Thứ Tư, Tháng 7 22, 2026
* Email: bbt.dongnama@gmail.com *Tòa soạn: 0989011688 - 0768908888
spot_img
[gtranslate]

Triết lý giáo dục và sức mạnh của một quốc gia



ĐNA -

Từ hàng nghìn năm trước, cha ông ta đã khẳng định: “Hiền tài là nguyên khí của quốc gia.” Trải qua các giai đoạn lịch sử, từ dựng nước, giữ nước đến đổi mới và hội nhập, tư tưởng ấy vẫn giữ nguyên giá trị. Một quốc gia muốn phát triển bền vững không chỉ cần tiềm lực kinh tế hay tài nguyên, mà trước hết phải có những con người có trí tuệ, đạo đức, bản lĩnh và khát vọng cống hiến. Vì vậy, bàn về giáo dục thực chất là bàn về triết lý phát triển con người. Trong bối cảnh hiện nay, việc nghiên cứu và từng bước hình thành một triết lý giáo dục Việt Nam phù hợp với thực tiễn, kế thừa truyền thống dân tộc và tiếp thu tinh hoa nhân loại là yêu cầu có ý nghĩa chiến lược đối với sự phát triển của đất nước.

Con người là sản phẩm của nền giáo dục và hệ giá trị của thời đại
Giáo dục không chỉ là hoạt động truyền thụ tri thức mà trước hết là quá trình hình thành con người theo những giá trị mà xã hội hướng tới. Mỗi nền giáo dục đều phản ánh hệ giá trị của một thời đại, đồng thời định hình phẩm chất, năng lực và trách nhiệm của thế hệ công dân tương lai. Vì vậy, chất lượng con người luôn là kết quả trực tiếp của chất lượng giáo dục; và đến lượt mình, chất lượng con người sẽ quyết định năng lực phát triển của quốc gia.

Lịch sử Việt Nam cho thấy nhận thức nhất quán về vai trò trung tâm của giáo dục trong chiến lược phát triển đất nước. Từ khoa thi đầu tiên năm 1075 đến việc thành lập Quốc Tử Giám năm 1076, các triều đại phong kiến đã coi đào tạo và tuyển chọn nhân tài là nền tảng của quốc gia. Đỉnh cao của tư tưởng ấy được thể hiện dưới thời Lê Thánh Tông qua lời khẳng định của Thân Nhân Trung: “Hiền tài là nguyên khí của quốc gia.” Đây không chỉ là quan điểm về giáo dục mà còn là triết lý phát triển quốc gia, đặt con người ở vị trí trung tâm của sự hưng thịnh và bền vững.

Bước sang thời đại Hồ Chí Minh, tư tưởng lấy con người làm gốc tiếp tục được kế thừa và phát triển. Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Vì lợi ích trăm năm thì phải trồng người”, đồng thời nhấn mạnh trong thư gửi học sinh ngày khai trường đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa rằng tương lai của dân tộc phụ thuộc vào kết quả học tập và rèn luyện của thế hệ trẻ. Những quan điểm đó cho thấy giáo dục không chỉ nhằm nâng cao dân trí mà còn hướng tới xây dựng những con người có đạo đức, bản lĩnh, tinh thần yêu nước và năng lực cống hiến cho đất nước.

Trong bối cảnh hiện nay, khi tri thức, khoa học – công nghệ và đổi mới sáng tạo trở thành động lực chủ yếu của tăng trưởng, con người càng giữ vai trò quyết định năng lực cạnh tranh quốc gia. Văn kiện Đại hội XIV của Đảng tiếp tục xác định phát triển con người toàn diện, xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao, phát huy khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là những đột phá chiến lược. Điều đó khẳng định rằng đầu tư cho giáo dục thực chất là đầu tư cho nguồn lực quyết định sự phát triển bền vững của đất nước.

