Kinh tế nhà nước không chỉ bao gồm doanh nghiệp nhà nước mà còn là hệ thống nguồn lực chiến lược của quốc gia. Trên cơ sở nghiên cứu tài liệu, đối chiếu các mô hình quản trị tài sản công quốc tế và phân tích thực tiễn, bài viết làm rõ vai trò của kinh tế nhà nước trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam dưới ánh sáng Nghị quyết số 79-NQ/TW, đồng thời chỉ ra những điểm nghẽn thể chế. Từ đó, nghiên cứu đề xuất các giải pháp đột phá về đổi mới tư duy quản trị, ứng dụng công nghệ chiến lược và thúc đẩy hợp tác công – tư nhằm phát huy hiệu quả nguồn lực nhà nước, góp phần hiện thực hóa mục tiêu Việt Nam trở thành quốc gia phát triển, thu nhập cao vào năm 2045.

Trong tiến trình xây dựng và phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam, kinh tế nhà nước luôn được xác định giữ vai trò chủ đạo, là lực lượng vật chất quan trọng để Nhà nước định hướng, điều tiết nền kinh tế, ổn định kinh tế vĩ mô và bảo đảm quốc phòng, an ninh. Không chỉ giới hạn ở hệ thống doanh nghiệp nhà nước, kinh tế nhà nước còn bao gồm toàn bộ các nguồn lực chiến lược do Nhà nước nắm giữ và chi phối. Tuy nhiên, trước yêu cầu hiện thực hóa khát vọng đưa Việt Nam trở thành quốc gia phát triển, thu nhập cao vào năm 2045, mô hình quản trị và cơ chế vận hành của khu vực này đang bộc lộ những hạn chế và độ trễ đáng kể.
Thực tiễn cho thấy, thể chế và chính sách về kinh tế nhà nước còn chậm đổi mới, chưa theo kịp yêu cầu phát triển của nền kinh tế thị trường hiện đại. Việc quản lý, khai thác nhiều nguồn lực công chưa gắn chặt với nguyên tắc hạch toán kinh tế và hiệu quả sử dụng, dẫn đến tình trạng lãng phí, thất thoát và phân bổ nguồn lực chưa tối ưu. Trong khi đó, các doanh nghiệp nhà nước – lực lượng nòng cốt của kinh tế nhà nước – vẫn chưa phát huy tương xứng tiềm năng và nguồn lực được giao; năng lực cạnh tranh quốc tế còn hạn chế, vai trò dẫn dắt, mở đường và thúc đẩy đổi mới sáng tạo chưa thật sự rõ nét.
Trong bối cảnh đó, Nghị quyết số 79-NQ/TW ngày 06/01/2026 của Bộ Chính trị đánh dấu bước chuyển quan trọng trong tư duy phát triển, khẳng định yêu cầu đổi mới toàn diện nhận thức, thể chế và phương thức quản trị nhằm giải phóng và phát huy hiệu quả các nguồn lực của kinh tế nhà nước. Trên cơ sở đó, bài viết tập trung hệ thống hóa những vấn đề lý luận cốt lõi về kinh tế nhà nước; phân tích thực trạng, chỉ ra các điểm nghẽn về thể chế và quản trị; tham chiếu kinh nghiệm quốc tế; từ đó đề xuất các giải pháp mang tính đột phá nhằm nâng cao hiệu quả quản lý, sử dụng nguồn lực nhà nước, đáp ứng yêu cầu phát triển nhanh, bền vững và hiện thực hóa mục tiêu Việt Nam trở thành quốc gia phát triển, thu nhập cao vào năm 2045.
Cơ sở lý luận và diện mạo mới của kinh tế nhà nước
Nghị quyết số 79-NQ/TW đã mở rộng đáng kể nội hàm khái niệm kinh tế nhà nước, vượt ra ngoài cách tiếp cận truyền thống vốn chủ yếu đồng nhất với hệ thống doanh nghiệp nhà nước. Theo đó, kinh tế nhà nước được xác định là tổng thể các nguồn lực chiến lược do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và quản lý, bao gồm đất đai, tài nguyên khoáng sản, tài nguyên nước, vùng biển, vùng trời, không gian ngầm, hệ thống kết cấu hạ tầng, ngân sách nhà nước, dự trữ quốc gia và các quỹ tài chính nhà nước ngoài ngân sách. Cách tiếp cận này phản ánh tư duy quản trị hiện đại, coi toàn bộ tài sản công là nguồn lực phát triển cần được khai thác và phân bổ hiệu quả để tạo động lực tăng trưởng bền vững.
Điểm đột phá về mặt lý luận của Nghị quyết là tái định vị vai trò của kinh tế nhà nước trong mối quan hệ với các thành phần kinh tế khác. Kinh tế nhà nước được khẳng định hoạt động bình đẳng trước pháp luật, cùng hợp tác và cạnh tranh lành mạnh với khu vực tư nhân và khu vực có vốn đầu tư nước ngoài. Tuy nhiên, sự bình đẳng đó không làm giảm vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước; ngược lại, khu vực này được kỳ vọng thực hiện sứ mệnh kiến tạo phát triển, dẫn dắt thị trường và mở đường trong các ngành, lĩnh vực then chốt mà các thành phần kinh tế khác chưa đủ năng lực hoặc động lực đầu tư.
