Chiều 2/8/2026, tại Hà Nội, Hội nghị Ngoại vụ toàn quốc lần thứ 22 diễn ra trong khuôn khổ Hội nghị Ngoại giao lần thứ 33, với chủ đề “Nâng tầm công tác đối ngoại địa phương, huy động hiệu quả các nguồn lực quốc tế phục vụ phát triển”. Hội nghị tập trung bàn giải pháp nâng tầm công tác đối ngoại địa phương, huy động hiệu quả các nguồn lực quốc tế phục vụ phát triển, dưới sự chủ trì của Ủy viên Bộ Chính trị, Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Lê Hoài Trung.

Hơn 500 đại biểu từ các ban, bộ, ngành Trung ương, lãnh đạo các địa phương, đại diện các cơ quan ngoại vụ địa phương và các Đại sứ, trưởng Cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài, trưởng Cơ quan đại diện được tiến cử và lãnh đạo các đơn vị của Bộ Ngoại giao đã tham dự Hội nghị.
Phát biểu chỉ đạo tại Hội nghị, Ủy viên Bộ Chính trị, Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Lê Hoài Trung nhấn mạnh Hội nghị Ngoại vụ toàn quốc lần thứ 22 diễn ra trong bối cảnh tình hình thế giới và khu vực tiếp tục có nhiều biến động sâu sắc, đan xen thời cơ và thách thức. Hòa bình, hợp tác và phát triển vẫn là xu thế chủ đạo, song cạnh tranh chiến lược, cạnh tranh thương mại và quá trình tái định hình các liên kết quốc tế diễn ra ngày càng quyết liệt. Cùng với đó, sự phát triển mạnh mẽ của khoa học, công nghệ đang làm thay đổi sâu sắc cục diện cạnh tranh toàn cầu.
Bộ trưởng khẳng định mục tiêu tăng trưởng 10% mà cả nước đang hướng tới là yêu cầu thực chất, trong đó đối ngoại địa phương giữ vai trò quan trọng, góp phần hiện thực hóa mục tiêu phát triển. Thực tiễn cho thấy, không có quốc gia, địa phương, tổ chức hay doanh nghiệp nào phát triển thành công mà không thông qua hội nhập quốc tế dưới những hình thức phù hợp.
Đề cập những định hướng lớn về công tác đối ngoại, Bộ trưởng cho biết Đại hội XIII của Đảng xác định đối ngoại giữ vai trò “tiên phong”, trong khi Đại hội XIV lần đầu tiên khẳng định đối ngoại là “nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên”. Đây là bước phát triển quan trọng trong nhận thức về vị trí, vai trò của công tác đối ngoại trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Đối ngoại và hội nhập quốc tế là nhiệm vụ của cả hệ thống chính trị, không chỉ của riêng ngành ngoại giao.
Bộ trưởng Lê Hoài Trung nhấn mạnh công tác đối ngoại và hội nhập quốc tế địa phương cần được phát huy mạnh mẽ hơn, trở thành một nội dung quan trọng trong hoạt động của toàn bộ hệ thống chính trị. Hiệu quả công tác đối ngoại địa phương cần được đánh giá qua bốn tiêu chí: có sản phẩm cụ thể; tạo ra kết quả mang lại giá trị thực tiễn; bảo đảm tiến độ, thời hạn; và nhận được sự tín nhiệm của nhân dân.
Trên cơ sở đó, Bộ trưởng Lê Hoài Trung đề ra bốn định hướng trọng tâm đối với công tác đối ngoại địa phương trong thời gian tới:
Một là, đổi mới tư duy, nâng cao chất lượng hoạch định chiến lược đối ngoại địa phương, bảo đảm đối ngoại thực sự trở thành một hợp phần trong chiến lược phát triển. Các địa phương cần chủ động xây dựng, rà soát, cập nhật chiến lược đối ngoại, gắn với định hướng phát triển kinh tế – xã hội, quy hoạch và không gian phát triển mới; xác định rõ địa bàn, đối tác, lĩnh vực hợp tác trọng tâm và cụ thể hóa thành các chương trình, dự án có tính khả thi, hiệu quả thiết thực.
