Mục tiêu tăng trưởng hai con số là quyết sách chiến lược, thể hiện khát vọng phát triển và bản lĩnh của Đảng trong kỷ nguyên mới. Thông qua đột phá thể chế, đổi mới mô hình tăng trưởng, phát triển hạ tầng, nâng cao năng lực thực thi và chất lượng nguồn nhân lực, Đảng đang tạo động lực mạnh mẽ cho phát triển nhanh, bền vững. Thực tiễn đó khẳng định bản lĩnh của Đảng, đồng thời bác bỏ mọi luận điệu xuyên tạc, củng cố niềm tin vào con đường phát triển của đất nước.
Kỳ 3: Khơi Thông Nguồn Lực Phát Triển – Đưa Dân Tộc Đến Phồn Vinh, Văn Minh, Hạnh Phúc
Khát vọng tăng trưởng “hai con số” sẽ trở thành hiện thực khi thực hiện đồng bộ các giải pháp về thể chế, mô hình tăng trưởng, hạ tầng, năng lực thực thi và nguồn nhân lực chất lượng cao. Khơi thông các nguồn lực này là nhiệm vụ chiến lược để biến khát vọng phồn vinh thành sức mạnh hiện thực của dân tộc trong kỷ nguyên phát triển mới.
Bốn nguyên tắc vàng – kim chỉ nam cho tăng trưởng bứt phá
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã khái quát sâu sắc tư duy phát triển mới của Đảng ta trong nhiệm kỳ XIV với bốn nguyên tắc cốt lõi: tăng trưởng phải thực chất; phải giữ ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát, bảo đảm các cân đối lớn; phải sử dụng hiệu quả các nguồn lực; phải bảo đảm thành quả tăng trưởng phục vụ lợi ích của nhân dân, gắn với công bằng xã hội. Đây vừa là định hướng điều hành kinh tế, vừa là sự thống nhất biện chứng giữa tốc độ tăng trưởng với chất lượng phát triển, giữa sức mạnh kinh tế với tiến bộ và công bằng xã hội. Điều đó khẳng định, tăng trưởng “hai con số” mà Đảng ta xác định là quá trình kiến tạo nền tảng vật chất đủ mạnh để đưa đất nước phát triển nhanh, bền vững và phụng sự nhân dân ngày càng tốt hơn.
Do đó, vấn đề có ý nghĩa quyết định hiện nay là phải khơi thông toàn diện các nguồn lực phát triển, tạo bước đột phá mới về thể chế, mô hình tăng trưởng, hạ tầng chiến lược, năng lực tổ chức thực thi và nguồn nhân lực chất lượng cao. Đây chính là những trụ cột, đột phá trọng yếu để chuyển quyết tâm chính trị của Đảng thành sức mạnh hiện thực trong kỷ nguyên phát triển mới của dân tộc.

Năm mũi đột phá – Khơi thông mọi nguồn lực, đưa khát vọng thành hiện thực
Thứ nhất, đột phá thể chế là nhiệm vụ mang tính nền tảng nhằm “mở đường” và “cởi trói” toàn diện cho các nguồn lực phát triển.
Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin, khi quan hệ sản xuất trở nên trì trệ, lạc hậu sẽ trở thành “xiềng xích” kìm hãm sự phát triển của lực lượng sản xuất. Dani Rodrik (2002) nhấn mạnh: “Chất lượng thể chế là yếu tố quan trọng nhất thúc đẩy tăng trưởng kinh tế”[1]. Trong giai đoạn hiện nay, Đảng ta xác định thể chế là “điểm nghẽn của điểm nghẽn”, đồng thời cũng là “đột phá của đột phá” để giải phóng tối đa sức sản xuất xã hội. Thủ tướng Lê Minh Hưng khẳng định: “Thể chế là con đường, là hành lang thông thoáng để cỗ xe kinh tế Việt Nam tiến lên”[2].
