Mục tiêu tăng trưởng hai con số là quyết sách chiến lược, thể hiện khát vọng phát triển và bản lĩnh của Đảng trong kỷ nguyên mới. Thông qua đột phá thể chế, đổi mới mô hình tăng trưởng, phát triển hạ tầng, nâng cao năng lực thực thi và chất lượng nguồn nhân lực, Đảng đang tạo động lực mạnh mẽ cho phát triển nhanh, bền vững. Thực tiễn đó khẳng định bản lĩnh của Đảng, đồng thời bác bỏ mọi luận điệu xuyên tạc, củng cố niềm tin vào con đường phát triển của đất nước.
Kỳ 1: Tăng Trưởng Hai Con Số – “Bản Lĩnh Thép” Của Đảng
Lịch sử phát triển của mỗi dân tộc luôn có những giai đoạn mang tính bước ngoặt, đòi hỏi sự bứt phá để vươn lên mạnh mẽ. Giai đoạn 2026-2031 đối với Việt Nam chính là một thời điểm như vậy. Mục tiêu tăng trưởng hai con số được Đại hội XIV của Đảng xác định là kết quả dựa trên cơ sở lý luận khoa học, thực tiễn phát triển đất nước, thể hiện bản lĩnh và tầm nhìn chiến lược của Đảng trong giai đoạn cách mạng hiện nay.
Tăng trưởng hai con số – yêu cầu khách quan để trở thành nước phát triển, thu nhập cao
Lịch sử phát triển thế giới cho thấy, mọi quốc gia vươn lên trở thành cường quốc kinh tế đều gắn liền với những giai đoạn tăng trưởng cao kéo dài và khả năng huy động hiệu quả các nguồn lực xã hội cho phát triển. Vì vậy, tăng trưởng kinh tế là điều kiện vật chất quan trọng đầu tiên, quyết định sự tồn vong, vị thế của quốc gia trên trường quốc tế. Tuy nhiên, tăng trưởng chỉ thực sự có ý nghĩa khi gắn với ổn định vĩ mô, tiến bộ xã hội và phát triển bền vững. Theo đó, tăng trưởng kinh tế của một quốc gia thường được xem xét thông qua một số tiêu chí cơ bản như: tốc độ tăng GDP; GDP bình quân đầu người; năng suất lao động xã hội; hiệu quả sử dụng vốn; trình độ ứng dụng khoa học – công nghệ; mức đóng góp của các ngành kinh tế có hàm lượng tri thức cao; năng lực cạnh tranh quốc gia; chất lượng đời sống nhân dân và tính bền vững của mô hình phát triển.
Chủ nghĩa Mác – Lênin khẳng định sản xuất vật chất là cơ sở của sự tồn tại và phát triển của xã hội loài người. Trong quá trình đó, nhu cầu không ngừng nâng cao năng suất lao động, cải tiến công cụ lao động, ứng dụng khoa học – công nghệ và nâng cao chất lượng người lao động đã làm cho lực lượng sản xuất không ngừng vận động, phát triển, được biểu hiện định lượng về mặt kinh tế thông qua sự gia tăng quy mô, tốc độ và chất lượng của tăng trưởng kinh tế.
Vì thế, tăng trưởng hai con số phản ánh yêu cầu khách quan của quá trình tích lũy tư bản và tái sản xuất mở rộng theo chiều sâu, chủ yếu dựa vào tri thức, khoa học – công nghệ và chất lượng nguồn nhân lực. Thực chất, đây là quá trình giải phóng tối đa lực lượng sản xuất trong điều kiện mới, đặt ra yêu cầu tất yếu phải tiếp tục hoàn thiện quan hệ sản xuất và kiến trúc thượng tầng nhằm tạo “địa bàn đầy đủ” cho lực lượng sản xuất phát triển, củng cố sức mạnh quốc gia, nâng cao đời sống nhân dân, thúc đẩy tiến bộ xã hội và tạo nền tảng cho sự phát triển bền vững của đất nước.
Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn đặt tăng trưởng kinh tế gắn liền với nâng cao đời sống nhân dân. Người khẳng định: “Chúng ta tranh được tự do, độc lập rồi mà dân cứ chết đói, chết rét, thì tự do, độc lập cũng không làm gì. Dân chỉ biết rõ giá trị của tự do, của độc lập khi mà dân được ăn no, mặc đủ”[1].Theo đó, mục tiêu cao nhất của phát triển là không ngừng cải thiện đời sống của nhân dân lao động, đem lại “ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành”. Đây vừa là bản chất nhân văn sâu sắc của chế độ mới, vừa là tiêu chí phản ánh ý nghĩa thực chất của tăng trưởng kinh tế – tăng trưởng hai con số.
Trải qua các kỳ đại hội, nhận thức của Đảng ta về tăng trưởng kinh tế không ngừng phát triển, hoàn thiện theo yêu cầu của từng giai đoạn lịch sử. Giai đoạn từ Đại hội VI đến Đại hội VIII, tăng trưởng kinh tế khi đó được xác định là nhiệm vụ cấp thiết nhằm tạo nền tảng vật chất cho công cuộc đổi mới. Từ Đại hội IX đến Đại hội XII, đây là giai đoạn Việt Nam thoát khỏi nhóm nước nghèo, gia nhập nhóm nước có thu nhập trung bình, tăng trưởng kinh tế nhằm từng bước tích lũy nền tảng cho phát triển, nhưng vẫn bảo đảm sự thích ứng dần dần của hệ thống. Đến Đại hội XIII và XIV, tư duy phát triển của Đảng có bước chuyển biến đột phá từ “ổn định để phát triển” sang “phát triển để ổn định và ổn định để thúc đẩy phát triển nhanh, bền vững đất nước, nâng cao đời sống và hạnh phúc của Nhân dân, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa”[2]. Điều này cho thấy, mục tiêu tăng trưởng hai con số là yêu cầu khách quan của quá trình phát triển nhằm đưa đất nước vượt qua nguy cơ tụt hậu, thực hiện khát vọng phát triển dân tộc trong kỷ nguyên phát triển mới.
Bên cạnh đó, mục tiêu tăng trưởng hai con số mà Đảng ta xác định không phải là sự lựa chọn chủ quan, cảm tính, càng không phải là trường hợp cá biệt, mà hoàn toàn phù hợp với các lý thuyết kinh tế phát triển hiện đại đã được nhiều quốc gia công nghiệp hóa vận dụng thành công trong thực tiễn đột phá phát triển đất nước.
Thứ nhất, mô hình tăng trưởng Solow (1956) của Robert Solow khẳng định tăng trưởng kinh tế được quyết định bởi ba nhân tố cơ bản: vốn, lao động và tiến bộ công nghệ; trong đó tiến bộ công nghệ là yếu tố quyết định tăng trưởng dài hạn. Khi một quốc gia bước vào giai đoạn phát triển mới với nền tảng hạ tầng, vốn đầu tư, nguồn nhân lực và thực hiện được “cú sốc công nghệ”, thì khả năng đạt tốc độ tăng trưởng vượt trội là hoàn toàn có cơ sở khách quan.
Thứ hai, lý thuyết tăng trưởng nội sinh của Paul Romer (1980) nhấn mạnh tri thức, đổi mới sáng tạo, công nghệ và chất lượng nguồn nhân lực chính là động lực nội tại của tăng trưởng bền vững. Theo đó, đầu tư vào giáo dục, khoa học – công nghệ và chuyển đổi số thúc đẩy bước nhảy vọt về chất của nền kinh tế. Nói cách khác, tăng trưởng đột phá hai con số chính là sự giải phóng sức mạnh nội sinh từ trí tuệ và khoa học công nghệ, nơi giá trị thặng dư được tạo ra với tốc độ cấp số nhân thông qua sự sáng tạo và hấp thụ công nghệ mới.
Thứ ba, lý thuyết “nhà nước kiến tạo phát triển” của Chalmers Johnson được đưa ra và phát triển từ năm 1982, thông qua việc nghiên cứu sự phát triển thần kỳ của Nhật Bản. Mô hình này nhấn mạnh vai trò định hướng chiến lược, kiến tạo thể chế và dẫn dắt phát triển của Nhà nước có ý nghĩa quyết định đối với tốc độ tăng trưởng cao và bền vững. Nhà nước không đứng ngoài thị trường, mà chủ động tạo môi trường thể chế, huy động nguồn lực, phát triển hạ tầng và thúc đẩy các ngành động lực chiến lược.