Hai là, đổi mới mạnh mẽ ngoại giao phục vụ phát triển, lấy khả năng chuyển hóa quan hệ đối ngoại thành nguồn lực và kết quả cụ thể làm thước đo hiệu quả. Các địa phương cần rà soát những cam kết, thỏa thuận hiện có, xác định dư địa triển khai, vướng mắc cần tháo gỡ và cơ hội có thể cụ thể hóa thành chương trình, dự án. Ngoại giao kinh tế và khoa học – công nghệ cần hướng vào những nguồn lực có khả năng nâng cao chất lượng tăng trưởng, sức cạnh tranh của kinh tế địa phương. Đồng thời, cần phát huy sức mạnh mềm, huy động các nguồn lực xã hội; triển khai đồng bộ ngoại giao văn hóa, đối ngoại nhân dân, thông tin đối ngoại và công tác đối với người Việt Nam ở nước ngoài.
Ba là, đổi mới cơ chế lãnh đạo, quản lý và phối hợp, bảo đảm công tác đối ngoại địa phương được triển khai thống nhất, thông suốt và hướng tới kết quả thực chất. Công tác đối ngoại trên địa bàn cần đặt dưới sự lãnh đạo thống nhất của cấp ủy, sự quản lý tập trung của chính quyền và sự tham mưu, điều phối của cơ quan chuyên môn về đối ngoại. Sự phối hợp giữa địa phương với Bộ Ngoại giao, các bộ, ngành và cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài cần dựa trên nhu cầu thực chất và trách nhiệm hai chiều. Các địa phương cũng cần từng bước hình thành cơ sở dữ liệu, kênh trao đổi thông tin dùng chung, tạo nền tảng chia sẻ cơ hội, phối hợp nguồn lực và nâng cao hiệu quả chỉ đạo, điều hành.
Bốn là, kiện toàn tổ chức bộ máy, xây dựng đội ngũ cán bộ ngoại vụ đáp ứng yêu cầu mới, đồng thời đổi mới phương thức quản lý công tác đối ngoại. Mỗi địa phương cần có một đầu mối đủ vị thế, thẩm quyền và năng lực để tham mưu tổng thể, thực hiện chức năng quản lý nhà nước, điều phối hoạt động đối ngoại và theo dõi việc triển khai các cam kết hợp tác. Cán bộ ngoại vụ cần có bản lĩnh chính trị vững vàng, kiến thức đối ngoại, trình độ ngoại ngữ, am hiểu thực tiễn địa phương, đồng thời nâng cao năng lực nghiên cứu, dự báo, tham mưu, xây dựng dự án và tổ chức triển khai hợp tác quốc tế.
Bộ trưởng đề nghị các Cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài tăng cường phối hợp, hỗ trợ hiệu quả hơn đối với các địa phương; đồng thời mong muốn các địa phương chủ động phản ánh những khó khăn, vướng mắc trong quá trình triển khai công tác đối ngoại để Bộ Ngoại giao kịp thời phối hợp tháo gỡ, tiếp tục hoàn thiện thể chế và cơ chế phối hợp.

Trình bày Báo cáo trung tâm tại Hội nghị, Thứ trưởng Bộ Ngoại giao Ngô Lê Văn đánh giá công tác đối ngoại địa phương từ sau Hội nghị Ngoại vụ toàn quốc lần thứ 21 đến nay đã có những chuyển biến bước đầu: từ chú trọng mở rộng quan hệ sang quan tâm hơn đến hiệu quả hợp tác; từ tổ chức hoạt động riêng lẻ sang gắn công tác đối ngoại với quy hoạch và mục tiêu phát triển; từ tiếp nhận sự hỗ trợ sang chủ động đề xuất nhu cầu, tìm kiếm nguồn lực quốc tế.
Được triển khai trên cả ba trụ cột đối ngoại Đảng, ngoại giao Nhà nước và đối ngoại nhân dân, công tác đối ngoại địa phương góp phần cụ thể hóa đường lối đối ngoại của Đại hội XIII và Đại hội XIV. Các địa phương đã ký, gia hạn và duy trì hiệu lực 900 thỏa thuận quốc tế; cấp phép, chủ trì hơn 2.500 hội nghị, hội thảo quốc tế.
Công tác quản lý, bảo vệ biên giới được triển khai đồng bộ, quán triệt định hướng củng cố vững chắc “vành đai an ninh – phát triển”. Đối ngoại tiếp tục giữ vai trò quan trọng trong mở rộng không gian hợp tác, huy động nguồn lực bên ngoài phục vụ phát triển nhanh và bền vững của các tỉnh, thành. Nhiều địa phương từng bước chuyển từ thu hút đầu tư theo số lượng sang lựa chọn các dự án có chất lượng. Hàng hóa địa phương tiếp tục mở rộng tiếp cận thị trường, tham gia các chuỗi giá trị toàn cầu.