Như vậy, ở mọi giai đoạn lịch sử, con người luôn là sản phẩm của nền giáo dục và hệ giá trị của thời đại. Một nền giáo dục đúng đắn không chỉ tạo ra lực lượng lao động có tri thức mà còn bồi dưỡng những công dân có nhân cách, bản lĩnh và khát vọng cống hiến. Chính chất lượng con người sẽ quyết định sức mạnh nội sinh và tương lai phát triển của quốc gia.

Triết lý giáo dục – nền tảng định hình tương lai dân tộc
Không có một nền giáo dục phát triển bền vững nếu thiếu một triết lý giáo dục rõ ràng. Triết lý giáo dục không phải là khẩu hiệu hay tập hợp những mục tiêu trước mắt, mà là hệ thống quan điểm nền tảng định hướng toàn bộ hoạt động giáo dục, trả lời câu hỏi cốt lõi: giáo dục đào tạo con người như thế nào và để phục vụ mục tiêu phát triển nào của quốc gia. Khi triết lý giáo dục được xác lập, từ mục tiêu, chương trình, phương pháp giảng dạy, kiểm tra đánh giá đến đào tạo đội ngũ nhà giáo đều vận hành theo một định hướng thống nhất, tạo nên tính ổn định, nhất quán và bền vững của hệ thống giáo dục.

Thực tiễn quốc tế cho thấy không tồn tại một mô hình hay triết lý giáo dục chung cho mọi quốc gia. Mỗi nền giáo dục thành công đều được xây dựng trên nền tảng lịch sử, văn hóa, thể chế và mục tiêu phát triển riêng. Nhật Bản lấy kỷ luật, trách nhiệm và tinh thần cộng đồng làm giá trị cốt lõi; Phần Lan đề cao bình đẳng, sáng tạo và năng lực tự học; Singapore hướng tới đào tạo nguồn nhân lực có năng lực cạnh tranh toàn cầu nhưng vẫn giữ vững bản sắc dân tộc. Điểm chung của các quốc gia này không phải là sao chép lẫn nhau, mà là xây dựng triết lý giáo dục phù hợp với điều kiện và chiến lược phát triển của chính mình.

Đối với Việt Nam, yêu cầu phát triển nhanh và bền vững trong bối cảnh hội nhập quốc tế, chuyển đổi số và kinh tế tri thức đặt ra đòi hỏi phải nghiên cứu, từng bước hình thành một triết lý giáo dục mang bản sắc Việt Nam. Triết lý đó cần kế thừa truyền thống hiếu học, lòng yêu nước, tinh thần nhân nghĩa và đoàn kết của dân tộc, đồng thời tiếp thu có chọn lọc các giá trị tiến bộ của giáo dục hiện đại như tư duy phản biện, đổi mới sáng tạo, năng lực số, học tập suốt đời và năng lực hội nhập quốc tế. Mục tiêu xuyên suốt là xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện, vừa có tri thức, phẩm chất và bản lĩnh, vừa đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong giai đoạn mới.

Định hướng này cũng thống nhất với các chủ trương lớn của Đảng về đổi mới giáo dục và phát triển con người. Nghị quyết số 29-NQ/TW về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, Kết luận số 91-KL/TW của Bộ Chính trị về tiếp tục thực hiện nghị quyết này, cùng Nghị quyết số 80-NQ/TW ngày 07/01/2026 về phát triển văn hóa Việt Nam đều khẳng định phát triển con người là mục tiêu, động lực và trung tâm của sự phát triển đất nước. Đây chính là cơ sở chính trị quan trọng để nghiên cứu và hoàn thiện triết lý giáo dục Việt Nam.

Nếu chưa xác định rõ triết lý giáo dục, các đợt cải cách rất dễ chỉ dừng lại ở việc điều chỉnh chương trình, sách giáo khoa, phương pháp giảng dạy hay cơ chế quản lý mà thiếu một định hướng xuyên suốt. Khi đó, câu hỏi quan trọng nhất vẫn chưa được giải đáp: Giáo dục Việt Nam cần đào tạo nên mẫu người như thế nào để đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong tương lai? Chỉ khi trả lời được câu hỏi đó, mọi đổi mới giáo dục mới có thể thống nhất về mục tiêu, đồng bộ trong triển khai và tạo nền tảng vững chắc cho sự phát triển lâu dài của dân tộc.