Đặc biệt, Nghị quyết nhấn mạnh yêu cầu chuyển đổi mô hình phát triển từ tư duy “Nhà nước trực tiếp sản xuất, kinh doanh” sang “Nhà nước kiến tạo, quản trị và dẫn dắt phát triển”. Theo đó, trọng tâm không còn là mở rộng sự hiện diện trực tiếp của Nhà nước trong hoạt động sản xuất mà là nâng cao năng lực hoạch định chính sách, kiến tạo thể chế, điều phối và tối ưu hóa việc sử dụng các nguồn lực quốc gia. Đồng thời, khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số được xác định là động lực chủ yếu để kinh tế nhà nước thực hiện vai trò tiên phong, hình thành các chuỗi giá trị mới và tạo hiệu ứng lan tỏa đối với toàn bộ nền kinh tế. Đây cũng là cơ sở lý luận quan trọng cho việc đổi mới mô hình quản trị kinh tế nhà nước trong giai đoạn phát triển mới của đất nước.
Thực trạng những hạn chế, tồn tại cơ bản của kinh tế nhà nước
Về thể chế và pháp luật
Thể chế và hệ thống pháp luật về kinh tế nhà nước mặc dù đã từng bước được hoàn thiện, song vẫn chưa theo kịp yêu cầu phát triển của nền kinh tế thị trường hiện đại và quá trình hội nhập quốc tế. Nhiều quy định pháp luật còn thiếu tính đồng bộ, ổn định và dự báo, làm giảm hiệu quả phân bổ, quản lý và khai thác các nguồn lực nhà nước.
Một trong những điểm nghẽn nổi bật là tình trạng chồng chéo, thiếu thống nhất giữa các đạo luật có liên quan như Luật Đầu tư, Luật Đất đai, Luật Xây dựng, Luật Bảo vệ môi trường và các văn bản hướng dẫn thi hành. Sự thiếu thống nhất này không chỉ làm gia tăng chi phí tuân thủ và kéo dài thời gian thực hiện thủ tục hành chính mà còn tạo tâm lý e ngại, né tránh trách nhiệm trong quá trình tổ chức thực hiện. Thực tế đã xuất hiện tình trạng “quy định pháp luật không thiếu nhưng khó triển khai trong thực tiễn”, khiến nhiều dự án, chương trình đầu tư công và hoạt động khai thác nguồn lực bị chậm tiến độ, làm giảm hiệu quả sử dụng vốn và tài sản công.
Bên cạnh đó, các định chế của nền kinh tế thị trường vẫn phát triển chưa đồng bộ, đặc biệt là các thị trường về quyền sử dụng đất, vốn, khoa học – công nghệ và các yếu tố sản xuất khác. Trong khi đó, sự can thiệp của Nhà nước ở một số lĩnh vực vẫn còn nặng về mệnh lệnh hành chính, chưa chuyển mạnh sang quản trị bằng thể chế, cơ chế thị trường và các công cụ điều tiết hiện đại. Điều này làm suy giảm tính linh hoạt của nền kinh tế, hạn chế khả năng huy động và phân bổ hiệu quả các nguồn lực xã hội, đồng thời chưa tạo được môi trường cạnh tranh bình đẳng giữa các thành phần kinh tế.
Những hạn chế nêu trên cho thấy yêu cầu cấp thiết phải tiếp tục hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa theo tinh thần Nghị quyết số 79-NQ/TW, lấy cải cách pháp luật làm khâu đột phá, bảo đảm tính thống nhất, minh bạch và ổn định của hệ thống pháp luật, qua đó giải phóng nguồn lực, nâng cao hiệu quả quản trị quốc gia và phát huy đầy đủ vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước trong giai đoạn phát triển mới.
Về quản lý và sử dụng nguồn lực quốc gia
Mặc dù Nhà nước đang nắm giữ khối lượng lớn tài sản và nguồn lực chiến lược, song hiệu quả quản lý, khai thác và sử dụng vẫn chưa tương xứng với tiềm năng. Nhiều nguồn lực công chưa được phân bổ và vận hành theo các nguyên tắc của kinh tế thị trường, chưa gắn chặt với yêu cầu hạch toán kinh tế, đánh giá hiệu quả đầu tư và trách nhiệm giải trình. Hệ quả là tình trạng lãng phí, thất thoát và sử dụng tài sản công chưa tối ưu vẫn diễn ra ở nhiều lĩnh vực, làm giảm hiệu quả tích lũy và phát huy nguồn lực cho phát triển.
Những hạn chế trong quản trị nguồn lực cũng ảnh hưởng trực tiếp đến việc thực hiện vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước. Mặc dù nắm giữ các nguồn lực thiết yếu và chi phối nhiều lĩnh vực quan trọng của nền kinh tế, khu vực kinh tế nhà nước vẫn chưa phát huy đầy đủ vai trò dẫn dắt, điều tiết và tạo động lực lan tỏa đối với các thành phần kinh tế khác. Hiệu quả sử dụng vốn, tài sản và nguồn lực công ở một số lĩnh vực còn thấp, chưa tạo được sức bật để hình thành các cực tăng trưởng mới và nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế.