Điều này tương đồng sâu sắc với mô hình kinh tế thị trường định hướng XHCN và vai trò lãnh đạo, kiến tạo phát triển của Đảng và Nhà nước ta hiện nay. Sự gặp gỡ về mặt lý luận giữa các lý thuyết tăng trưởng hiện đại với thực tiễn Việt Nam cho thấy, lựa chọn mục tiêu tăng trưởng hai con số dựa trên khoa học – công nghệ, đổi mới sáng tạo và nhà nước kiến tạo phát triển là hoàn toàn phù hợp với quy luật, đồng thời khẳng định tư duy độc lập, tự chủ và bản lĩnh cầm quyền của Đảng ta trong kỷ nguyên mới.
Từ đất nước nghèo đến vận hội vươn mình phát triển
Lịch sử phát triển kinh tế thế giới từ sau Thế Chiến thứ II đến nay đã minh chứng cho tăng trưởng hai con số là chìa khóa duy nhất để một quốc gia nghèo thoát khỏi “bẫy thu nhập trung bình” và tạo bệ phóng phát triển đột phá. Nhật Bản, Hàn Quốc, Singapore, Trung Quốc là những quốc gia trong số 13 quốc gia và vùng lãnh thổ dám bước qua “cánh cửa hẹp” này thông qua duy trì tốc độ tăng trưởng liên tục trên 10%/năm trong suốt hơn một thập kỷ[3].
Nhật Bản và Hàn Quốc thông qua mô hình “nhà nước kiến tạo phát triển”, trong giai đoạn 1950 – 1970, Chính phủ hai nước đã sử dụng “bàn tay hữu hình” để dồn toàn bộ nguồn lực quốc gia vào các ngành công nghiệp mũi nhọn tạo nên chu kỳ tăng trưởng thần kỳ, biến những đống đổ nát sau chiến tranh thành những cường quốc công nghệ hàng đầu thế giới. Singapore bứt phá từ một quốc gia thiếu tài nguyên trở thành trung tâm tài chính – logistics hàng đầu thế giới nhờ thể chế hiệu quả, quản trị hiện đại và phát triển kinh tế tri thức.
Trung Quốc ngay sau khi cải cách mở cửa đã duy trì tốc độ tăng trưởng hai con số liên tục trong giai đoạn 1980 – 2010 tạo nên bước chuyển lịch sử từ một nền kinh tế kém phát triển thành nền kinh tế lớn thứ hai thế giới. Bản chất cốt lõi trong thành công của họ là quá trình giải phóng mạnh mẽ lực lượng sản xuất, huy động nguồn lực tổng hợp dưới sự điều phối tập trung của Đảng Cộng sản. Họ hình thành các “cực tăng trưởng” mạnh mẽ, tập trung đột phá vào hạ tầng chiến lược và làm chủ công nghệ nguồn.
Có thể thấy, các quốc gia “thần kỳ” trên đều có những đặc điểm chung mà Việt Nam đang sở hữu, đó là nguồn lực lao động trẻ, chất lượng ngày càng cao; phát triển mạnh khoa học – công nghệ; hội nhập kinh tế toàn cầu; bộ máy chính trị có khả năng huy động toàn hệ thống vào mục tiêu phát triển. Đây là những tiền đề quan trọng cho một quốc gia đi sau như Việt Nam có thể rút ngắn khoảng cách phát triển nếu kết hợp hài hòa giữa quản trị nhà nước với các quy luật của thị trường, đột phá phát triển khoa học – công nghệ để thực hiện bước nhảy về chất với tốc độ tăng trưởng hai con số.
Thực tiễn 40 năm Đổi mới của Việt Nam là quá trình tích lũy nội lực vững chắc và bền bỉ. Từ một nền kinh tế nghèo nàn, lạc hậu, bị bao vây cấm vận, dưới sự lãnh đạo của Đảng, Việt Nam đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử. Tính đến cuối năm 2025, quy mô GDP của Việt Nam tăng lên trên 514 tỷ USD, gấp 1,48 lần so với năm 2020, xếp thứ 32 thế giới và thứ 4 trong khu vực ASEAN; GDP bình quân đầu người đạt 5.026 USD, gia nhập nhóm nước có thu nhập trung bình cao[4].