Giáo dục hôm nay đang đứng trước những câu hỏi lớn
Bước vào thế kỷ XXI, giáo dục Việt Nam đứng trước những biến đổi sâu sắc do chuyển đổi số, trí tuệ nhân tạo, toàn cầu hóa và sự phát triển của kinh tế tri thức. Những thay đổi này không chỉ làm thay đổi phương thức dạy và học mà còn đặt ra yêu cầu mới về phẩm chất, năng lực và khả năng thích ứng của nguồn nhân lực. Trong bối cảnh đó, hàng loạt vấn đề như đổi mới chương trình, sách giáo khoa, phương pháp giảng dạy, thi cử, giáo dục khai phóng, dạy và học ngoại ngữ, vị trí của môn Lịch sử hay giá trị của quan niệm “Tiên học lễ, hậu học văn” trở thành chủ đề được xã hội đặc biệt quan tâm. Tuy nhiên, điều quan trọng không phải là giải quyết từng vấn đề một cách riêng lẻ, mà là đặt tất cả trong một định hướng thống nhất về mục tiêu giáo dục và phát triển con người.

Một trong những vấn đề có ý nghĩa nền tảng là vị trí của môn Lịch sử trong nhà trường. Giáo dục lịch sử không chỉ nhằm truyền đạt tri thức về quá khứ mà còn góp phần bồi dưỡng lòng yêu nước, ý thức dân tộc, bản lĩnh chính trị và trách nhiệm công dân. Hiểu đúng lịch sử giúp mỗi cá nhân nhận thức sâu sắc về cội nguồn, củng cố bản sắc dân tộc và nuôi dưỡng khát vọng phát triển đất nước. Vì vậy, đổi mới dạy và học Lịch sử cần hướng tới phát triển tư duy lịch sử, năng lực phản biện và khả năng vận dụng kiến thức, thay vì chỉ ghi nhớ sự kiện hay mốc thời gian. Chỉ khi đó, lịch sử mới thực sự trở thành nền tảng tinh thần và nguồn lực nội sinh của quốc gia.

Cùng với đó, quan niệm “Tiên học lễ, hậu học văn” vẫn giữ nguyên giá trị nếu được tiếp cận theo yêu cầu của thời đại mới. “Lễ” không chỉ là chuẩn mực ứng xử mà còn bao hàm đạo đức, ý thức thượng tôn pháp luật, trách nhiệm xã hội và văn hóa ứng xử trong môi trường số. “Văn” cũng không chỉ dừng ở tri thức hàn lâm mà còn bao gồm tư duy khoa học, năng lực sáng tạo, kỹ năng nghề nghiệp và khả năng học tập suốt đời. Giáo dục hiện đại vì thế không phải là sự lựa chọn giữa đạo đức và tri thức, mà là sự thống nhất giữa phẩm chất và năng lực, giữa đức và tài, nhằm hình thành con người phát triển toàn diện.

Bên cạnh đó, hội nhập quốc tế cũng đặt ra yêu cầu cân bằng giữa tiếp thu tinh hoa giáo dục thế giới và giữ gìn bản sắc dân tộc. Giáo dục khai phóng, ngoại ngữ, trí tuệ nhân tạo hay các mô hình giáo dục tiên tiến đều là những xu hướng cần được tiếp cận và vận dụng. Tuy nhiên, việc tiếp thu chỉ thực sự có ý nghĩa khi được đặt trên nền tảng lợi ích quốc gia – dân tộc, góp phần gìn giữ tiếng Việt, văn hóa Việt Nam và hệ giá trị đã được lịch sử bồi đắp. Định hướng này cũng phù hợp với tinh thần Văn kiện Đại hội XIV của Đảng, trong đó xác định mục tiêu xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện, có trí tuệ, đạo đức, bản lĩnh, khát vọng cống hiến và năng lực hội nhập quốc tế.

