Làm báo thời nào cũng có niềm vui, nỗi trăn trở. Với tôi, hành trình khôi phục Báo Quân khu Một giai đoạn 1994–2006 sau nhiều năm gián đoạn là quãng thời gian không thể nào quên. Đó không chỉ là nhiệm vụ, mà còn là hành trình tiếp nối mạch nguồn lịch sử của tờ báo Chiến Khu giàu truyền thống cách mạng. Hướng tới kỷ niệm 80 năm thành lập Báo Quân khu Một (19/8/1946 – 19/8/2026), nhìn lại những trang sử đầu tiên càng thêm tự hào về giá trị bền vững của hai tiếng “Chiến khu”.

Âm vang tờ báo “Chiến Khu”
Nhìn lại hành trình 80 năm vẻ vang, tiền thân của Báo Quân khu Một hôm nay đã đi qua nhiều chặng đường lịch sử với những tên gọi gắn liền từng giai đoạn cách mạng của dân tộc. Bắt đầu từ tờ “Chiến Khu”, rồi lần lượt mang tên “Việt Bắc quyết chiến”, “Bắc Sơn”, “Giữ nước”, “Quân Việt Bắc”, “Chiến sĩ Quân khu Một” và hôm nay là “Báo Quân khu Một”. Mỗi tên gọi không chỉ đánh dấu một giai đoạn phát triển mà còn lưu giữ dấu ấn của ý chí chiến đấu, tinh thần cách mạng và truyền thống báo chí cách mạng trên quê hương Việt Bắc.
Ngược dòng lịch sử về những năm đầu kháng chiến chống thực dân Pháp, trong bối cảnh cuộc đấu tranh giành độc lập bước vào giai đoạn quyết liệt, nhu cầu tuyên truyền, cổ vũ phong trào cách mạng trở nên cấp thiết. Ngày 19-8-1946, Chiến khu ủy quyết định xuất bản số báo đầu tiên mang tên “Chiến Khu”, đặt nền móng cho dòng chảy liên tục của Báo Quân khu Một suốt tám thập kỷ.
Giữa muôn vàn thiếu thốn của thời chiến, việc tổ chức xuất bản một tờ báo tại Thái Nguyên khi ấy là một kỳ tích. Những người làm báo đầu tiên chỉ vỏn vẹn hai đồng chí: Tạ Xuân Thu, Chính trị Ủy viên Chiến khu, trực tiếp làm Chủ nhiệm và đồng chí Kỳ Ân giữ cương vị Chủ bút. Về sau, tòa soạn từng bước được bổ sung các đồng chí Phạm Viên, Hà Thế Long, Cao Nhị, Nhị Ca, Đỗ Nhuận, Nguyễn Đức Toàn, Tô Ân, Lê Kim… tạo nên đội ngũ làm báo đầu tiên của Chiến khu.
Để bảo đảm mỗi kỳ báo ra đúng hẹn, tòa soạn đã vận dụng cách làm rất sáng tạo: giao bài viết cho các cơ quan Tham mưu, Chính trị, Quân giới, Quân y và các đơn vị trực thuộc, mỗi đơn vị chịu trách nhiệm một bài. Sau khi biên tập, bản thảo lại vượt núi băng rừng đưa về Nhà in Hàn Thuyên (Hà Nội) để in. Bất chấp bom đạn, hiểm nguy và điều kiện giao thông vô cùng gian khó, báo vẫn được xuất bản đều đặn với số lượng khoảng 6.000 bản mỗi kỳ, phát hành từ Thủ đô Hà Nội đến các bản làng xa xôi của Chiến khu Việt Bắc, trở thành tiếng nói cổ vũ mạnh mẽ quân và dân trên mặt trận kháng chiến.
Sự ra đời của tờ báo “Chiến Khu” không chỉ đánh dấu một sự kiện quan trọng của báo chí cách mạng ở Chiến khu Việt Bắc, mà còn nhận được sự quan tâm đặc biệt của lãnh đạo Quân đội. Ngay từ những ngày đầu thành lập, đồng chí Võ Nguyên Giáp, “Anh Văn” kính yêu của Quân đội nhân dân Việt Nam đã gửi thư chúc mừng tòa soạn. Trong bức thư đề ngày 13/8/1946 tại Hà Nội, Đại tướng viết:
“Được tin báo Chiến Khu ra đời, tôi xin gửi lời chào mừng rất thân ái. Là một người đã từng sống ở Chiến – Khu tôi rất mong mỏi nhà báo ra sức giúp Chiến Khu chúng ta trở nên một Chiến Khu hiện đại, dân chúng giác ngộ, bộ đội hùng cường và bao giờ quân dân cũng nhất trí. Đó là lời mong mỏi của tôi và tất cả của đồng bào toàn quốc; chúng tôi tin tưởng ở sự cố gắng của Ban Khu và của Tòa soạn nhà báo. Tiện đây, tôi nhờ nhà báo chuyển lời chào cố gắng cho tất cả anh em bộ đội và dân chúng Chiến Khu./.”