Tăng trưởng kinh tế năm 2025 đạt 8,02% là mức cao nhất trong hơn một thập kỷ qua. Xu hướng này tiếp tục được duy trì và mở rộng quy mô khi bước sang năm 2026. Theo Cục Thống kê, GDP quý II/2026 tăng 8,39%, đưa tốc độ tăng trưởng GDP sáu tháng đầu năm lên 8,18% – mức cao hơn cùng kỳ năm 2025 (7,63%). Trong đó, khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 9,81%, khu vực dịch vụ tăng 8,09%, tiếp tục là hai động lực chủ yếu đóng góp vào GDP của cả nước, lần lượt với 47,20% và 47,14%[5]. GRDP quý II và sáu tháng đầu năm 2026 của 9/34 tỉnh đạt tốc độ tăng cao hơn 10% gồm: “Hà Tĩnh (12,79%), Ninh Bình (11,44%); Hải Phòng (11,33%); Quảng Ninh (11,11%); Hưng Yên (10,72%), Bắc Ninh (10,56%); Phú Thọ (10,18%), Tây Ninh (10,12%); Thái Nguyên (10,01%)”[6].
Đây là biểu hiện của một nền kinh tế đang nén lại để chuẩn bị cho một chu kỳ “cất cánh” mới. Tuy nhiên, thực tiễn cũng đặt ra thách thức to lớn, nếu chỉ duy trì mức tăng trưởng trung bình 6 – 7% như giai đoạn trước, Việt Nam sẽ rơi vào trạng thái “tích lũy trì trệ”, đối mặt với nguy cơ hiện hữu về “bẫy thu nhập trung bình” và thảm họa “chưa giàu đã già” khi thời kỳ dân số vàng sẽ kết thúc vào năm 2039[7].

Vì vậy, mục tiêu tăng trưởng hai con số trong nhiệm kỳ 2026 – 2031 là một mệnh lệnh khách quan để hiện thực hóa các mục tiêu chiến lược 100 năm của Đảng và Nhà nước. Tổng Bí thư Tô Lâm đã khẳng định tại Hội nghị Trung ương 2 khóa XIV: “Chúng ta không chấp nhận tăng trưởng thấp, phải kiên trì thực hiện mục tiêu tăng trưởng kinh tế cao, bền vững, thực chất”. Đây là con đường duy nhất để đưa GDP bình quân đầu người đạt 8.500 USD vào năm 2030 và trở thành nước phát triển, thu nhập cao vào năm 2045.
Hiện nay, Việt Nam đang hội tụ đầy đủ các yếu tố “thiên thời – địa lợi – nhân hòa” để thực hiện bước nhảy vọt này. Đó là vị thế địa chính trị chiến lược và hệ thống 17 FTAs mở ra không gian phát triển chưa từng có; sự trỗi dậy mạnh mẽ của khu vực kinh tế tư nhân với hơn 50.000 doanh nghiệp công nghệ; dư địa tài khóa dồi dào với nợ công chỉ ở mức 35 – 36% GDP, thấp hơn nhiều so với ngưỡng an toàn. Chính những thành tựu và dư địa phát triển vững chắc đó là cơ sở thực tiễn sắc bén để bác bỏ mọi luận điệu hoài nghi, xuyên tạc về con đường đi lên CNXH ở Việt Nam, tạo nền tảng để mục tiêu tăng trưởng hai con số trở thành “tử huyệt” chôn vùi mọi ảo tưởng phi thực tế của các thế lực chống phá – nội dung sẽ được phân tích sâu hơn trong kỳ 2.
Từ những phân tích trên có thể thấy, mục tiêu tăng trưởng hai con số là quyết sách chiến lược, khẳng định bản lĩnh cầm quyền, tầm vóc trí tuệ và khát vọng phát triển của Đảng ta trong vận hội mới. Dám nghĩ, dám xác lập mục tiêu lớn, dám đột phá vào những “điểm nghẽn của điểm nghẽn”, dám chịu trách nhiệm vì tương lai đất nước. Đó là “bản lĩnh thép” của Đảng ta, luôn biết nhìn xa, hành động quyết liệt và dẫn dắt dân tộc vượt lên giới hạn cũ để mở ra kỷ nguyên phát triển nhanh, bền vững, phồn vinh, văn minh, hạnh phúc… (còn tiếp kỳ 2)
Tô Huy Hiệu; Tô Hiến Thà và cộng sự.