Bên cạnh đó, nhiều dự án đầu tư, công trình và tài sản tồn đọng kéo dài chưa được xử lý dứt điểm, gây thất thoát nguồn lực, gia tăng chi phí cơ hội và làm suy giảm niềm tin của thị trường. Việc chậm tháo gỡ các vướng mắc về cơ chế, pháp lý và trách nhiệm thực thi không chỉ làm giảm hiệu quả đầu tư công mà còn cản trở quá trình huy động các nguồn lực xã hội phục vụ phát triển.
Trong bối cảnh đó, yêu cầu đặt ra là phải đổi mới mạnh mẽ cơ chế quản lý tài sản công theo hướng lấy hiệu quả kinh tế và giá trị gia tăng làm thước đo, nâng cao trách nhiệm giải trình, tăng cường ứng dụng công nghệ số trong quản trị nguồn lực và đẩy nhanh xử lý các dự án, tài sản tồn đọng. Đây là điều kiện quan trọng để giải phóng nguồn lực quốc gia, nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản công và khẳng định vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước theo tinh thần Nghị quyết số 79-NQ/TW.
Về doanh nghiệp nhà nước
Là lực lượng nòng cốt của kinh tế nhà nước, doanh nghiệp nhà nước đang nắm giữ khối lượng lớn vốn, tài sản và nguồn lực chiến lược của quốc gia. Tuy nhiên, hiệu quả hoạt động của nhiều doanh nghiệp vẫn chưa tương xứng với quy mô nguồn lực được giao quản lý. Không ít doanh nghiệp có hiệu quả sử dụng vốn thấp, khả năng tạo giá trị gia tăng còn hạn chế, chưa phát huy đầy đủ vai trò là lực lượng vật chất quan trọng để Nhà nước điều tiết, dẫn dắt và định hướng phát triển nền kinh tế.
Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu rộng, năng lực cạnh tranh của nhiều doanh nghiệp nhà nước vẫn còn khoảng cách so với các tập đoàn khu vực và quốc tế. Năng lực quản trị doanh nghiệp, quản trị rủi ro, đổi mới mô hình kinh doanh và tỷ suất sinh lời chưa đáp ứng yêu cầu phát triển trong môi trường cạnh tranh toàn cầu. Điều này ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả bảo toàn, phát triển vốn nhà nước cũng như khả năng tham gia và dẫn dắt các chuỗi giá trị có giá trị gia tăng cao.
Bên cạnh đó, vai trò tiên phong của doanh nghiệp nhà nước trong đổi mới sáng tạo, nghiên cứu và phát triển công nghệ, chuyển đổi số và đầu tư vào các ngành, lĩnh vực chiến lược vẫn chưa được thể hiện rõ nét. Ở nhiều lĩnh vực then chốt, doanh nghiệp nhà nước chưa thực sự đóng vai trò “mở đường”, tạo thị trường hoặc dẫn dắt hệ sinh thái đổi mới sáng tạo như kỳ vọng của Đảng và Nhà nước.
Một điểm nghẽn khác là quá trình cơ cấu lại doanh nghiệp nhà nước, đặc biệt là cổ phần hóa và thoái vốn nhà nước, còn diễn ra chậm so với mục tiêu đề ra. Nguyên nhân chủ yếu xuất phát từ những vướng mắc về cơ chế, chính sách và phương pháp định giá tài sản, nhất là đối với quyền sử dụng đất và các tài sản có giá trị lớn. Việc chậm hoàn thành quá trình tái cơ cấu không chỉ làm giảm hiệu quả sử dụng nguồn lực mà còn hạn chế khả năng thu hút vốn đầu tư xã hội và nâng cao năng lực quản trị doanh nghiệp theo các chuẩn mực hiện đại.
Để doanh nghiệp nhà nước thực sự trở thành lực lượng tiên phong của kinh tế nhà nước, cần tiếp tục đổi mới mạnh mẽ mô hình quản trị theo chuẩn mực quốc tế, nâng cao tính minh bạch, trách nhiệm giải trình và hiệu quả sử dụng vốn; đồng thời tập trung nguồn lực vào các ngành, lĩnh vực thiết yếu, công nghệ cao và hạ tầng chiến lược, qua đó phát huy vai trò dẫn dắt, tạo động lực lan tỏa và nâng cao sức cạnh tranh của nền kinh tế theo tinh thần Nghị quyết số 79-NQ/TW.
Về đơn vị sự nghiệp công lập và bộ máy hành chính
Hệ thống đơn vị sự nghiệp công lập đã có nhiều chuyển biến trong quá trình đổi mới, song việc sắp xếp tổ chức bộ máy vẫn chưa thực sự tinh gọn, hiệu lực và hiệu quả. Cơ chế hoạt động, đặc biệt là cơ chế tự chủ tài chính, còn chậm được hoàn thiện; lộ trình điều chỉnh giá dịch vụ sự nghiệp công chưa theo kịp yêu cầu phát triển, làm hạn chế khả năng nâng cao chất lượng cung ứng dịch vụ và giảm sức cạnh tranh của khu vực sự nghiệp công lập.