Những lời gửi gắm của Đại tướng không chỉ thể hiện sự kỳ vọng đối với một tờ báo mới ra đời, mà còn xác định rõ sứ mệnh chính trị của cơ quan báo chí nơi căn cứ địa cách mạng. Suốt chặng đường phát triển, những lời căn dặn ấy đã trở thành nguồn động viên, định hướng và điểm tựa tinh thần để tờ báo “Chiến Khu” hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ tuyên truyền, cổ vũ phong trào cách mạng, góp phần đặt nền móng vững chắc cho truyền thống vẻ vang của Báo Quân khu Một và các thế hệ người lính làm báo tiếp nối hôm nay.

Bùi ngùi và nuối tiếc…
Lịch sử luôn có những khúc quanh không ai mong muốn. Sau chặng đường vẻ vang bắt đầu từ ngày 19/8/1946, với nhiều lần đổi tên gắn liền từng giai đoạn cách mạng và vinh dự được Chủ tịch nước tặng thưởng Huân chương Quân công hạng Hai, Báo Quân khu Một cũng có lúc phải đối diện với một dấu lặng đầy xót xa. Đầu những năm 1990, thực hiện chủ trương tinh gọn tổ chức báo chí trong Quân đội, tờ báo buộc phải ngừng xuất bản, khép lại một chặng đường lịch sử để lại nhiều tiếc nuối trong lòng những người gắn bó với nghề.
Ngày nhận quyết định giải thể, nỗi bùi ngùi không chỉ hiện rõ trên gương mặt cán bộ, phóng viên, biên tập viên và công nhân viên tòa soạn, mà còn lan tới các cơ quan, đơn vị trong toàn Quân khu cùng đông đảo bạn đọc nhiều năm gắn bó với tờ báo. Không khí trầm lắng bao trùm khắp tòa soạn. Xưởng in từng đỏ lửa ngày đêm bỗng lặng im khi Cục Chính trị Quân khu triển khai phương án bàn giao toàn bộ cơ sở vật chất phục vụ làm báo cho đơn vị khác. Một cơ quan báo chí từng hoạt động sôi nổi, một diễn đàn chính luận của lực lượng vũ trang Quân khu bỗng khép lại sau gần nửa thế kỷ đồng hành cùng lịch sử.
Biến cố ấy cũng mở ra một giai đoạn đầy thử thách đối với đội ngũ những người làm báo. Nhiều cây bút giàu kinh nghiệm như Nguyễn Duy Quyền, Trần Đức Khang, Nguyễn Văn Tông, Đặng Vương Hưng, Nguyễn Quốc Trí, Ma Đình Việt, Hoàng Thiềng, Đinh Hồng Phước… phải tạm rời mái nhà chung, tỏa đi công tác tại nhiều cơ quan báo chí trong và ngoài Quân đội để tiếp tục theo đuổi nghề báo và ổn định cuộc sống. Dẫu ở đâu, tình yêu dành cho Báo Quân khu Một và khát vọng một ngày tờ báo được tái sinh vẫn luôn âm ỉ cháy trong lòng mỗi người.
Tòa soạn từng nhộn nhịp ngày nào giờ chỉ còn lại vài chiếc máy ảnh, máy phóng ảnh đen trắng và chiếc máy đánh chữ đã bạc màu theo năm tháng. Tất cả được cẩn thận thu gom, niêm cất trong kho vật tư của Cục Chính trị. Những kỷ vật tưởng như lặng im ấy vẫn lưu giữ ký ức về một thời làm báo đầy gian khó nhưng rất đỗi tự hào, đồng thời nuôi dưỡng niềm tin rằng sẽ có ngày tiếng nói của Báo Quân khu Một lại được cất lên trên mảnh đất giàu truyền thống cách mạng.