Bản chất của đột phá thể chế là chuyển mạnh tư duy từ “quản lý” sang “kiến tạo phát triển”, từ tư duy hành chính sang tư duy phục vụ, lấy doanh nghiệp và người dân làm trung tâm. Theo đó, hệ thống pháp luật phải thực sự minh bạch, ổn định, đồng bộ, có khả năng dự báo cao nhằm giảm tối đa “chi phí thể chế”, “chi phí thời gian” và rủi ro chính sách cho nhà đầu tư. Trên tinh thần đó, Đảng và Nhà nước chủ trương đẩy mạnh phân cấp, phân quyền theo nguyên tắc “địa phương quyết, địa phương làm, địa phương chịu trách nhiệm”(12); chuyển mạnh từ cơ chế “tiền kiểm” sang “hậu kiểm”; cắt giảm 30% ngành nghề kinh doanh có điều kiện; cắt giảm 50% thời gian thực hiện và 50% chi phí tuân thủ thủ tục hành chính để khơi thông mọi nguồn lực xã hội.
Thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa tiếp tục được hoàn thiện theo hướng bình đẳng, minh bạch, cạnh tranh lành mạnh giữa các thành phần kinh tế. Trong đó, “kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo…, bảo đảm ổn định vĩ mô, các cân đối lớn của nền kinh tế, định hướng chiến lược phát triển, giữ vững quốc phòng, an ninh”[3]; “kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng nhất của nền kinh tế quốc gia, là lực lượng tiên phong thúc đẩy tăng trưởng”[4]; “kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài là một bộ phận quan trọng của nền kinh tế quốc gia,…là kênh tiếp nhận công nghệ tiên tiến, phương thức quản trị hiện đại, đào tạo nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, giúp mở rộng thị trường”[5]; kinh tế tập thể cùng kinh tế nhà nước trở thành nền tảng vững chắc của nền kinh tế quốc dân.
Thứ hai, đổi mới mô hình tăng trưởng là yêu cầu có ý nghĩa sống còn để tạo ra bước nhảy vọt về chất của nền kinh tế trong kỷ nguyên số.
Chủ nghĩa Mác – Lênin khẳng định khoa học, công nghệ đến một trình độ nhất định sẽ trở thành “lực lượng sản xuất trực tiếp”, quyết định năng suất lao động và sức mạnh phát triển của quốc gia. Vì vậy, Việt Nam phải dứt khoát từ bỏ mô hình tăng trưởng theo “chiều rộng” chủ yếu dựa vào khai thác tài nguyên, vốn đầu tư lớn và lao động giá rẻ để chuyển mạnh sang mô hình tăng trưởng theo “chiều sâu”, lấy tri thức, khoa học – công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số làm động lực chủ yếu.
Bản chất của quá trình này là chuyển từ lao động giản đơn sang lao động phức tạp, từ gia công, lắp ráp sang sáng tạo và làm chủ công nghệ, qua đó tạo ra giá trị gia tăng cao và nâng tầm vị thế quốc gia trong chuỗi giá trị toàn cầu. Theo đó, mục tiêu chiến lược là nâng tỷ trọng đóng góp của TFP vào tăng trưởng lên trên 55%, đưa năng suất lao động tăng bình quân khoảng 8,5%/năm.
Để hiện thực hóa mục tiêu này, cần tập trung phát triển các ngành công nghiệp nền tảng và công nghệ mũi nhọn như chip bán dẫn, trí tuệ nhân tạo (AI), dữ liệu lớn, điện hạt nhân, năng lượng mới và công nghiệp số; triển khai mạnh mẽ chiến lược “Make in Viet Nam” nhằm nâng cao hàm lượng công nghệ và giá trị gia tăng nội địa. Đây thực chất là quá trình tái cấu trúc lực lượng sản xuất trên nền tảng khoa học – công nghệ hiện đại, tạo động lực nội sinh đủ mạnh để đưa nền kinh tế vượt qua “bẫy thu nhập trung bình” và thực hiện mục tiêu tăng trưởng nhanh, bền vững trong giai đoạn mới. Trong bối cảnh cạnh tranh gay gắt hiện nay, chỉ có mô hình tăng trưởng dựa trên khoa học – công nghệ và đổi mới sáng tạo mới tạo ra tốc độ bứt phá đủ lớn để đạt tăng trưởng hai con số một cách thực chất, không đánh đổi.
