện với Thanh – lời kể mới về ánh sáng” của Nguyễn Thành Nam với những nội dung bị cho là tầm thường hóa, xuyên tạc, bôi nhọ Chủ tịch Hồ Chí Minh, xuyên tạc lịch sử và thành quả cách mạng Việt Nam. Điều đáng lo ngại hơn là những quan điểm này được cho là đã được truyền bá tới sinh viên thông qua hoạt động giảng dạy tại một số cơ sở đào tạo đại học.
Tiếp đó, nội dung và đáp án đề thi tốt nghiệp trung học phổ thông môn Ngữ văn năm 2026, theo tác giả, cũng thể hiện tinh thần “giáo dục khai phóng”, bị cho là xa lạ với đường lối, phương châm giáo dục xã hội chủ nghĩa. Bởi, theo lập luận của tác giả, “giáo dục khai phóng” chỉ là một tư tưởng, một triết lý giáo dục mang tính phi chính trị, phi giai cấp và phi dân tộc.
Từ những phân tích trên, có cơ sở để đặt ra câu hỏi: liệu những nội dung được gọi là “đổi mới” trong chương trình và sách giáo khoa môn Tiếng Việt, Ngữ văn thời gian qua có đơn thuần là vấn đề chuyên môn, hay là biểu hiện của sự tác động có chủ đích nhằm từng bước làm chệch hướng mục tiêu, phương châm giáo dục xã hội chủ nghĩa? Nếu giả thiết về một “cái bắt tay ngầm” là có cơ sở, thì đây không chỉ là vấn đề của riêng môn Ngữ văn, mà còn liên quan trực tiếp đến việc giữ vững nền tảng tư tưởng của Đảng, định hướng giáo dục quốc gia và sự hình thành nhân cách, lý tưởng của các thế hệ tương lai.
Bài viết không nhằm đưa ra kết luận cuối cùng, mà chỉ tiếp cận vấn đề từ góc nhìn phân tích, trên cơ sở đối chiếu giữa chủ trương, đường lối của Đảng, quy định của pháp luật với thực tiễn đổi mới chương trình, sách giáo khoa. Những nhận định và nghi vấn nêu ra là quan điểm cá nhân của tác giả, xuất phát từ trách nhiệm công dân đối với sự nghiệp giáo dục, đối với việc bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, bảo vệ thành quả cách mạng và tương lai của đất nước.
Đúng hay không có “cái bắt tay ngầm”, có hay không sự lợi dụng quá trình đổi mới giáo dục để làm sai lệch mục tiêu, phương châm giáo dục đã được Đảng và Nhà nước xác định, cần được các cơ quan có thẩm quyền xem xét, kiểm tra, đánh giá trên cơ sở chứng cứ khách quan, toàn diện và đúng pháp luật. Chỉ khi những vấn đề này được làm sáng tỏ, quá trình đổi mới giáo dục mới thực sự trở về đúng mục tiêu là đào tạo những thế hệ công dân vừa có tri thức, vừa có bản lĩnh chính trị, đạo đức, nhân cách và tinh thần trách nhiệm đối với Tổ quốc.
Đại tá, PGS, TS. triết học Hà Nguyên Cát/Học viện Quốc phòng (đã nghỉ hưu), hội viên Hội Nhà văn Hà Nội


