Nơi “dấu chân ngựa” cuối cùng của Thánh Gióng bay về trời đã kết tinh thành linh khí vượng bền muôn thuở. Trên vùng đất thiêng ấy, hai mạch nguồn di sản giao hòa: hơn 2.000 năm lịch sử của làng cổ Đông Lai và hơn 300 năm truyền thống văn hóa của làng Quảng Hội. Không chỉ là sự tiếp nối của quá khứ, đó còn là sức mạnh nội sinh bền bỉ, hun đúc nên bản lĩnh, khát vọng và diện mạo của Đông Lai mới hôm nay.

Từ “Dấu chân ngựa” cuối cùng của Thánh Gióng…
Theo truyền thuyết, vào đời Vua Hùng thứ Sáu, khi giặc Ân sang xâm lược bờ cõi, Thánh Gióng đã cưỡi ngựa sắt, vung roi sắt đánh tan quân thù, bảo vệ non sông. Trên hành trình dẹp giặc, mỗi bước chân ngựa của Ngài in xuống mặt đất đều tạo thành những ao, chuôm còn lưu dấu đến ngày nay.
Sau khi hoàn thành sứ mệnh cứu nước, Thánh Gióng thúc ngựa theo hướng núi Sóc. Đến khu đất bằng phẳng thuộc cánh đồng Hủ, làng Đông Lai xưa, Ngài dừng lại, cúi mình như lời từ biệt đất mẹ, rồi thúc ngựa sắt lên đỉnh núi Sóc bay về trời. Nơi đây được lưu truyền là địa điểm lưu lại “Dấu chân ngựa” cuối cùng của Thánh Gióng trước khi Ngài hiển thánh. Thánh Gióng được tôn vinh là Phù Đổng Thiên Vương, một trong “Tứ Bất Tử” của tín ngưỡng dân gian Việt Nam.
Trải qua bao thăng trầm của lịch sử, từ khi Nhân dân Quảng Hội chuyển về lập làng mới bên hồ Đồng Quan dưới chân núi Sóc (năm 1960), hình ảnh “Dấu chân ngựa” cuối cùng của Thánh Gióng vẫn luôn được gìn giữ trong tâm thức cộng đồng. Đối với người dân nơi đây, di tích không chỉ là dấu tích gắn với huyền tích Phù Đổng Thiên Vương mà còn là không gian văn hóa tâm linh linh thiêng, kết tinh truyền thống yêu nước, lòng biết ơn tiền nhân và niềm tự hào về cội nguồn dân tộc.
Hằng năm, mỗi độ xuân về, cũng như vào các ngày sóc, vọng (mùng Một và ngày Rằm âm lịch), Nhân dân cùng đông đảo du khách thập phương đều thành kính dâng hương, thả hoa đăng tại ao “Dấu chân ngựa” trước cửa chùa, thành tâm cầu nguyện quốc thái dân an, mưa thuận gió hòa, mùa màng bội thu, nhân dân an lạc, quê hương ngày càng hưng thịnh.
Để tưởng nhớ và tri ân công đức to lớn của Phù Đổng Thiên Vương, Nhân dân Quảng Hội, nay là thôn Đông Lai, đã dựng bia lưu niệm bên “Dấu chân ngựa” cuối cùng của Ngài. Tấm bia không chỉ xác lập một địa điểm linh thiêng trong hệ thống di tích gắn với Thánh Gióng, mà còn là biểu tượng bền vững của đạo lý “Uống nước nhớ nguồn”, góp phần giáo dục truyền thống yêu nước, bồi đắp lòng tự hào dân tộc và nhắc nhở các thế hệ hôm nay, mai sau mãi khắc ghi công lao của vị Anh hùng đã làm nên bản anh hùng ca giữ nước của dân tộc Việt Nam.