Công tác vận động, thu hút viện trợ phi chính phủ nước ngoài được chú trọng, với hơn 1.500 chương trình, dự án, tổng giá trị cam kết hàng trăm triệu USD. Nhiều thỏa thuận, cơ chế hợp tác đưa lao động đi làm việc ở nước ngoài được các địa phương ký kết, góp phần tạo việc làm, nâng cao chất lượng nhân lực và thu hút nguồn lực hiệu quả.
Công tác vận động, bảo tồn và phát huy giá trị các danh hiệu quốc tế đạt kết quả tích cực. Việt Nam đã có 79 danh hiệu, mạng lưới và cơ chế UNESCO. Nhiều lễ hội, sự kiện văn hóa, du lịch tại các địa phương trở thành thương hiệu, thu hút đông đảo đối tác và du khách quốc tế.
Hợp tác quốc tế trong các lĩnh vực công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số được nhiều địa phương quan tâm. Công tác lãnh sự, bảo hộ công dân, người Việt Nam ở nước ngoài, thông tin đối ngoại và đào tạo, bồi dưỡng tiếp tục được triển khai tích cực. Các địa phương chủ động kiện toàn cơ quan, đầu mối làm công tác đối ngoại, bảo đảm các hoạt động đối ngoại tại địa phương được duy trì thông suốt.
Trong giai đoạn 2024-2026, Bộ Ngoại giao và các Cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài tiếp tục đồng hành với các địa phương trong tham mưu, hướng dẫn, cung cấp thông tin, kết nối, huy động nguồn lực quốc tế và đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao năng lực thực hiện. Hơn 270 cuộc làm việc giữa Bộ trưởng, lãnh đạo Bộ Ngoại giao với các địa phương và 9 hội nghị quy mô lớn kết nối địa phương với đối tác nước ngoài được tổ chức; cùng với đó là khoảng 2.000 cuộc kết nối với đối tác quốc tế và hỗ trợ ký hơn 420 thỏa thuận hợp tác với các đối tác quốc tế.
Công tác phối hợp về biên giới, lãnh thổ, lãnh sự và bảo hộ công dân, công tác người Việt Nam ở nước ngoài, thông tin đối ngoại được đẩy mạnh. Bộ Ngoại giao cũng tổ chức hàng trăm lớp bồi dưỡng kiến thức, kỹ năng đối ngoại và hội nhập quốc tế cho cán bộ địa phương.
Bên cạnh những kết quả đạt được, Thứ trưởng Ngô Lê Văn chỉ ra một số hạn chế, khó khăn trong công tác đối ngoại địa phương, gồm: nhận thức và mức độ gắn kết với chiến lược phát triển; tính chủ động và mức độ đồng đều giữa các địa phương; hiệu quả hợp tác và khả năng chuyển hóa nguồn lực; tổ chức bộ máy, biên chế và năng lực cán bộ.
Ngoài ra, công tác đối ngoại địa phương còn gặp khó khăn về thể chế, khung pháp lý, thẩm quyền và tổ chức thực hiện; nguồn lực tài chính; thông tin, dữ liệu và chuyển đổi số; liên kết vùng và cơ chế phối hợp.

Tại hai phiên chuyên đề, các đại biểu từ Cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài, các bộ, ngành và địa phương đã cùng nhận diện cơ hội, chia sẻ cách làm hay, kinh nghiệm thực tiễn trong hợp tác quốc tế, thu hút nguồn lực bên ngoài; đồng thời trao đổi về xây dựng bộ máy, đội ngũ làm công tác đối ngoại “trọng yếu, thường xuyên” tại địa phương trong tình hình mới.
Xuyên suốt 12 tham luận, các đại biểu cùng thống nhất một cách tiếp cận: chuyển từ mở rộng quan hệ theo số lượng sang tạo ra giá trị thực chất, lấy kết quả cụ thể làm thước đo hiệu quả đối ngoại. Theo đó, hiệu quả công tác đối ngoại địa phương phụ thuộc quyết định vào năng lực xác định đúng nhu cầu, chuẩn bị đề xuất có chất lượng và tổ chức thực hiện đến cùng. Trên nền tảng chung này, mỗi địa phương lựa chọn cách tiếp cận phù hợp với đặc thù và lợi thế riêng.
