Mục tiêu tăng trưởng hai con số là quyết sách chiến lược, thể hiện khát vọng phát triển và bản lĩnh của Đảng trong kỷ nguyên mới. Thông qua đột phá thể chế, đổi mới mô hình tăng trưởng, phát triển hạ tầng, nâng cao năng lực thực thi và chất lượng nguồn nhân lực, Đảng đang tạo động lực mạnh mẽ cho phát triển nhanh, bền vững. Thực tiễn đó khẳng định bản lĩnh của Đảng, đồng thời bác bỏ mọi luận điệu xuyên tạc, củng cố niềm tin vào con đường phát triển của đất nước.
Kỳ 2: Tăng Trưởng Hai Con Số – “Tử Huyệt” Chôn Vùi Mọi Luận Điệu Xuyên Tạc
Tăng trưởng hai con số là bệ phóng vươn mình của dân tộc, là “tử huyệt” chôn vùi mọi chiến dịch xâm lăng tư tưởng bằng thủ đoạn “ngụy tri thức”. Trước những luận điệu xuyên tạc, chúng ta khẳng định “bản lĩnh thép” của Đảng bằng hệ thống luận cứ khoa học và thực chứng đanh thép. Nhận diện, vạch trần bản chất ngụy biện của các thế lực thù địch là nhiệm vụ trọng tâm bảo vệ tính đúng đắn trong quyết sách của Đảng ta và khát vọng tự cường của dân tộc.
Nhận diện hình thái chống phá mới
Trong kỷ nguyên số, chiến lược “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch đang chuyển sang hình thái chống phá mới với mức độ tinh vi và nguy hiểm hơn nhiều so với trước đây. Phương thức chống phá chủ yếu của chúng là “ngụy tạo thông tin”, “thông tin bán sự thật”, cố tình nhào nặn một phần dữ liệu có thật với những suy diễn phiến diện, chủ quan nhằm đánh tráo bản chất vấn đề để tạo cảm giác “khách quan giả tạo”. Chúng không chỉ sử dụng những luận điệu cực đoan, công kích trực diện một cách thô sơ, mà còn khoác lên mình “vỏ bọc học thuật”, “phản biện chính sách”, “cảnh báo kinh tế” để phủ nhận tính khoa học, khả thi và tầm nhìn chiến lược của mục tiêu tăng trưởng hai con số mà Đại hội XIV của Đảng đã xác định. Bản chất của thủ đoạn này là sử dụng “ngụy tri thức” để công phá niềm tin, lấy xuyên tạc kinh tế làm bàn đạp chống phá chính trị, gieo rắc sự hoài nghi, từng bước phủ nhận năng lực, vai trò lãnh đạo của Đảng, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” ngay từ bên trong.
Những luận điệu xuyên tạc chủ yếu và cơ sở khoa học phản bác
Thứ nhất, các thế lực thù địch quy kết rằng mục tiêu tăng trưởng hai con số là “ảo tưởng”, “duy ý chí”, “bệnh thành tích”, chỉ là “khẩu hiệu suông”, “con số ảo trên sổ sách” để mị dân. Chúng sử dụng lý thuyết về giới hạn tăng trưởng của các nền kinh tế đang phát triển để lập luận rằng Việt Nam không thể đạt mức này; đánh đồng giữa khát vọng phát triển với chủ nghĩa chủ quan, phủ nhận tính tất yếu khách quan của mục tiêu phát triển mà Đảng ta đã xác định.
![]() |
![]() |
Hình 2.1. Luận điệu xuyên tạc tăng trưởng hai con số là “ảo tưởng”, “duy ý chí” của một số thế lực phản động (Nguồn: Facebook)
Khi bóc tách bản chất của luận điệu này, chúng ta thấy rõ âm mưu phủ nhận tính khoa học, cách mạng của những quyết sách mà Đảng ta đã vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, các lý thuyết kinh tế hiện đại và kinh nghiệm quốc tế vào con đường đổi mới đất nước. Chúng muốn gieo rắc tư duy hoài nghi, vẽ nên hình ảnh một Đảng Cộng sản “nóng vội”, “phi thực tế”, từ đó triệt tiêu kỳ vọng, ý chí chính trị của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta trước vận hội bứt phá của “kỷ nguyên vươn mình”. Đòn đánh này thực chất là mưu toan tách rời Đảng Cộng sản Việt Nam ra khỏi vai trò hạt nhân lãnh đạo định hình tương lai dân tộc.