… Đến trận cuồng phong và sự ra đời của Đức Thánh Đương Giang
Theo truyền thuyết, vào đời Vua Hùng thứ Mười Tám (424 trước Công nguyên), tại làng Sầm Sơn, huyện Anh Sơn, phủ Kinh Môn (nay thuộc tỉnh Hải Dương), có vợ chồng ông Phùng Húy Thắng và bà Phạm Thị Phương sống bằng nghề chài lưới. Tuy cuộc sống ban đầu còn nhiều khó khăn, nhưng ông bà luôn chăm chỉ lao động, giàu lòng nhân ái, thường xuyên giúp đỡ người nghèo nên dần gây dựng được cuộc sống sung túc.
Dẫu vậy, khi tuổi đã ngoài ngũ tuần mà vẫn chưa có con nối dõi, nỗi niềm ấy luôn canh cánh trong lòng. Ông bà thường tâm niệm rằng: “Vàng bạc dẫu nhiều cũng không quý bằng có con hiếu, cháu hiền.” Vì thế, hai người xuống thuyền xuôi theo dòng sông Như Nguyệt, tìm đến miền Kinh Bắc để cầu tự. Khi thuyền đến khu Vai Sái, thuộc thôn Đông Lai, xã Quang Tiến xưa (nay là xã Nội Bài, thành phố Hà Nội), bỗng trời đất đổi khác.
Giữa ban ngày, mây đen kéo kín bầu trời, gió nổi cuồn cuộn, mưa giông dữ dội khiến thuyền chao đảo. Trong cơn cuồng phong ấy, bà Phạm Thị Phương nhìn thấy một áng mây ngũ sắc từ trên cao từ từ hạ xuống, bao phủ và quấn quanh thân mình. Kinh ngạc trước điềm lạ, hai vợ chồng vội vào ngôi miếu gần đó tránh gió. Ông Phùng Húy Thắng thành tâm khấn nguyện, cầu mong trời đất ban phúc.
Trong giấc mộng, bà Phạm Thị Phương thấy một vị thần tự xưng là Thủy thần, phụng mệnh Thiên đình giáng thế, xin được đầu thai làm con của ông bà. Khi tỉnh dậy, mưa gió đã tan, bầu trời trong sáng trở lại. Cho rằng đó là điềm lành do trời đất linh ứng, hai vợ chồng trở về quê. Ít lâu sau, bà mang thai.
Đến ngày mùng 10 tháng Tám năm Giáp Thìn, bà sinh hạ một người con trai có dung mạo khôi ngô, khí chất phi thường. Tin rằng đứa trẻ là bậc linh thần giáng thế, ông Phùng Húy Thắng đặt tên con là Đương Giang, về sau được Nhân dân tôn kính là Đức Thánh Đương Giang.
Lớn lên, Đương Giang sớm mồ côi cha mẹ. Sau ba năm chịu tang theo lễ nghĩa, ông chuyên tâm học tập kinh sử, rèn luyện đức hạnh và hết lòng giúp đỡ dân làng phát triển nghề chài lưới, ổn định cuộc sống. Tiếng lành về tài năng và đức độ của ông vang xa, được nhiều người kính trọng. Cảm phục nhân cách ấy, một gia đình họ Triệu đã gả hai người con gái là Long Nương và Lan Lương cho ông. Hai bà đều nổi tiếng xinh đẹp, hiền đức và tài hoa, trở thành những người bạn đời cùng ông vun đắp cuộc sống, đồng hành trong những năm tháng sau này.

Ngôi đình cổ Đông Lai
Theo truyền thuyết, vào năm 40 sau Công nguyên, khi Hai Bà Trưng phất cờ khởi nghĩa chống ách đô hộ nhà Đông Hán, vợ chồng Đức Thánh Đương Giang đã chiêu mộ hơn 5.000 tráng sĩ hưởng ứng nghĩa quân. Với tài năng và đức độ, ông được Trưng Vương phong chức Tả Hữu Tướng quân, giao trọng trách trấn giữ vùng Kinh Bắc. Trên đường hành quân, ông chọn khu Vai Sái, nay thuộc thôn Đông Lai, xã Nội Bài, làm nơi đặt bản doanh.