Về ngoại giao kinh tế, các đại biểu cho rằng cần gắn công tác đối ngoại chặt chẽ hơn với các mục tiêu tăng trưởng cụ thể. Đại sứ Việt Nam tại Hoa Kỳ khuyến nghị các địa phương chủ động đón đầu dòng vốn FDI chất lượng cao trong khuôn khổ Đối tác Chiến lược Toàn diện Việt Nam – Hoa Kỳ.
Đại diện Thủ đô Hà Nội cho thấy sự chuyển đổi tư duy đối ngoại từ “tiếp nhận, thích nghi” sang “chủ động đóng góp, kiến tạo và định hình”, trong đó từng bước đưa Khu Công nghệ cao Hòa Lạc trở thành hạt nhân thu hút các ngành bán dẫn và trí tuệ nhân tạo. Lãnh đạo thành phố Hải Phòng chia sẻ kinh nghiệm triển khai “ngoại giao kiến tạo phát triển”, với việc phân công đầu mối theo dõi, thúc đẩy thực hiện từng cam kết sau ký kết.
Trao đổi về xuất khẩu sản phẩm nông, thủy sản, lãnh đạo tỉnh An Giang giới thiệu định hướng khai thác thị trường HALAL, coi năm APEC 2027 là cơ hội quan trọng để quảng bá và mở rộng kết nối. Tỉnh cũng chỉ ra những rào cản như yêu cầu kỹ thuật ngày càng khắt khe của các thị trường nhập khẩu, áp lực cạnh tranh về giá và chi phí logistics gia tăng do những biến động địa chính trị trên thế giới.
Về ngoại giao văn hóa và kinh tế di sản, lãnh đạo thành phố Huế và tỉnh Ninh Bình chia sẻ quan điểm di sản không chỉ được nhìn nhận dưới góc độ bảo tồn mà còn có thể chuyển hóa thành nguồn lực phát triển. Thành phố Huế đề xuất hình thành diễn đàn quốc tế thường niên về ngoại giao văn hóa, kinh tế di sản và du lịch bền vững tại địa phương. Trong khi đó, tỉnh Ninh Bình gắn xây dựng đội ngũ đối ngoại chuyên sâu với việc phát huy các giá trị đặc trưng như Quần thể danh thắng Tràng An và tín ngưỡng thờ Mẫu Tam phủ.
Về tổ chức bộ máy và năng lực thực thi của cơ quan đối ngoại địa phương, các đại biểu thẳng thắn chỉ ra những điểm nghẽn tương đồng, dù mỗi địa phương có đặc thù riêng. Trong đó, biên chế còn mỏng, khó thu hút nhân lực chất lượng cao, trong khi yêu cầu đối với cán bộ ngày càng cao, từ tham mưu đến xử lý kịp thời các vấn đề phát sinh, trong đó có các sự vụ biên giới.
Việc triển khai số hóa công tác đối ngoại cũng gặp khó khăn do dữ liệu đầu vào và báo cáo đầu ra qua các giai đoạn trước chưa đáp ứng tốt yêu cầu tổng hợp, phân tích phục vụ quản trị, điều hành. Từ thực tiễn đó, các địa phương đề xuất đẩy mạnh phân cấp gắn với bộ chỉ số KPI đánh giá hiệu quả công việc; duy trì ổn định, thống nhất mô hình cơ quan đối ngoại địa phương; xây dựng cơ sở dữ liệu tích hợp, ứng dụng trí tuệ nhân tạo; đồng thời sớm ban hành khung kiến trúc dữ liệu chung của ngành ngoại giao để áp dụng thống nhất tại các địa phương.
Hội nghị Ngoại vụ toàn quốc lần thứ 22 cho thấy công tác đối ngoại địa phương đang đứng trước yêu cầu chuyển mạnh từ mở rộng quan hệ sang nâng cao hiệu quả và tạo giá trị thực chất cho phát triển. Từ những kết quả đạt được, cùng các kinh nghiệm, mô hình và điểm nghẽn được thẳng thắn chỉ ra, các địa phương có thêm cơ sở để đổi mới tư duy, nâng cao năng lực thực thi và chủ động hơn trong kết nối, huy động nguồn lực quốc tế.
Với sự đồng hành của Bộ Ngoại giao, các Cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài và sự chủ động của từng địa phương, công tác đối ngoại địa phương được kỳ vọng sẽ ngày càng gắn chặt với chiến lược phát triển, chuyển hóa hiệu quả các mối quan hệ và nguồn lực quốc tế thành những kết quả cụ thể, đóng góp thiết thực vào mục tiêu phát triển nhanh, bền vững của đất nước trong giai đoạn mới.
Thùy Linh