Thực lực kinh tế quốc gia chính là lời phản bác đanh thép nhất đối với luận điệu này. Từ một nền kinh tế nghèo nàn, lạc hậu, Việt Nam đến cuối năm 2025 đã đạt quy mô GDP hơn 514 tỷ USD, vươn lên vị trí thứ 32 thế giới. Tăng trưởng GDP năm 2025 đạt mốc 8,02% là mức cao nhất trong thập kỷ qua, tạo dựng bệ phóng thực tế cho mục tiêu tăng trưởng hai con số. Đặc biệt, sự bứt phá ngoạn mục của các “cực tăng trưởng” ngay trong Quý II/2026 như Hà Tĩnh (12,79%), Ninh Bình (11,44%), Hải Phòng (11,33%), Quảng Ninh (11,11%),… là minh chứng sống động, đập tan mọi sự xuyên tạc về tính khoa học, khả thi trong Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng. Những con số đó cho thấy tăng trưởng hai con số không phải “khẩu hiệu chính trị”, mà là kết quả của quá trình tích lũy lâu dài về hạ tầng, công nghệ, nguồn nhân lực và năng lực quản trị quốc gia, đang được hiện thực hóa bằng năng lực sản xuất thực tế, bằng sự chuyển động của các cực tăng trưởng mới và bằng động lực cải cách đang lan tỏa trong toàn nền kinh tế.
Thứ hai, các thế lực thù địch, phản động xuyên tạc các dự án hạ tầng chiến lược và đầu tư công quy mô lớn thành “bẫy nợ công”, “vung tay quá trán”, “thảm họa nợ nần”. Chúng viện dẫn các trường hợp khủng hoảng nợ ở một số quốc gia có nền tài chính yếu để áp đặt cho Việt Nam, từ đó đánh đồng mọi khoản vay phát triển với “gánh nặng quốc gia”.
![]() |
![]() |
Hình 2.2. Luận điệu “bẫy nợ công”, “phân hóa giàu nghèo” của thế lực phản động. (Nguồn: Facebook)
Có thể thấy, thực chất của luận điệu này là việc đánh tráo khái niệm giữa nợ vay để đầu tư năng lực sản xuất mới với nợ vay tiêu dùng gây ra gánh nặng ngân sách. Mục tiêu sâu xa của chúng là cản trở quá trình kiến tạo hạ tầng chiến lược và hiện đại hóa quốc gia. Chúng hiểu rằng nếu Việt Nam xây dựng thành công hệ thống hạ tầng đồng bộ, phát triển công nghệ cao và hình thành các cực tăng trưởng mới, thì nền tảng vật chất của chủ nghĩa xã hội sẽ ngày càng được củng cố vững chắc. Vì vậy, việc kích động tâm lý sợ hãi nợ công nhằm phá vỡ sự đồng thuận xã hội đối với các quyết sách phát triển dài hạn của Đảng và Nhà nước ta.
Tăng trưởng hai con số là “lời giải chiến lược” đập tan luận điệu về “bẫy nợ công”. Hiện nay, sự thật về nợ công của Việt Nam chỉ ở mức 35-36% GDP, thấp hơn rất nhiều so với ngưỡng an toàn là 60% và cách xa các nước phát triển như Mỹ (120%) hay Nhật Bản (200%); dư địa tài khóa của Việt Nam vẫn còn lớn. Quyết tâm tăng trưởng hai con số là phương thức quản trị vĩ mô hợp quy luật, đánh giá toàn diện khách quan và chủ quan của đất nước. Bởi vì, điều này sẽ làm mở rộng nhanh quy mô GDP, tức mở rộng “mẫu số” của nền kinh tế, qua đó tỷ lệ nợ công sẽ giảm xuống một cách tự nhiên và bền vững. Hơn nữa, việc dồn lực cho hạ tầng chiến lược sẽ giúp giảm chi phí logistics xuống còn 9-10%, tạo ra nguồn thặng dư khổng lồ để tái đầu tư. Đây là một chu trình kinh tế tối ưu mà mọi quốc gia công nghiệp hóa thành công đều đã trải qua, biến nợ công thành “đòn bẩy” phát triển.