Trong tổ chức bộ máy nhà nước, việc phân cấp, phân quyền giữa Trung ương và địa phương ở một số lĩnh vực vẫn chưa thực sự rõ ràng, đồng bộ và gắn với cơ chế kiểm tra, giám sát hiệu quả. Điều này dẫn đến tình trạng chồng chéo về thẩm quyền, đùn đẩy trách nhiệm hoặc né tránh trong xử lý công việc, làm kéo dài thời gian giải quyết thủ tục hành chính, ảnh hưởng đến tiến độ triển khai các dự án đầu tư và hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp.
Một vấn đề đáng quan tâm khác là tâm lý e ngại, sợ sai, sợ trách nhiệm của một bộ phận cán bộ, công chức trong quá trình thực thi công vụ. Việc thiếu quyết đoán trong phê duyệt chủ trương đầu tư, giải quyết thủ tục hành chính và cấp phép kinh doanh đã làm giảm hiệu lực quản lý nhà nước, gia tăng chi phí cơ hội cho doanh nghiệp và làm chậm quá trình huy động, phân bổ các nguồn lực phát triển. Đây không chỉ là vấn đề về năng lực thực thi mà còn phản ánh những bất cập của cơ chế phân định trách nhiệm, kiểm soát quyền lực và bảo vệ cán bộ dám nghĩ, dám làm vì lợi ích chung.
Nguyên nhân của những hạn chế
Những tồn tại nêu trên bắt nguồn từ cả nguyên nhân chủ quan và khách quan, trong đó nguyên nhân cốt lõi là hạn chế về tư duy và nhận thức đối với vị trí, vai trò và phạm vi của kinh tế nhà nước trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Trong một thời gian dài, nhận thức về vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước chưa được cụ thể hóa đầy đủ thành các cơ chế quản trị hiện đại, dẫn đến sự lẫn lộn giữa chức năng quản lý nhà nước với chức năng chủ sở hữu vốn và tài sản công, cũng như giữa vai trò kiến tạo phát triển với sự can thiệp trực tiếp vào hoạt động của thị trường.
Bên cạnh đó, mối quan hệ giữa Nhà nước – thị trường – xã hội chưa được giải quyết một cách hài hòa và hiệu quả. Trong khi ở một số lĩnh vực, Nhà nước vẫn can thiệp sâu bằng các biện pháp hành chính thì ở những lĩnh vực khác lại chưa phát huy đầy đủ vai trò kiến tạo thể chế, điều tiết và tạo lập môi trường cạnh tranh lành mạnh. Điều này làm giảm hiệu quả vận hành của các cơ chế thị trường, hạn chế khả năng huy động nguồn lực xã hội và chưa tạo được sự phối hợp chặt chẽ giữa khu vực nhà nước với khu vực tư nhân trong phát triển kinh tế.
Những nguyên nhân trên cho thấy yêu cầu cấp thiết phải đổi mới đồng bộ tư duy phát triển, hoàn thiện thể chế và nâng cao chất lượng quản trị quốc gia theo tinh thần Nghị quyết số 79-NQ/TW. Chỉ khi xác lập đúng vai trò của Nhà nước với tư cách là nhà kiến tạo phát triển, đồng thời phát huy đầy đủ vai trò của thị trường trong phân bổ nguồn lực và của xã hội trong giám sát, đồng hành phát triển, kinh tế nhà nước mới có thể phát huy hiệu quả vai trò chủ đạo, tạo động lực tăng trưởng và dẫn dắt nền kinh tế trong giai đoạn phát triển mới.
Về thể chế
Bên cạnh những hạn chế về nhận thức và mô hình quản trị, hệ thống thể chế, chính sách và pháp luật về kinh tế nhà nước vẫn còn thiếu đồng bộ, chưa theo kịp yêu cầu phát triển của nền kinh tế thị trường hiện đại. Một số quy định pháp luật còn chồng chéo, thiếu thống nhất hoặc chưa được sửa đổi, bổ sung kịp thời, làm giảm hiệu quả quản lý, khai thác và sử dụng các nguồn lực công, đồng thời tạo ra những rào cản đối với quá trình đổi mới và phát triển.
Về tổ chức thực hiện
Ở nhiều lĩnh vực, việc tổ chức thực hiện chủ trương, chính sách và pháp luật chưa thật sự nghiêm túc, thiếu tính nhất quán giữa các cấp, các ngành. Cơ chế phối hợp trong quản lý, khai thác và sử dụng nguồn lực nhà nước còn phân tán, chưa hình thành được cơ chế điều hành thống nhất và hiệu quả. Điều này dẫn đến tình trạng chồng chéo chức năng, kéo dài thời gian xử lý công việc và làm giảm hiệu quả thực thi chính sách.
Về đội ngũ cán bộ và đạo đức công vụ
Chất lượng nguồn nhân lực trong quản lý kinh tế nhà nước chưa đáp ứng đầy đủ yêu cầu của giai đoạn phát triển mới, nhất là về năng lực quản trị hiện đại, tư duy thị trường và khả năng thích ứng với chuyển đổi số. Bên cạnh đó, ý thức trách nhiệm của một bộ phận cán bộ, công chức, đặc biệt là người đứng đầu trong quản lý tài sản và nguồn lực nhà nước, còn hạn chế. Thực tế vẫn tồn tại tình trạng thiếu trách nhiệm, né tránh, đùn đẩy công việc; nghiêm trọng hơn là hành vi lợi dụng chức vụ, quyền hạn, cố ý làm trái quy định để trục lợi, tham nhũng, gây thất thoát tài sản công và làm suy giảm niềm tin của xã hội.