Nhìn tổng thể, những tranh luận về chương trình, phương pháp giảng dạy, môn học hay mô hình giáo dục đều chỉ là những biểu hiện cụ thể của một vấn đề lớn hơn. Điều giáo dục Việt Nam cần trả lời trước hết không phải là dạy cái gì hay dạy như thế nào, mà là đào tạo nên mẫu người nào cho tương lai đất nước. Chỉ khi xác định rõ mục tiêu ấy trên nền tảng một triết lý giáo dục nhất quán, các quyết sách đổi mới mới có thể đồng bộ, hiệu quả và tạo động lực cho sự phát triển nhanh, bền vững của quốc gia hôm nay và trong tương lai.

Hội nhập để phát triển nhưng không hòa tan bản sắc
Trong bối cảnh toàn cầu hóa, chuyển đổi số và cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, giáo dục Việt Nam không thể đứng ngoài dòng chảy của tri thức nhân loại. Sự phát triển mạnh mẽ của trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn và các mô hình học tập mới đang làm thay đổi phương thức tiếp cận, sáng tạo và ứng dụng tri thức. Điều đó vừa mở ra cơ hội nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, vừa đặt ra yêu cầu đổi mới căn bản tư duy giáo dục. Hội nhập vì thế không chỉ nhằm tiếp cận những thành tựu tiên tiến của thế giới mà còn hướng tới nâng cao năng lực cạnh tranh và khả năng thích ứng của con người Việt Nam trong môi trường toàn cầu.

Tuy nhiên, hội nhập không đồng nghĩa với sao chép hay đánh đổi bản sắc. Mỗi quốc gia có điều kiện lịch sử, văn hóa, thể chế và mục tiêu phát triển khác nhau, nên không tồn tại một mô hình giáo dục có thể áp dụng nguyên vẹn cho mọi quốc gia. Điều Việt Nam cần tiếp thu là tư duy đổi mới, phương pháp giáo dục hiện đại, năng lực sáng tạo và kinh nghiệm quản trị tiên tiến; đồng thời phải kiên định những giá trị cốt lõi làm nên bản sắc dân tộc như lòng yêu nước, tinh thần đoàn kết, ý thức cộng đồng và truyền thống hiếu học. Chỉ trên nền tảng đó, quá trình hội nhập mới tạo ra động lực phát triển mà không làm phai nhạt bản sắc văn hóa Việt Nam.

Trong quá trình đổi mới giáo dục, tiếng Việt, lịch sử dân tộc và văn hóa Việt Nam cần tiếp tục giữ vai trò nền tảng trong việc hình thành nhân cách và bản lĩnh của thế hệ trẻ. Năng lực ngoại ngữ, kỹ năng số hay khả năng làm chủ công nghệ là những yêu cầu tất yếu của thời đại, nhưng chỉ thực sự có ý nghĩa khi gắn với sự hiểu biết về cội nguồn, niềm tự hào dân tộc và trách nhiệm đối với đất nước. Một nền giáo dục hiện đại không chỉ đào tạo những công dân có khả năng làm việc trong môi trường quốc tế, mà còn bồi dưỡng những con người biết gìn giữ, phát huy và lan tỏa các giá trị Việt Nam trong tiến trình hội nhập.

Quan điểm này thống nhất với tinh thần của Nghị quyết số 80-NQ/TW ngày 07/01/2026 của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam, trong đó xác định phát triển văn hóa và xây dựng con người vừa là mục tiêu, vừa là động lực nội sinh của phát triển đất nước. Điều đó khẳng định rằng đổi mới giáo dục không chỉ nhằm nâng cao chất lượng đào tạo hay đáp ứng nhu cầu của thị trường lao động, mà trước hết phải hướng tới xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện, có trí tuệ, đạo đức, bản lĩnh, năng lực sáng tạo và khát vọng cống hiến.