Thứ ba, chúng ngụy biện rằng Việt Nam đã “chạm trần phát triển” và sẽ mắc kẹt vĩnh viễn trong “bẫy thu nhập trung bình”. Để tăng tính thuyết phục giả tạo, chúng dùng các mô hình kinh tế tĩnh tại, viện dẫn một số quốc gia Mỹ Latinh hay Đông Nam Á thất bại trong cải cách để suy diễn rằng Việt Nam cũng “không ngoại lệ” và chỉ có thể phát triển ở mức trung bình do phụ thuộc lao động giá rẻ và gia công.
Bản chất của luận điệu này là gieo rắc tâm lý bi quan, phủ nhận khả năng hiện thực hóa khát vọng phát triển đất nước đến năm 2045. Chúng muốn tạo ra nhận thức sai lệch rằng Việt Nam “không thể phát triển hơn”, “không đủ năng lực bứt phá”, từ đó làm suy giảm niềm tin vào tương lai dân tộc và phủ nhận tính ưu việt của mô hình phát triển dưới sự lãnh đạo của Đảng ta.
Trong giai đoạn 2010-2025, quy mô GDP Việt Nam tăng gần 3 lần, GDP bình quân đầu người vượt 5.000 USD, năng suất lao động tăng bình quân trên 5%/năm, kinh tế số thuộc nhóm phát triển nhanh nhất Đông Nam Á với đóng góp khoảng 20% trong năm 2025. Quan trọng hơn, Việt Nam đang chuyển mạnh từ mô hình tăng trưởng dựa vào lao động giá rẻ sang mô hình dựa trên khoa học – công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số với hơn 50.000 doanh nghiệp công nghệ hoạt động, xác định năng suất các nhân tố tổng hợp (TFP) đóng góp vào tăng trưởng phải đạt trên 55% trong nhiệm kỳ 2026-2030.
Tăng trưởng tốc độ cao và liên tục chính là điều kiện cần bất biến để một nền kinh tế chuyển mình từ kém phát triển sang vị thế thu nhập cao. Nhật Bản (9-10%/năm từ 1955-1973), Hàn Quốc (8,1-9,6%/năm từ 1960-1990), Trung Quốc (trên 10%/năm từ 1980-2010). Vì vậy, tăng trưởng hai con số không phải con đường dẫn tới “cái bẫy”, mà chính là đòn bẩy chiến lược để Việt Nam vượt qua giới hạn phát triển cũ, bứt phá vươn lên trong kỷ nguyên số.
Thứ tư, chúng tuyên truyền nền kinh tế Việt Nam “phụ thuộc hoàn toàn vào FDI”, “không có nội lực thực sự”. Chúng cố tình bỏ qua quá trình tích lũy nội lực xuyên suốt gần 40 năm đổi mới, phủ nhận thành tựu phát triển của khu vực kinh tế tư nhân, khoa học – công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và năng lực hội nhập của nền kinh tế. Bằng cách tuyệt đối hóa vai trò của khu vực đầu tư nước ngoài, chúng muốn dẫn dắt nhận thức theo hướng cho rằng nền kinh tế Việt Nam bị “phụ thuộc”, “không thể tự chủ”.
Bản chất luận điệu này là tạo ra tâm lý tự ti dân tộc, làm cho xã hội hoài nghi về năng lực phát triển tự lực, tự cường của đất nước. Qua đó, chúng phủ nhận hiệu quả của mô hình kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng, sự kiến tạo phát triển của Nhà nước ta trong quá trình xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ gắn với hội nhập quốc tế sâu rộng; cổ súy cho “thuộc địa nô lệ kiểu mới”, lệ thuộc mô hình tư bản chủ nghĩa phương Tây.