Tại đây, Đức Thánh Đương Giang đã gặp gỡ các bậc cao niên trong vùng và bày tỏ mối duyên lành với mảnh đất Đông Lai. Khi nghe các bô lão thưa chuyện ngôi miếu thờ Thủy thần vốn linh thiêng nhưng đã nhiều năm không còn hiển ứng, Ngài cho rằng sự linh ứng bị mai một bởi những điều ô uế và sự thiếu thành kính của con người. Đức Thánh khuyên dân làng gìn giữ đạo lý, thành tâm phụng thờ thần linh, sống lương thiện và đoàn kết. Đồng thời, Ngài hứa sẽ phù hộ để nhân dân được mưa thuận gió hòa, mùa màng tốt tươi, cuộc sống yên vui, no đủ. Cảm phục công lao và đức độ của Đức Thánh Đương Giang, Nhân dân khu Vai Sái đã tôn Ngài làm Thành hoàng, lập đình thờ phụng để đời đời hương khói, tưởng nhớ và cầu mong sự che chở của thần linh đối với quê hương.
Hằng năm, Nhân dân Đông Lai tổ chức các nghi lễ truyền thống nhằm tưởng niệm công đức của Đức Thánh Đương Giang. Ngày mùng 10 tháng Tám âm lịch là ngày đản sinh; ngày mùng 4 tháng Ba âm lịch là ngày hóa của Ngài; đặc biệt, ngày 15 tháng Mười âm lịch là lễ Khánh hạ, tương truyền là ngày mừng chiến thắng và khao quân theo lời truyền dạy của Đức Thánh. Trải qua nhiều thế kỷ, lễ hội vẫn được duy trì trang trọng tại đình Đông Lai, trở thành nét đẹp văn hóa đặc sắc, gắn kết cộng đồng và gìn giữ bản sắc truyền thống của địa phương.
Đình Đông Lai không chỉ là nơi thờ Đức Thánh Đương Giang mà còn là trung tâm sinh hoạt văn hóa, tín ngưỡng của cộng đồng. Dưới thời phong kiến, đình là nơi hội họp của Hội đồng kỳ mục, nơi bàn việc làng, giải quyết các công việc chung và tổ chức các lễ hội truyền thống. Qua bao biến thiên của lịch sử, đình vẫn lưu giữ nhiều giá trị di sản quý, trong đó có Ngọc phả và tấm bia đá khắc hơn 2.000 chữ Hán, được tạo dựng từ năm 1903. Những tư liệu này là minh chứng quan trọng về lịch sử hình thành, quá trình phụng thờ Đức Thánh Đương Giang và đời sống văn hóa lâu đời của cư dân Đông Lai.
Ngày nay, đình Đông Lai không chỉ là di tích lịch sử – văn hóa tiêu biểu của địa phương mà còn là nơi lưu giữ ký ức cộng đồng, giáo dục truyền thống yêu nước, đạo lý “Uống nước nhớ nguồn” và góp phần bảo tồn những giá trị văn hóa đặc sắc của vùng đất linh thiêng dưới chân núi Sóc.
Ngày 1/1/2020, Đình làng Đông Lai, xã Quang Tiến cũ (nay là xã Nội Bài – TP Hà Nội) chính thức được trên công nhận và cấp bằng xếp hạng “Di tích cấp tỉnh, Thành phố” trong niềm hân hoan tự hào của người dân Vai Sái xưa, Đông Lai ngày nay.

Quảng Hội – Đông Lai: Mối duyên hội tụ của lịch sử và văn hóa
Lịch sử quê hương luôn ẩn chứa những sự giao hòa đầy ý nghĩa. Cách đây hơn sáu thập kỷ, ngày 27/9/1965, thực hiện chủ trương của Trung ương về xây dựng hợp tác xã nông nghiệp bậc cao, hai làng Đông Lai và Quảng Hội, thuộc xã Quang Tiến (nay là xã Nội Bài), đã hợp nhất thành Hợp tác xã Quảng Đông. Sự kiện ấy không chỉ mang ý nghĩa của một quyết sách phát triển kinh tế trong từng giai đoạn lịch sử, mà còn như một mối nhân duyên gắn kết hai miền quê vốn đã có nhiều điểm tương đồng về truyền thống, lịch sử và văn hóa.