Chú thích tài liệu trích dẫn
[1] Hồ Chí Minh (1946), “Bài phát biểu tại cuộc họp đầu tiên của Ủy ban nghiên cứu kế hoạch kiến quốc”, Toàn tập, tập 4, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, tr.175.
[2] Đảng Cộng sản Việt Nam (2026), Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, tập 2, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, tr.372.
[3] Hà Lê (2026), “Tăng trưởng hai con số: Con đường tất yếu để hoàn thành các mục tiêu phát triển 100 năm”, Tạp chí VnEconomy điện tử, ngày 21/04/2026.
[4] Đảng Cộng sản Việt Nam (2026), Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, tập 1, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, tr.204.
[5] Cục Thống kê (2026), Báo cáo số 253/BC-CTK về tình hình kinh tế – xã hội quý II và 6 tháng đầu năm 2026, Hà Nội, ngày 03/7/2026, tr.2.
[6] Hà Anh (2026), “Sáu tháng 2026, 9/34 tỉnh đạt tốc độ tăng GRDP cao hơn 10%”, Báo Nhân dân điện tử, ngày 03/7/2026.
[7] Bảo Ngọc (2026), “Tăng trưởng hai con số để thay đổi vị thế quốc gia”, Báo Tuổi trẻ online, ngày 23/02/2026.
Tài liệu tham khảo
- Ban Chấp hành Trung ương Đảng (2025), Nghị quyết số 68-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế tư nhân, Hà Nội, ngày 04/5/2025.
- Ban Chấp hành Trung ương Đảng (2026), Nghị quyết số 79-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế nhà nước, Hà Nội, ngày 06/01/2026.
- Ban Chấp hành Trung ương Đảng (2026), Kết luận số 18-KL/TW về Kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội, tài chính quốc gia và vay, trả nợ công, đầu tư công trung hạn 5 năm 2026 – 2030 gắn với thực hiện mục tiêu phân đấu tăng trưởng “2 con số”, Hà Nội, ngày 02/4/2026.
- Ban Chấp hành Trung ương Đảng (2026), Nghị quyết số 10-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài, Hà Nội, ngày 08/6/2026.
- Bộ Nội vụ (2026), Quyết định số 429/QĐ-BNV về việc phê duyệt và công bố Chỉ số hài lòng của người dân đối với sự phục vụ của cơ quan hành chính nhà nước năm 2025, ngày 14/4/2026.
- Bộ Nội vụ (2026), Quyết định số 430/QĐ-BNV về việc phê duyệt và công bố Chỉ số cải cách hành chính năm 2025 của các bộ, cơ quan ngang bộ, Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, ngày 14/4/2026.
- Cục Thống kê (2026), Báo cáo số 253/BC-CTK về tình hình kinh tế – xã hội quý II và 6 tháng đầu năm 2026, Hà Nội, ngày 03/7/2026.
- Mỹ Dung (2025), “Tạo động lực mới cho kinh tế tư nhân”, Báo Nhân dân điện tử, ngày 26/3/2025.
- Đảng Cộng sản Việt Nam (2026), Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, tập 1, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội.
- Đảng Cộng sản Việt Nam (2026), Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, tập 2, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội.
- Hà Lê (2026), “Tăng trưởng hai con số: Con đường tất yếu để hoàn thành các mục tiêu phát triển 100 năm”, Tạp chí VnEconomy điện tử, ngày 21/04/2026.
- V.I.Lênin (1920), “Thà ít mà tốt”, Toàn tập, tập 45, Nxb Chính trị Quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011.
- Mác và Ph.Ăngghen (1858), “Phê phán Khoa Kinh tế chính trị”, Toàn tập, tập 46, phần II, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2001.
- Hồ Chí Minh (1946), “Bài phát biểu tại cuộc họp đầu tiên của Ủy ban nghiên cứu kế hoạch kiến quốc”, Toàn tập, tập 4, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011.
- Bảo Ngọc (2026), “Tăng trưởng hai con số để thay đổi vị thế quốc gia”, Báo Tuổi trẻ online, ngày 23/02/2026.
- Hà Văn (2026), “Thủ tướng: Quyết tâm tăng trưởng 2 con số trên nền tảng vững chắc là ổn định kinh tế vĩ mô”, Báo Chính phủ điện tử, ngày 10/4/2026.