Sự trỗi dậy mạnh mẽ của nội lực kinh tế quốc gia trong kinh tế số, khoa học – công nghệ và đổi mới sáng tạo đã phủ nhận hoàn toàn luận điệu này. Đến năm 2025, khu vực kinh tế tư nhân trong nước đã đóng góp khoảng 50% GDP, hơn 30% thu ngân sách nhà nước và tạo ra trên 80% việc làm[1]; nhiều doanh nghiệp Việt Nam từng bước làm chủ công nghệ lõi, tham gia sâu vào chuỗi giá trị toàn cầu trong các lĩnh vực công nghệ số, viễn thông, sản xuất chip, AI, thương mại điện tử và công nghiệp chế biến, chế tạo. Với hơn 50.000 doanh nghiệp công nghệ số, chiến lược “Make in Viet Nam” và định hướng đưa kinh tế số chiếm khoảng 30% GDP trong nhiệm kỳ XIV[2], Việt Nam đang từng bước chuyển từ mô hình tăng trưởng dựa vào lao động giản đơn sang nền kinh tế tri thức và lao động phức tạp. Thực tế đó khẳng định, Việt Nam không phát triển bằng sự lệ thuộc, mà đang chủ động kết hợp hiệu quả giữa nguồn lực bên ngoài với sức mạnh nội sinh để xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ gắn với hội nhập quốc tế sâu rộng.
Thứ năm, lợi dụng những khoảng cách thu nhập và vấn đề xã hội nảy sinh trong quá trình phát triển để quy kết rằng tăng trưởng cao tất yếu dẫn đến phân hóa giàu nghèo, bất ổn xã hội và “hy sinh công bằng để đổi lấy GDP”. Chúng thường khai thác một số hiện tượng chênh lệch thu nhập, ô nhiễm môi trường hay bất cập trong phân phối để tuyệt đối hóa thành bản chất của mô hình phát triển.
Thực chất, luận điệu này dựa trên luận thuyết tư sản tuyệt đối hóa tăng trưởng kinh tế, bất chấp, đánh đổi để lấy tăng trưởng. Đây là âm mưu đối lập giữa tăng trưởng kinh tế với bản chất nhân văn của chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam. Chúng cố tình phủ nhận nhất quán quan điểm của Đảng ta về phát triển kinh tế, xã hội và bảo vệ môi trường là trung tâm, nhằm kích động tâm lý bất mãn, khoét sâu những vấn đề xã hội phát sinh trong quá trình phát triển để tạo ra sự đối kháng giữa nhân dân với Đảng và Nhà nước.
Chỉ số phát triển con người (HDI) của Việt Nam liên tục được cải thiện, đạt 0,766 điểm năm 2025 (tăng 14 bậc) và đặt mục tiêu đạt 0,8 điểm vào năm 2030; tỷ lệ hộ nghèo đa chiều giảm mạnh, còn khoảng 4,06% vào năm 2024; an sinh xã hội, giáo dục, y tế và cơ hội tiếp cận dịch vụ cơ bản không ngừng được mở rộng. Tại Hội nghị Trung ương 2, khóa XIV Tổng Bí thư Tô Lâm nhấn mạnh: Chúng ta không chấp nhận tăng trưởng thấp. Phải kiên trì thực hiện mục tiêu tăng trưởng kinh tế cao, bền vững, thực chất. Đồng chí yêu cầu các ban, bộ, ngành, địa phương, người dân, doanh nghiệp quán triệt sâu sắc nguyên tắc cốt lõi: tăng trưởng kinh tế cao phải bảo đảm phục vụ lợi ích, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân và công bằng xã hội. Đây cũng chính là bản chất ưu việt của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa mà Đảng ta kiên định xây dựng.
Thứ sáu, chúng rêu rao rằng “cánh cửa phát triển” theo mô hình các nền kinh tế Đông Á đã “đóng lại”, bởi bối cảnh bảo hộ mậu dịch, cạnh tranh chiến lược nước lớn và cách mạng công nghệ hiện nay đã khác hoàn toàn so với thời điểm Nhật Bản, Hàn Quốc cất cánh, do đó Việt Nam không còn cơ hội để lặp lại “kỳ tích” tăng trưởng cao. Luận điệu này là sự kết hợp giữa chủ nghĩa hư vô lịch sử và tư duy siêu hình, khi cố tình tuyệt đối hóa điều kiện khách quan để phủ nhận quy luật vận động, phát triển và khả năng nắm bắt thời cơ của Việt Nam.