Thứ ba, phát triển hạ tầng chiến lược là giải pháp mang tính nền tảng nhằm tạo “bệ đỡ” vật chất và mở ra không gian phát triển mới cho nền kinh tế trong kỷ nguyên số.
Theo lý luận của chủ nghĩa Mác – Lênin về tái sản xuất xã hội, hạ tầng kinh tế – kỹ thuật giữ vai trò là điều kiện vật chất, tiền đề bảo đảm quá trình lưu thông hàng hóa, vốn và lao động diễn ra thông suốt, qua đó làm giảm chi phí sản xuất xã hội và nâng cao hiệu quả toàn bộ nền kinh tế. Do đó, kết cấu hạ tầng là điều kiện tiên quyết cho tăng trưởng kinh tế. Trong bối cảnh cạnh tranh chiến lược toàn cầu ngày càng gay gắt, hạ tầng đã trở thành một cấu phần của sức mạnh quốc gia và năng lực cạnh tranh chiến lược.
Nhận thức rõ điều đó, Đảng ta xác định phải xây dựng hệ thống kết cấu hạ tầng đồng bộ, hiện đại, lấy hạ tầng giao thông, hạ tầng số và hạ tầng năng lượng làm ba trụ cột đột phá để hình thành các cực tăng trưởng mới, kết nối không gian phát triển quốc gia và thúc đẩy chuyển đổi mô hình tăng trưởng. Đầu tư công phải thực sự đóng vai trò thu hút, dẫn dắt và kích hoạt mọi nguồn lực xã hội, tạo hiệu ứng lan tỏa mạnh mẽ đối với đầu tư tư nhân và đầu tư nước ngoài.
Việt Nam cần quyết liệt triển khai các công trình hạ tầng chiến lược mang tính xoay chuyển cục diện phát triển như đường sắt tốc độ cao Bắc – Nam, các hành lang kinh tế ven biển, hệ thống logistics hiện đại, hoàn thành 5.000 km đường bộ cao tốc vào năm 2030. Cùng với đó, phải phát triển hạ tầng số trở thành “mạch máu” của nền kinh tế số, tạo nền tảng cho dữ liệu lớn, trí tuệ nhân tạo, điện toán đám mây và chính phủ số phát triển mạnh mẽ. Việc nâng tổng vốn đầu tư toàn xã hội lên khoảng 40% GDP vừa là yêu cầu về nguồn lực tài chính, vừa phản ánh quyết tâm chính trị trong việc kiến tạo nền tảng vật chất đủ mạnh cho mục tiêu tăng trưởng hai con số và hiện thực hóa khát vọng phát triển trong kỷ nguyên mới.
Thứ tư, nâng cao năng lực thực thi và siết chặt kỷ cương là giải pháp mang tính quyết định để chuyển hóa khát vọng phát triển và quyết tâm chính trị của Đảng ta thành kết quả thực tiễn cụ thể.
Thực tiễn phát triển của nhiều quốc gia cho thấy, không ít chủ trương đúng đắn bị vô hiệu hóa bởi tình trạng tổ chức thực hiện yếu kém, bộ máy trì trệ, cán bộ sợ trách nhiệm và tư duy hành chính quan liêu. Vì vậy, trong giai đoạn phát triển mới, “bản lĩnh thép” không chỉ thể hiện ở tầm nhìn chiến lược, mà còn ở năng lực hành động, tổ chức thực hiện và kỷ luật thực thi của toàn hệ thống chính trị.
Theo đó, Đảng ta xác định phải xây dựng nền quản trị quốc gia hiện đại, chuyển mạnh từ quản lý theo quy trình sang quản lý theo kết quả, lấy hiệu quả thực tiễn và sự hài lòng của người dân, doanh nghiệp làm thước đo năng lực điều hành. Việc tuân thủ nghiêm nguyên tắc “6 rõ” là cơ sở để khắc phục tình trạng đùn đẩy, né tránh, “sợ sai không làm”, bảo đảm mọi nhiệm vụ đều được lượng hóa, kiểm soát và đánh giá minh bạch. Kiên quyết thay thế những cán bộ yếu kém về năng lực, thiếu tinh thần trách nhiệm, gây cản trở sự phát triển; xây dựng cơ chế đủ mạnh để bảo vệ cán bộ dám nghĩ, dám làm, dám đột phá và dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung. Đặc biệt, phải gắn trách nhiệm của người đứng đầu với kết quả tăng trưởng.