Ngày đầu làm báo Quân khu
Bước vào căn phòng được gọi là “tòa soạn” ngày ấy, trước mắt tôi chỉ là một không gian trống trải. Chiếc máy đánh chữ Erika của Đức nằm lặng lẽ dưới lớp bụi thời gian như chứng nhân của một thời làm báo đã lùi vào dĩ vãng. Nhìn những kỷ vật ấy, tôi không khỏi day dứt: Chẳng lẽ tờ báo – tiếng nói của lực lượng vũ trang Quân khu, một vũ khí sắc bén trên mặt trận tư tưởng, văn hóa – sẽ mãi chỉ còn trong ký ức? Câu hỏi ấy cứ đau đáu trong tôi và nhiều đồng đội, thôi thúc khát vọng khôi phục lại tờ báo giàu truyền thống.
Nhận thức rõ vai trò của báo chí trong công tác lãnh đạo, chỉ đạo và tuyên truyền, Bộ Tư lệnh Quân khu 1 đã đưa ra một quyết định mang ý nghĩa bước ngoặt. Sau ba năm tạm dừng hoạt động (1991-1994), ngày 14/7/1994, Thiếu tướng Đàm Văn Ngụy, Tư lệnh Quân khu 1, ký quyết định khôi phục tờ báo với tên gọi “Tờ Tin Quân khu Một”. Đó không chỉ là quyết định khôi phục một ấn phẩm báo chí, mà còn là sự hồi sinh của tiếng nói chính thống của lực lượng vũ trang Quân khu trong bối cảnh đất nước đang chuyển mình từ cơ chế bao cấp sang nền kinh tế thị trường với nhiều khó khăn, thách thức.
Thời điểm ấy, tôi đang là Chủ nhiệm Nhà Văn hóa Quân khu thì được Bộ Tư lệnh điều động sang phụ trách tờ báo. Đi cùng quyết định là một mệnh lệnh rất rõ ràng: bằng mọi giá phải xuất bản số báo đầu tiên của bộ mới vào đúng dịp 22/12/1994, kỷ niệm 50 năm Ngày thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam.
Nhận nhiệm vụ, trong tôi đan xen nhiều cảm xúc. Tôi vui vì sau những năm tháng im tiếng, Báo Quân khu Một đã có cơ hội trở lại. Nhưng nỗi lo cũng không hề nhỏ. Dù đã nhiều năm cầm bút, tôi chưa từng điều hành một cơ quan báo chí. Trước mắt chúng tôi gần như là con số không: không tòa soạn đúng nghĩa, không trang thiết bị, không quy trình làm báo hoàn chỉnh, mọi việc đều phải bắt đầu lại từ đầu.
Những ngày đầu, tòa soạn chỉ có bảy cán bộ. Tôi phụ trách chung; cùng đồng hành có các anh Nguyễn Xuân Đán – Thư ký tòa soạn, chuyển về từ Báo Quân đoàn 3, Ngô Đức Thụ, Trần Quyết, Nguyễn Hoàng Sáu, Bùi Hiệp và sau này có thêm Khương Doãn. Đó là lực lượng nòng cốt đặt những viên gạch đầu tiên cho sự hồi sinh của tờ báo.
Khôi phục một tờ báo không chỉ là dựng lại một cơ quan, mà còn là gây dựng lại niềm tin. Chúng tôi lặn lội tìm lại mạng lưới cộng tác viên, vận động từng đơn vị gửi tin, bài, gom góp từng bản thảo. Có những đêm đông Việt Bắc rét cắt da cắt thịt, cả tòa soạn vẫn thức trắng bên chiếc máy đánh chữ, cặm cụi biên tập từng dòng tin, sửa từng câu chữ, cân nhắc từng tít bài để kịp ngày lên khuôn.
Thiếu thốn đủ bề, nhưng chính trong gian khó ấy, tinh thần người lính cầm bút càng được tôi luyện. Mỗi số báo ra đời là kết quả của sự đoàn kết, trách nhiệm và niềm tin vào giá trị của báo chí cách mạng. Khi những trang báo đầu tiên của bộ mới đến được với cán bộ, chiến sĩ nơi biên giới, đó không chỉ là niềm vui của những người làm báo, mà còn là dấu mốc khẳng định sự trở lại của tiếng nói Báo Quân khu Một sau ba năm gián đoạn, mở đầu cho một chặng đường phát triển mới.

Nhà báo “xe ôm” – chuyện cười ra nước mắt
Những ngày đầu khôi phục tờ báo, khó khăn lớn nhất là nguồn tin, bài còn rất hạn chế. Đồng chí Thiếu tướng Phùng Khắc Đăng, Phó Tư lệnh về Chính trị Quân khu (sau này là Trung tướng, Phó Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam), đã trực tiếp chỉ đạo và gợi mở phương pháp tạo nguồn tin. Thấm nhuần tinh thần ấy, chúng tôi nhanh chóng triển khai cách làm từng được các thế hệ đi trước vận dụng, xây dựng mạng lưới cộng tác viên, thông tin viên và “đặt cọc” bài viết ở các cơ quan, đơn vị. Chỉ sau một thời gian ngắn, nguồn tin, bài dần ổn định, phong phú cả về số lượng lẫn chất lượng.