Về công tác thanh tra, kiểm tra và giám sát
Công tác thanh tra, kiểm tra, kiểm toán và giám sát mặc dù đã có nhiều chuyển biến, song vẫn chưa đáp ứng đầy đủ yêu cầu quản trị hiện đại. Việc phát hiện, cảnh báo và xử lý vi phạm ở một số lĩnh vực còn chậm; cơ chế giám sát chưa gắn chặt với đánh giá hiệu quả sử dụng vốn, tài sản công và trách nhiệm giải trình của các chủ thể quản lý. Điều này làm giảm hiệu quả phòng ngừa rủi ro, chưa tạo được cơ chế kiểm soát quyền lực đủ mạnh để bảo đảm việc quản lý và sử dụng nguồn lực nhà nước minh bạch, hiệu quả.
Kinh nghiệm quốc tế về quản trị tài sản và doanh nghiệp nhà nước
Những hạn chế về thể chế, quản trị và hiệu quả sử dụng nguồn lực cho thấy yêu cầu cấp thiết phải đổi mới mô hình quản lý kinh tế nhà nước theo hướng hiện đại, minh bạch và dựa trên hiệu quả. Trong bối cảnh đó, việc nghiên cứu và tham chiếu kinh nghiệm quốc tế có ý nghĩa quan trọng, không nhằm sao chép mô hình của các quốc gia khác mà để rút ra những bài học phù hợp với điều kiện phát triển và thể chế của Việt Nam. Nhiều quốc gia đã thành công trong việc nâng cao hiệu quả quản lý tài sản công và doanh nghiệp nhà nước thông qua việc tách bạch chức năng quản lý nhà nước với chức năng chủ sở hữu, áp dụng các chuẩn mực quản trị doanh nghiệp hiện đại, tăng cường minh bạch, trách nhiệm giải trình và vận hành theo nguyên tắc thị trường. Đây là những kinh nghiệm có giá trị tham khảo để Việt Nam tiếp tục hoàn thiện mô hình quản trị kinh tế nhà nước theo tinh thần Nghị quyết số 79-NQ/TW.
Trong bối cảnh yêu cầu nâng cao hiệu quả quản trị và giải phóng các nguồn lực quốc gia, việc tham khảo kinh nghiệm của các quốc gia có mô hình quản trị kinh tế nhà nước thành công là cần thiết. Mặc dù điều kiện thể chế, trình độ phát triển và bối cảnh lịch sử có sự khác biệt, song các mô hình này đều cho thấy một điểm chung: quản trị tài sản công theo nguyên tắc thị trường, tách bạch chức năng quản lý nhà nước với chức năng chủ sở hữu và nâng cao tính minh bạch, trách nhiệm giải trình.
Mô hình Quỹ đầu tư quốc gia: Kinh nghiệm từ Temasek (Singapore)
Temasek Holdings được xem là một trong những mô hình quản trị vốn nhà nước thành công nhất thế giới. Điểm cốt lõi của mô hình này là sự tách bạch rõ ràng giữa chức năng quản lý nhà nước và chức năng đầu tư kinh doanh. Chính phủ Singapore, thông qua Bộ Tài chính, là cổ đông duy nhất của Temasek nhưng không can thiệp trực tiếp vào hoạt động điều hành doanh nghiệp. Temasek vận hành như một quỹ đầu tư chuyên nghiệp, thực hiện đầu tư, quản trị danh mục và đánh giá hiệu quả hoàn toàn theo nguyên tắc thị trường, lấy hiệu quả đầu tư dài hạn làm thước đo.
Đối với Việt Nam, định hướng tại Nghị quyết số 79-NQ/TW về tái cơ cấu toàn diện Tổng công ty Đầu tư và Kinh doanh vốn nhà nước (SCIC) theo hướng hình thành Quỹ đầu tư quốc gia cho thấy sự tương đồng về tư duy quản trị. Nếu được triển khai hiệu quả, mô hình này sẽ góp phần chuyên nghiệp hóa quản lý vốn nhà nước, tách chức năng chủ sở hữu khỏi chức năng quản lý hành chính và nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn lực quốc gia.
Mô hình tập trung nguồn lực chiến lược: Bài học từ SASAC (Trung Quốc)
Ủy ban Giám sát và Quản lý tài sản nhà nước (SASAC) của Trung Quốc là mô hình đại diện chủ sở hữu vốn nhà nước đối với các tập đoàn trung ương hoạt động trong các ngành chiến lược như năng lượng, viễn thông, hàng không vũ trụ, đường sắt và công nghiệp quốc phòng. Thông qua chiến lược “nắm lớn, buông nhỏ”, Trung Quốc tập trung nguồn lực vào các doanh nghiệp quy mô lớn, có khả năng cạnh tranh quốc tế, đồng thời đẩy mạnh cải cách hoặc chuyển giao các doanh nghiệp hoạt động kém hiệu quả.