Mục tiêu tăng trưởng hai con số chỉ có thể đạt được khi từng cấp, từng ngành, từng địa phương chuyển đổi từ “quản lý cho hết nhiệm kỳ” sang “hành động vì mục tiêu chung”, lấy kết quả tăng trưởng và chất lượng đời sống Nhân dân làm thước đo. Đây là yêu cầu về đổi mới phương thức lãnh đạo, điều kiện tiên quyết để tạo dựng một bộ máy hành động quyết liệt, thống nhất, hiệu quả, đủ năng lực hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng hai con số và khát vọng phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới.
Thứ năm, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao là giải pháp mang tính chiến lược lâu dài, quyết định khả năng hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng hai con số.
Trong nền kinh tế tri thức hiện nay, chất lượng nguồn nhân lực quyết định năng suất lao động, năng lực hấp thụ công nghệ, đổi mới sáng tạo và vị thế cạnh tranh của quốc gia. Vì vậy, muốn tạo ra bước nhảy vọt về lực lượng sản xuất, Việt Nam không thể tiếp tục dựa vào lợi thế lao động giá rẻ, mà phải chuyển mạnh sang phát triển nguồn nhân lực trình độ cao, kỹ năng cao và tư duy số.
Đảng ta xác định giáo dục – đào tạo, khoa học – công nghệ, phát triển con người và xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc là nền tảng nội sinh của phát triển bền vững. Theo đó, cần đổi mới căn bản giáo dục và đào tạo theo hướng gắn chặt với nhu cầu thị trường lao động, chuyển đổi từ đào tạo kiến thức sang phát triển năng lực sáng tạo, tư duy công nghệ và kỹ năng thực hành. Trọng tâm là hình thành đội ngũ nhân lực chiến lược trong các lĩnh vực mũi nhọn như trí tuệ nhân tạo (AI), bán dẫn, dữ liệu lớn, an ninh mạng, công nghệ sinh học, năng lượng mới và quản trị số.
Xây dựng cơ chế đột phá để thu hút, trọng dụng nhân tài, phát huy trí tuệ người Việt Nam ở trong và ngoài nước; tạo môi trường cạnh tranh lành mạnh để đội ngũ trí thức, doanh nhân, nhà khoa học và lực lượng lao động trẻ phát huy tối đa năng lực sáng tạo. Đẩy mạnh đào tạo lại, nâng cao kỹ năng cho lực lượng lao động hiện hữu. Đặc biệt, phải gắn phát triển nguồn nhân lực với xây dựng con người Việt Nam thời kỳ mới; lấy văn hóa trở thành sức mạnh nội sinh, “hệ điều tiết” sự phát triển nhanh và bền vững của đất nước. Đây chính là giải pháp gốc rễ để chuyển hóa lợi thế dân số vàng thành “vàng năng suất”, tạo động lực nội sinh bền vững cho tăng trưởng.
Như vậy, mục tiêu tăng trưởng hai con số là một chiến lược phát triển tổng thể mang tầm vóc thời đại, phản ánh khát vọng tự cường, tư duy tự chủ chiến lược của Đảng trong kỷ nguyên mới. Từ đột phá thể chế, đổi mới mô hình tăng trưởng, phát triển hạ tầng chiến lược, nâng cao năng lực thực thi đến xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao đều thống nhất ở mục tiêu giải phóng tối đa mọi nguồn lực cho phát triển nhanh và bền vững. Đây là sự kết tinh của “bản lĩnh thép”, trí tuệ khoa học và năng lực cầm quyền của Đảng ta trong việc dẫn dắt dân tộc vượt qua giới hạn cũ, tạo dựng nền tảng vật chất vững chắc để hiện thực hóa khát vọng xây dựng một nước Việt Nam phồn vinh, văn minh, hạnh phúc, vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội. Kết quả tăng trưởng hai con số và sự chuyển mình của dân tộc trong giai đoạn tới chính là “tử huyệt” chôn vùi mọi luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch và cơ hội chính trị.