Ngày nay, trong tiến trình sắp xếp đơn vị hành chính, Đông Lai và Quảng Hội tiếp tục đồng hành trong một chỉnh thể thống nhất mang tên thôn Đông Lai. Nếu như trước đây Hợp tác xã Quảng Đông là mô hình liên kết sản xuất, thì thôn Đông Lai hôm nay là cộng đồng dân cư đoàn kết, là đơn vị hành chính cơ sở trực thuộc xã Nội Bài. Sự hợp nhất không chỉ mở rộng quy mô dân số, diện tích và nguồn lực phát triển, mà còn tạo tiền đề để nâng cao hiệu lực quản trị, phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân trong giai đoạn phát triển mới.
Thôn Đông Lai hôm nay là nơi hội tụ những giá trị lịch sử và văn hóa đặc sắc của hai vùng đất giàu truyền thống. Đó là bề dày lịch sử hơn hai nghìn năm gắn với đình cổ Đông Lai và tín ngưỡng thờ Đức Thánh Đương Giang; là không gian văn hóa hơn ba trăm năm của làng Quảng Hội, nơi lưu truyền linh tích “Dấu chân ngựa” cuối cùng của Thánh Gióng trước khi hóa thánh. Hai mạch nguồn di sản ấy hòa quyện, tạo nên nền tảng văn hóa bền vững, bồi đắp bản sắc riêng và trở thành nguồn sức mạnh nội sinh để quê hương tiếp tục đổi mới, phát triển.

Phát biểu tại Lễ ra mắt Chi bộ thôn Đông Lai, ông Nguyễn Minh Mẫn, Ủy viên Ban Thường vụ Đảng ủy, Trưởng ban Xây dựng Đảng, kiêm Trưởng ban Kinh tế – Ngân sách HĐND xã Nội Bài, ghi nhận và đánh giá cao ý nghĩa của sự kiện, đồng thời nhấn mạnh rằng sự hội tụ của những giá trị lịch sử, văn hóa và truyền thống đoàn kết sẽ là nền tảng quan trọng để Chi bộ và Nhân dân thôn Đông Lai phát huy sức mạnh, xây dựng quê hương ngày càng phát triển.
Đảng ủy xã Nội Bài tin tưởng Chi bộ thôn Đông Lai sẽ tiếp tục phát huy vai trò hạt nhân chính trị, lãnh đạo Nhân dân đoàn kết, chung sức xây dựng quê hương giàu đẹp, văn minh và hiện đại; gìn giữ, phát huy những giá trị di sản quý báu của cha ông, đồng thời khơi dậy khát vọng phát triển trong thời kỳ mới, để Đông Lai mãi là miền quê giàu truyền thống, vững bước trên con đường hội nhập và phát triển bền vững.

Từ những giá trị lịch sử được hun đúc qua hàng nghìn năm, từ mạch nguồn văn hóa được bồi đắp qua nhiều thế hệ, Đông Lai hôm nay đang viết tiếp một hành trình mới bằng tinh thần đoàn kết, đổi mới và khát vọng vươn lên. Đó cũng chính là sự tiếp nối bền vững của mối duyên làng nghĩa xóm giữa Đông Lai và Quảng Hội như vầng trăng chung soi sáng hai miền quê, để cùng hướng tới một tương lai phát triển phồn vinh, bền vững, mãi mãi trường tồn, đẹp như câu thơ: “Đông Lai rực rỡ trăng vàng/ Hòa cùng Quảng Hội hai làng chung đôi.”
Ngô Văn Học