Kinh nghiệm của SASAC cho thấy việc tập trung nguồn lực vào các doanh nghiệp chủ lực giúp hình thành những tập đoàn có năng lực dẫn dắt chuỗi giá trị và tạo sức cạnh tranh toàn cầu. Đây cũng là định hướng phù hợp với mục tiêu Nghị quyết số 79-NQ/TW đặt ra đến năm 2030 là phấn đấu có khoảng 50 doanh nghiệp nhà nước nằm trong nhóm 500 doanh nghiệp lớn nhất Đông Nam Á và từ 1 đến 3 doanh nghiệp thuộc nhóm 500 doanh nghiệp lớn nhất thế giới.
Mô hình quản trị hiện đại gắn với phát triển bền vững: Kinh nghiệm Bắc Âu
Các quốc gia Bắc Âu như Na Uy và Thụy Điển vẫn duy trì sở hữu nhà nước tại những lĩnh vực có ý nghĩa chiến lược như năng lượng, dầu khí, viễn thông và hạ tầng thiết yếu. Tuy nhiên, các doanh nghiệp nhà nước được quản trị theo tiêu chuẩn của doanh nghiệp niêm yết, bảo đảm tính minh bạch, công khai thông tin, trách nhiệm giải trình và chịu sự giám sát của thị trường. Đồng thời, các quốc gia này áp dụng rộng rãi các nguyên tắc quản trị doanh nghiệp của OECD nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động và bảo vệ lợi ích của chủ sở hữu nhà nước.
Đối với Việt Nam, bài học quan trọng không chỉ là duy trì vai trò chi phối của Nhà nước ở các lĩnh vực thiết yếu mà còn phải hiện đại hóa mô hình quản trị doanh nghiệp nhà nước theo chuẩn mực quốc tế, đẩy mạnh chuyển đổi số, công khai minh bạch và nâng cao trách nhiệm giải trình. Đây cũng là nền tảng để thực hiện mục tiêu 100% doanh nghiệp nhà nước áp dụng mô hình quản trị hiện đại trên nền tảng số theo định hướng của Nghị quyết số 79-NQ/TW.
Định hướng chiến lược và các giải pháp đột phá tại Việt Nam
Trên cơ sở những hạn chế đã được nhận diện về tư duy quản lý, thể chế pháp luật, chất lượng quản trị và hiệu quả sử dụng nguồn lực nhà nước, việc đổi mới kinh tế nhà nước cần được triển khai đồng bộ với các giải pháp mang tính chiến lược, lấy cải cách thể chế, đổi mới quản trị và khoa học, công nghệ làm động lực trung tâm.
Đổi mới thể chế, kiến tạo môi trường phân bổ nguồn lực
Giải pháp có tính nền tảng là chuyển mạnh từ mô hình quản lý hành chính sang Nhà nước kiến tạo phát triển, quản trị bằng thể chế và cơ chế thị trường hiện đại. Theo đó, cần phân định rõ chức năng quản lý nhà nước, chức năng đại diện chủ sở hữu vốn và tài sản nhà nước với chức năng sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp, bảo đảm nguyên tắc Nhà nước không can thiệp trực tiếp vào hoạt động quản trị doanh nghiệp.
Cùng với đó, cần tiếp tục hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường, đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính, tăng cường phân cấp, phân quyền gắn với cơ chế kiểm tra, giám sát và trách nhiệm giải trình. Việc áp dụng phương thức quản lý dựa trên đánh giá rủi ro, chuyển từ “tiền kiểm” sang “hậu kiểm”, đồng thời khắc phục tình trạng thanh tra, kiểm tra và kiểm toán chồng chéo sẽ góp phần giảm chi phí tuân thủ, tạo môi trường đầu tư minh bạch và nâng cao hiệu quả phân bổ nguồn lực.
Khoa học, công nghệ và vai trò dẫn dắt của kinh tế nhà nước
Trong giai đoạn phát triển mới, kinh tế nhà nước cần giữ vai trò tiên phong trong đầu tư và ứng dụng các công nghệ lõi, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh và đổi mới sáng tạo. Theo tinh thần Nghị quyết số 79-NQ/TW, các tập đoàn và tổng công ty nhà nước cần đầu tư xây dựng các trung tâm nghiên cứu và phát triển (R&D), phòng thí nghiệm trọng điểm và hệ sinh thái đổi mới sáng tạo, tạo nền tảng cho việc làm chủ công nghệ chiến lược và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia.
Thực tiễn cho thấy, ở nhiều lĩnh vực có tính chất công ích và đầu tư dài hạn, chỉ khu vực kinh tế nhà nước mới đủ năng lực huy động nguồn lực để triển khai các dự án quy mô lớn có tác động lan tỏa. Điển hình là việc xây dựng các hệ thống giám sát môi trường và cảnh báo sớm thiên tai dựa trên sự kết hợp giữa trí tuệ nhân tạo (AI) và Internet vạn vật (IoT) tại Đồng bằng sông Cửu Long. Việc hình thành mạng lưới cảm biến thủy văn, quan trắc xâm nhập mặn, phân tích dữ liệu lớn trên nền tảng điện toán đám mây và hạ tầng viễn thông đòi hỏi nguồn vốn lớn, thời gian đầu tư dài và khả năng phối hợp liên ngành mà khu vực tư nhân khó có thể thực hiện độc lập. Trong trường hợp này, vai trò dẫn dắt của kinh tế nhà nước không nhằm tối đa hóa lợi nhuận ngắn hạn mà hướng tới bảo đảm an ninh sinh thái, thích ứng với biến đổi khí hậu và phát triển bền vững cho cả vùng kinh tế trọng điểm.