Thực tế, cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0, quá trình chuyển đổi số toàn cầu và sự dịch chuyển chuỗi cung ứng do cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn đang mở ra cơ hội chưa từng có cho những quốc gia có thể chế linh hoạt, năng lực thích ứng nhanh và nguồn nhân lực chất lượng – đây chính là “thiên thời” mà Việt Nam đang nắm giữ với vị thế địa chính trị chiến lược, hệ thống 17 hiệp định thương mại tự do (FTA) và dòng vốn đầu tư đang dịch chuyển, chứ không phải “cánh cửa đã đóng” như luận điệu xuyên tạc rêu rao.
Sáu tháng đầu năm 2026, tổng vốn FDI đăng ký vào Việt Nam đạt 34,65 tỷ USD, tăng 61% so với cùng kỳ năm trước[3]; vốn FDI thực hiện đạt 13,03 tỷ USD, mức cao nhất của sáu tháng đầu năm trong 5 năm gần đây. “Tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu hàng hóa đạt 549,69 tỷ USD, tăng 27,1% so với cùng kỳ năm trước, trong đó xuất khẩu tăng 21,0%; nhập khẩu tăng 33,4%”[4], phản ánh nhu cầu đầu vào của nền kinh tế tiếp tục mở rộng, sự phục hồi mạnh của hoạt động sản xuất, đặc biệt tại khu vực có vốn đầu tư nước ngoài. Cán cân thương mại hàng hóa nhập siêu 16,65 tỷ USD, tạo tiền đề nâng cao năng lực sản xuất và mở rộng dư địa tăng trưởng trong thời gian tới.

Thứ bảy, chúng lợi dụng chủ trương phân cấp, phân quyền, siết chặt kỷ cương xã hội và tinh thần “6 rõ” trong tổ chức thực thi để xuyên tạc rằng Đảng ta đang “tập trung quyền lực”, hạn chế dân chủ, giám sát xã hội dưới danh nghĩa phục vụ mục tiêu tăng trưởng kinh tế. Mục đích của luận điệu này là gán ghép vấn đề phát triển kinh tế thuần túy với vấn đề “dân chủ”, “nhân quyền” theo tư tưởng tư sản của phương Tây, biến một chủ trương cải cách quản trị hành chính thành cái cớ để can thiệp, chia rẽ nội bộ và hạ thấp uy tín, vị thế quốc tế của Việt Nam.
Cần thấy rõ, việc tăng cường pháp chế, bảo đảm kỷ cương xã hội, gắn trách nhiệm người đứng đầu với kết quả cụ thể, tăng cường phân cấp cho địa phương thực chất là quá trình dân chủ hóa, minh bạch hóa quản trị nhà nước, chuyển đổi từ quản lý hành chính theo quy trình sang quản trị quốc gia theo kết quả, “lấy sự hài lòng, tín nhiệm của người dân, doanh nghiệp và hiệu quả công việc làm tiêu chí đánh giá cán bộ”[5]. Điều này được thể hiện rõ qua Chỉ số hài lòng của người dân đối với sự phục vụ của cơ quan hành chính nhà nước (SIPAS) năm 2025 đạt 83,09%[6]; Chỉ số cải cách hành chính (PAR Index) của 12 bộ, cơ quan ngang bộ năm 2025 là 87,2%, tăng 2,77% so với năm 2024 (84,43%)[7].
Như vậy, mục tiêu tăng trưởng kinh tế hai con số là bước phát triển tất yếu của một nền kinh tế đã tích lũy đủ về tiềm lực, đang hội tụ những động lực tăng trưởng mới và đứng trước những thời cơ chiến lược của thời đại. Mọi luận điệu xuyên tạc, phủ nhận tính khả thi của mục tiêu này xét đến cùng đều nhằm làm suy giảm niềm tin vào con đường phát triển mà Đảng, Nhà nước và Nhân dân ta đã lựa chọn. Tuy nhiên, khát vọng chỉ có thể trở thành hiện thực khi được chuyển hóa thành những quyết sách đúng đắn, những cải cách mạnh mẽ và sự khơi thông đồng bộ mọi nguồn lực phát triển, để từ nền tảng đã được kiến tạo trong hơn 40 năm Đổi mới, Việt Nam tự chủ, tự tin, tự lực, tự cường bứt phá trong kỷ nguyên phát triển mới. (còn tiếp kỳ 3)
Tô Huy Hiệu; Tô Hiến Thà và cộng sự.
Chú thích tài liệu trích dẫn
[1] Mỹ Dung (2025), “Tạo động lực mới cho kinh tế tư nhân”, Báo Nhân dân điện tử, ngày 26/3/2025.