Tô Huy Hiệu; Tô Hiến Thà và cộng sự.
Chú thích tài liệu trích dẫn
[1] Dani Rodrik, Arvind Subramanian and Francesco Trebbi (2002), “Institutions rule: The primacy of institutions over geography and integration in economic development”, National Bureau of Economic Research, Cambridge MA, Working Paper No 9305.
[2] Hà Văn (2026), “Thủ tướng: Quyết tâm tăng trưởng 2 con số trên nền tảng vững chắc là ổn định kinh tế vĩ mô”, Báo Chính phủ điện tử, ngày 10/4/2026.
[3] Ban Chấp hành Trung ương Đảng (2026), Nghị quyết số 79-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế nhà nước, Hà Nội, ngày 06/01/2026, tr.2
[4] Ban Chấp hành Trung ương Đảng (2025), Nghị quyết số 68-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế tư nhân, Hà Nội, ngày 04/5/2025, tr.2.
[5] Ban Chấp hành Trung ương Đảng (2026), Nghị quyết số 10-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài, Hà Nội, ngày 08/6/2026, tr.2.
Tài liệu tham khảo:
- Ban Chấp hành Trung ương Đảng (2025), Nghị quyết số 68-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế tư nhân, Hà Nội, ngày 04/5/2025.
- Ban Chấp hành Trung ương Đảng (2026), Nghị quyết số 79-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế nhà nước, Hà Nội, ngày 06/01/2026.
- Ban Chấp hành Trung ương Đảng (2026), Kết luận số 18-KL/TW về Kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội, tài chính quốc gia và vay, trả nợ công, đầu tư công trung hạn 5 năm 2026 – 2030 gắn với thực hiện mục tiêu phân đấu tăng trưởng “2 con số”, Hà Nội, ngày 02/4/2026.
- Ban Chấp hành Trung ương Đảng (2026), Nghị quyết số 10-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài, Hà Nội, ngày 08/6/2026.
- Bộ Nội vụ (2026), Quyết định số 429/QĐ-BNV về việc phê duyệt và công bố Chỉ số hài lòng của người dân đối với sự phục vụ của cơ quan hành chính nhà nước năm 2025, ngày 14/4/2026.
- Bộ Nội vụ (2026), Quyết định số 430/QĐ-BNV về việc phê duyệt và công bố Chỉ số cải cách hành chính năm 2025 của các bộ, cơ quan ngang bộ, Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, ngày 14/4/2026.
- Cục Thống kê (2026), Báo cáo số 253/BC-CTK về tình hình kinh tế – xã hội quý II và 6 tháng đầu năm 2026, Hà Nội, ngày 03/7/2026.
- Mỹ Dung (2025), “Tạo động lực mới cho kinh tế tư nhân”, Báo Nhân dân điện tử, ngày 26/3/2025.
- Đảng Cộng sản Việt Nam (2026), Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, tập 1, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội.
- Đảng Cộng sản Việt Nam (2026), Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, tập 2, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội.
- Hà Lê (2026), “Tăng trưởng hai con số: Con đường tất yếu để hoàn thành các mục tiêu phát triển 100 năm”, Tạp chí VnEconomy điện tử, ngày 21/04/2026.
- V.I.Lênin (1920), “Thà ít mà tốt”, Toàn tập, tập 45, Nxb Chính trị Quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011.
- Mác và Ph.Ăngghen (1858), “Phê phán Khoa Kinh tế chính trị”, Toàn tập, tập 46, phần II, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2001.
- Hồ Chí Minh (1946), “Bài phát biểu tại cuộc họp đầu tiên của Ủy ban nghiên cứu kế hoạch kiến quốc”, Toàn tập, tập 4, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011.
- Bảo Ngọc (2026), “Tăng trưởng hai con số để thay đổi vị thế quốc gia”, Báo Tuổi trẻ online, ngày 23/02/2026.
- Hà Văn (2026), “Thủ tướng: Quyết tâm tăng trưởng 2 con số trên nền tảng vững chắc là ổn định kinh tế vĩ mô”, Báo Chính phủ điện tử, ngày 10/4/2026.