Để thúc đẩy đổi mới sáng tạo, cần mở rộng quyền tự chủ cho doanh nghiệp nhà nước trong việc sử dụng Quỹ phát triển khoa học và công nghệ; cho phép áp dụng cơ chế khoán theo sản phẩm nghiên cứu, hình thành các quỹ đầu tư mạo hiểm và tăng cường hợp tác giữa doanh nghiệp nhà nước với viện nghiên cứu, trường đại học và khu vực tư nhân. Đây sẽ là động lực quan trọng để kinh tế nhà nước thực hiện vai trò dẫn dắt đổi mới sáng tạo, hình thành các ngành công nghiệp công nghệ cao và tạo ra các động lực tăng trưởng mới cho nền kinh tế.
Huy động nguồn lực, đa dạng hóa hợp tác công – tư và phát triển kinh tế vùng
Một trong những định hướng quan trọng của Nghị quyết số 79-NQ/TW là đa dạng hóa các kênh huy động nguồn lực xã hội, phát huy hiệu quả mô hình hợp tác công – tư (PPP) và các phương thức hợp tác như “đầu tư công – quản trị tư” hoặc “đầu tư tư – sử dụng công”. Đây là giải pháp quan trọng nhằm giảm áp lực lên ngân sách nhà nước, đồng thời khai thác hiệu quả nguồn lực của khu vực tư nhân trong đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng, dịch vụ công và các ngành kinh tế chiến lược.
Trong bối cảnh phát triển kinh tế vùng, kinh tế nhà nước cần giữ vai trò kiến tạo thông qua quy hoạch không gian phát triển, đầu tư hạ tầng khung và điều phối liên kết vùng, tạo điều kiện để các thành phần kinh tế tham gia đầu tư và khai thác hiệu quả các tiềm năng, lợi thế địa phương. Cách tiếp cận này không chỉ nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn lực công mà còn tạo ra sự cộng hưởng giữa đầu tư của Nhà nước với nguồn vốn xã hội, hình thành các chuỗi giá trị liên kết và thúc đẩy phát triển bền vững.
Thực tiễn cho thấy, mô hình kết hợp giữa đầu tư công với sự tham gia của doanh nghiệp và cộng đồng địa phương có thể tạo ra hiệu quả kinh tế – xã hội rõ rệt. Chẳng hạn, việc phát triển các dự án năng lượng tái tạo quy mô phù hợp gắn với du lịch sinh thái, du lịch cộng đồng tại các vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi cho thấy vai trò của Nhà nước trong quy hoạch, đầu tư hạ tầng và tạo lập cơ chế chính sách, trong khi khu vực tư nhân và cộng đồng trực tiếp tổ chức sản xuất, kinh doanh và cung ứng dịch vụ. Mô hình này vừa góp phần bảo vệ môi trường, bảo tồn các giá trị văn hóa bản địa, vừa tạo sinh kế bền vững, qua đó thể hiện rõ vai trò của kinh tế nhà nước trong việc hỗ trợ và tạo điều kiện để các thành phần kinh tế cùng phát triển.
Cải cách nhân sự và xây dựng cơ chế bảo vệ cán bộ đổi mới sáng tạo
Hiệu quả của quá trình cơ cấu lại và phát triển kinh tế nhà nước phụ thuộc trước hết vào chất lượng nguồn nhân lực và năng lực quản trị. Vì vậy, cần tiếp tục đổi mới công tác cán bộ theo hướng chuyên nghiệp, hiện đại, nâng cao năng lực quản trị kinh tế, trình độ khoa học – công nghệ và kỹ năng điều hành của đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức cũng như đội ngũ quản lý doanh nghiệp nhà nước. Đồng thời, cần xây dựng cơ chế tiền lương và đãi ngộ đủ sức cạnh tranh với thị trường lao động, gắn thu nhập với hiệu quả công việc và kết quả thực hiện nhiệm vụ.
Đối với doanh nghiệp nhà nước, cần hoàn thiện cơ chế quản trị nhân sự theo thông lệ quốc tế, mở rộng quyền tự chủ trong tuyển dụng, sử dụng và đãi ngộ nhân tài; áp dụng cơ chế trả lương theo vị trí việc làm, thưởng theo hiệu quả sản xuất, kinh doanh và kết quả đổi mới sáng tạo; đồng thời nghiên cứu các cơ chế khuyến khích dài hạn phù hợp nhằm thu hút và giữ chân đội ngũ chuyên gia, nhà khoa học và nhân lực chất lượng cao.