Suy cho cùng, giá trị của hội nhập không nằm ở việc tiếp nhận bao nhiêu tri thức hay công nghệ mới, mà ở khả năng chuyển hóa những thành tựu đó thành động lực phát triển của dân tộc. Một nền giáo dục biết kết hợp hài hòa giữa tinh hoa nhân loại và bản sắc Việt Nam sẽ tạo nên những công dân toàn cầu mang bản lĩnh Việt Nam; những con người vừa có đủ năng lực cạnh tranh trong thế giới hiện đại, vừa có đủ bản lĩnh để gìn giữ và phát huy những giá trị cốt lõi của dân tộc. Đó cũng là con đường để giáo dục thực sự trở thành động lực cho sự phát triển nhanh, bền vững và góp phần khẳng định vị thế của Việt Nam trong khu vực và trên trường quốc tế.

Từ truyền thống “Hiền tài là nguyên khí của quốc gia” đến yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên số, có thể thấy giáo dục luôn là nền tảng của sự hưng thịnh dân tộc. Mọi cải cách giáo dục, dù đổi mới chương trình, phương pháp giảng dạy hay ứng dụng công nghệ hiện đại, chỉ thực sự có ý nghĩa khi được dẫn dắt bởi một triết lý giáo dục rõ ràng, nhất quán và phù hợp với mục tiêu phát triển quốc gia. Cốt lõi của triết lý ấy không chỉ là truyền thụ tri thức mà là hình thành những con người có nhân cách, bản lĩnh, năng lực sáng tạo và khát vọng cống hiến.

Trong định hướng xã hội chủ nghĩa, xây dựng con người vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự phát triển. Nền giáo dục Việt Nam vì thế phải hướng tới đào tạo những công dân phát triển toàn diện, kết hợp hài hòa giữa đức và tài, giữa bản sắc dân tộc và năng lực hội nhập, giữa truyền thống và đổi mới sáng tạo. Đó là những con người biết giữ gìn các giá trị văn hóa Việt Nam, làm chủ khoa học – công nghệ, có tư duy độc lập, tinh thần học tập suốt đời, trách nhiệm xã hội và ý chí phụng sự Tổ quốc.

Để hiện thực hóa mục tiêu đó, cần tiếp tục nghiên cứu và từng bước hoàn thiện một triết lý giáo dục Việt Nam vừa kế thừa truyền thống hiếu học, yêu nước và nhân văn của dân tộc, vừa tiếp thu có chọn lọc những giá trị tiến bộ của giáo dục thế giới. Triết lý ấy phải trở thành nền tảng định hướng thống nhất cho mọi chủ trương, chính sách và hoạt động giáo dục, từ xây dựng chương trình, đào tạo đội ngũ nhà giáo đến đổi mới quản trị và phát triển môi trường học tập. Chỉ khi có một định hướng xuyên suốt, giáo dục mới tránh được những cải cách mang tính cục bộ, ngắn hạn và tạo dựng được sự ổn định lâu dài.

Văn kiện Đại hội XIV của Đảng, Nghị quyết số 29-NQ/TW về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo cùng Nghị quyết số 80-NQ/TW về phát triển văn hóa Việt Nam đều thống nhất ở một tư tưởng xuyên suốt: phát triển con người là nền tảng của phát triển quốc gia. Vì vậy, đầu tư cho giáo dục chính là đầu tư cho tương lai dân tộc; xây dựng triết lý giáo dục chính là kiến tạo nền móng cho sự phát triển lâu dài của đất nước. Khi xác định đúng mẫu người cần đào tạo và kiên định theo đuổi mục tiêu đó, giáo dục Việt Nam sẽ không chỉ tạo ra nguồn nhân lực chất lượng cao mà còn bồi dưỡng những công dân có trí tuệ, đạo đức, bản lĩnh và khát vọng cống hiến, góp phần hiện thực hóa mục tiêu xây dựng một nước Việt Nam hùng cường, phồn vinh, hạnh phúc và phát triển bền vững.

Thế Nguyễn – Minh Văn