[2] Đảng Cộng sản Việt Nam (2026), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, tập 2, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, tr.376.
[3] Cục Thống kê (2026), Báo cáo số 253/BC-CTK về tình hình kinh tế – xã hội quý II và 6 tháng đầu năm 2026, Hà Nội, ngày 03/7/2026, tr.23.
[4] Cục Thống kê (2026), Báo cáo số 253/BC-CTK về tình hình kinh tế – xã hội quý II và 6 tháng đầu năm 2026, Hà Nội, ngày 03/7/2026, tr.26.
[5] Đảng Cộng sản Việt Nam (2026), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, tập 2, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, tr.238.
[6] Bộ Nội vụ (2026), Quyết định số 429/QĐ-BNV về việc phê duyệt và công bố Chỉ số hài lòng của người dân đối với sự phục vụ của cơ quan hành chính nhà nước năm 2025, ngày 14/4/2026, tr.68.
[7] Bộ Nội vụ (2026), Quyết định số 430/QĐ-BNV về việc phê duyệt và công bố Chỉ số cải cách hành chính năm 2025 của các bộ, cơ quan ngang bộ, Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, ngày 14/4/2026, tr.23.
Tài liệu tham khảo
- Ban Chấp hành Trung ương Đảng (2025), Nghị quyết số 68-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế tư nhân, Hà Nội, ngày 04/5/2025.
- Ban Chấp hành Trung ương Đảng (2026), Nghị quyết số 79-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế nhà nước, Hà Nội, ngày 06/01/2026.
- Ban Chấp hành Trung ương Đảng (2026), Kết luận số 18-KL/TW về Kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội, tài chính quốc gia và vay, trả nợ công, đầu tư công trung hạn 5 năm 2026 – 2030 gắn với thực hiện mục tiêu phân đấu tăng trưởng “2 con số”, Hà Nội, ngày 02/4/2026.
- Ban Chấp hành Trung ương Đảng (2026), Nghị quyết số 10-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài, Hà Nội, ngày 08/6/2026.
- Bộ Nội vụ (2026), Quyết định số 429/QĐ-BNV về việc phê duyệt và công bố Chỉ số hài lòng của người dân đối với sự phục vụ của cơ quan hành chính nhà nước năm 2025, ngày 14/4/2026.
- Bộ Nội vụ (2026), Quyết định số 430/QĐ-BNV về việc phê duyệt và công bố Chỉ số cải cách hành chính năm 2025 của các bộ, cơ quan ngang bộ, Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, ngày 14/4/2026.
- Cục Thống kê (2026), Báo cáo số 253/BC-CTK về tình hình kinh tế – xã hội quý II và 6 tháng đầu năm 2026, Hà Nội, ngày 03/7/2026.
- Mỹ Dung (2025), “Tạo động lực mới cho kinh tế tư nhân”, Báo Nhân dân điện tử, ngày 26/3/2025.
- Đảng Cộng sản Việt Nam (2026), Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, tập 1, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội.
- Đảng Cộng sản Việt Nam (2026), Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, tập 2, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội.
- Hà Lê (2026), “Tăng trưởng hai con số: Con đường tất yếu để hoàn thành các mục tiêu phát triển 100 năm”, Tạp chí VnEconomy điện tử, ngày 21/04/2026.
- V.I.Lênin (1920), “Thà ít mà tốt”, Toàn tập, tập 45, Nxb Chính trị Quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011.
- Mác và Ph.Ăngghen (1858), “Phê phán Khoa Kinh tế chính trị”, Toàn tập, tập 46, phần II, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2001.
- Hồ Chí Minh (1946), “Bài phát biểu tại cuộc họp đầu tiên của Ủy ban nghiên cứu kế hoạch kiến quốc”, Toàn tập, tập 4, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011.
- Bảo Ngọc (2026), “Tăng trưởng hai con số để thay đổi vị thế quốc gia”, Báo Tuổi trẻ online, ngày 23/02/2026.
- Hà Văn (2026), “Thủ tướng: Quyết tâm tăng trưởng 2 con số trên nền tảng vững chắc là ổn định kinh tế vĩ mô”, Báo Chính phủ điện tử, ngày 10/4/2026.