Bên cạnh đó, cần hoàn thiện hành lang pháp lý nhằm bảo vệ cán bộ dám nghĩ, dám làm, dám đổi mới, sáng tạo vì lợi ích chung theo đúng chủ trương của Đảng. Việc xây dựng cơ chế đánh giá độc lập, khách quan đối với các quyết định quản lý cần bảo đảm phân định rõ giữa rủi ro khách quan trong quá trình thực thi nhiệm vụ với hành vi vi phạm pháp luật vì động cơ vụ lợi. Chỉ khi có cơ chế bảo vệ phù hợp, cán bộ mới mạnh dạn đổi mới, chủ động giải quyết những vấn đề phát sinh trong thực tiễn, đồng thời vẫn bảo đảm kỷ luật, kỷ cương và phòng, chống tham nhũng, tiêu cực. Đây là điều kiện quan trọng để xây dựng một nền hành chính kiến tạo, liêm chính, chuyên nghiệp và phục vụ phát triển.
Nhìn tổng thể, các nhóm giải pháp nêu trên có mối quan hệ hữu cơ, bổ trợ lẫn nhau. Hoàn thiện thể chế là tiền đề; đổi mới quản trị và nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn lực là trọng tâm; khoa học, công nghệ và chuyển đổi số là động lực; còn phát triển nguồn nhân lực, cơ chế bảo vệ cán bộ đổi mới sáng tạo và mở rộng hợp tác công – tư là yếu tố bảo đảm cho quá trình cải cách được triển khai hiệu quả. Đây cũng là những định hướng có ý nghĩa quyết định để kinh tế nhà nước thực hiện tốt vai trò chủ đạo, dẫn dắt và kiến tạo phát triển theo tinh thần Nghị quyết số 79-NQ/TW, góp phần hiện thực hóa mục tiêu đưa Việt Nam trở thành quốc gia phát triển, thu nhập cao vào năm 2045.
Trong bối cảnh Việt Nam bước vào giai đoạn phát triển mới với mục tiêu trở thành quốc gia phát triển, thu nhập cao vào năm 2045, việc đổi mới nhận thức và hoàn thiện mô hình phát triển kinh tế nhà nước có ý nghĩa chiến lược. Theo tinh thần Nghị quyết số 79-NQ/TW, vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước không còn được hiểu là sự bao cấp, can thiệp hành chính hay mở rộng phạm vi sở hữu nhà nước, mà được thể hiện ở năng lực kiến tạo phát triển, dẫn dắt thị trường, điều tiết vĩ mô và tạo lập môi trường thuận lợi để huy động, phân bổ hiệu quả mọi nguồn lực của nền kinh tế.
Kết quả nghiên cứu cho thấy, để phát huy vai trò này, cần triển khai đồng bộ các giải pháp về hoàn thiện thể chế, đổi mới mô hình quản trị tài sản công và doanh nghiệp nhà nước, hiện đại hóa bộ máy hành chính, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, thúc đẩy khoa học, công nghệ, chuyển đổi số và mở rộng hợp tác công – tư. Đồng thời, việc tham khảo có chọn lọc kinh nghiệm quốc tế, kết hợp với điều kiện thực tiễn của Việt Nam, sẽ góp phần xây dựng mô hình quản trị kinh tế nhà nước hiện đại, minh bạch, vận hành theo nguyên tắc thị trường nhưng vẫn bảo đảm vai trò điều tiết và định hướng phát triển của Nhà nước.
Trong thời gian tới, kinh tế nhà nước cần thực sự trở thành lực lượng tiên phong trong đầu tư vào các lĩnh vực chiến lược, phát triển hạ tầng hiện đại, dẫn dắt đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh và xây dựng các chuỗi giá trị có sức cạnh tranh quốc tế. Những lĩnh vực như hạ tầng số, hệ thống giám sát thông minh dựa trên AI và IoT, năng lượng tái tạo, kết cấu hạ tầng liên kết vùng và các dự án có tính lan tỏa cao sẽ tiếp tục khẳng định vai trò kiến tạo của Nhà nước trong việc giải quyết những vấn đề mà thị trường khó có thể tự đảm đương.
Có thể khẳng định rằng, khi được quản trị theo các chuẩn mực hiện đại, vận hành trên cơ sở hiệu quả, minh bạch và trách nhiệm giải trình, kinh tế nhà nước sẽ không chỉ là lực lượng vật chất quan trọng của nền kinh tế mà còn là nền tảng để bảo đảm tự chủ chiến lược, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia và thúc đẩy phát triển nhanh, bền vững. Đây cũng là tiền đề quan trọng để hiện thực hóa khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hùng cường, xây dựng thành công nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và đưa Việt Nam trở thành quốc gia phát triển, thu nhập cao vào năm 2045.
TS. Huỳnh Văn Lành/Học viện chính trị khu vực II
Tài liệu tham khảo
1.Bộ Chính trị Đảng Cộng sản Việt Nam (2026). Nghị quyết số 79-NQ/TW ngày 06 tháng 01 năm 2026 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế nhà nước. Hà Nội, Việt Nam.
2.OECD (2024). OECD Guidelines on Corporate Governance of State-Owned Enterprises. OECD Publishing, Paris.
3.SASAC (2025). Annual Report on the Reform and Development of China’s Central State-owned Enterprises. State-owned Assets Supervision and Administration Commission of the State Council.
4.Temasek Holdings (2025). Temasek Review 2025: Investing for a Sustainable Future. Singapore.
5.World Bank (2025). Vietnam Development Report: Transitioning the State-Owned Enterprise Sector for a High-Income Future. Washington, DC: World Bank.