Nhờ sự chung sức ấy, số báo đầu tiên của bộ mới chào mừng kỷ niệm 50 năm Ngày thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam được xuất bản đúng kế hoạch, gồm 8 trang, in hai màu và nhận được sự đón nhận nồng nhiệt của cán bộ, chiến sĩ cùng đông đảo bạn đọc.
Ít ai biết rằng, phía sau số báo đầu tiên ấy là cả một hành trình đầy nhọc nhằn. Khi đó, xưởng in của Quân khu vẫn sử dụng máy typo cũ, không đáp ứng yêu cầu chế bản và in ấn. Mỗi khi hoàn thành biên tập, chúng tôi lại ôm từng xấp bản thảo xuống Nhà in Báo Quân đội nhân dân ở Hà Nội để chế bản, in rồi tự vận chuyển báo trở về Thái Nguyên.
Vất vả nhất là khâu phát hành. Tôi khi ấy là Tổng Biên tập, còn anh Nguyễn Xuân Đán là Thư ký Tòa soạn. Hai anh em dùng chính chiếc xe máy cá nhân làm phương tiện chở báo. Những bó báo nặng trĩu được bọc kín bằng nilon, buộc chằng chịt phía sau yên xe rồi lầm lũi vượt gần một trăm cây số trở về Quân khu. Có lần, giữa đêm đông mưa phùn rét buốt, xe bất ngờ chết máy giữa quãng đường vắng. Hai anh em vừa dắt bộ vừa tìm nơi sửa xe, động viên nhau bằng một câu nói đến nay tôi vẫn nhớ: “Người có thể ướt, nhưng báo của chiến sĩ thì không thể ướt.” Mãi gần nửa đêm, chúng tôi mới đưa được những xấp báo an toàn về đơn vị.
Nhưng kỷ niệm đáng nhớ nhất lại bắt đầu từ một… hiểu lầm.
Hôm ấy, trên đường từ Hà Nội trở về, chúng tôi ghé vào quán nước ở đầu phố Nỷ, Sóc Sơn (nay thuộc xã Trung Giã, Hà Nội). Chiếc xe vừa dừng lại thì một nhóm xe ôm địa phương lập tức vây quanh, lớn tiếng xua đuổi. Nhìn hai người đàn ông quần áo lấm bụi, đi chiếc xe máy cũ kỹ, phía sau chất đầy hàng hóa, họ tưởng chúng tôi là “xe ôm tỉnh lẻ” đến tranh khách.
Trước tình huống bất ngờ ấy, hai anh em chỉ biết nhìn nhau cười. Tôi nhẹ nhàng mở lớp nilon, rút hai tờ Báo Quân khu Một còn thơm mùi mực in, kính cẩn đưa cho bác trưởng nhóm xe ôm và chị chủ quán rồi giải thích: “Các bác thông cảm, chúng em là nhà báo Quân khu 1, đang chở báo về cho bộ đội, chứ không phải xe ôm tranh khách.”
Không khí lập tức đổi khác. Những ánh mắt căng thẳng nhường chỗ cho sự ngỡ ngàng rồi ái ngại. Thấy dòng chữ “Báo Quân khu Một” và hình ảnh người lính trên trang nhất, mọi người vội vàng xin lỗi. Chị chủ quán nhất quyết không lấy tiền nước, còn mấy anh xe ôm thì xúm lại giúp buộc chặt những bó báo trước khi tiễn chúng tôi tiếp tục lên đường.
Sau này, câu chuyện “nhà báo xe ôm” trở thành một giai thoại vui của tòa soạn. Mỗi lần nhắc lại, ai cũng bật cười, nhưng phía sau tiếng cười ấy là ký ức về những năm tháng làm báo đầy gian khó, khi người làm báo phải kiêm luôn cả biên tập viên, phát hành, lái xe và bốc vác. Hơn thế, câu chuyện còn nhắc chúng tôi về nghĩa tình quân – dân bình dị mà sâu nặng: chỉ cần một lời chân thành và một tờ báo còn thơm mùi mực, mọi hiểu lầm đều có thể hóa thành sự cảm thông, sẻ chia.

Hạnh phúc người làm báo
Suốt hơn mười năm gắn bó với Báo Quân khu Một trong muôn vàn thiếu thốn, điều khiến chúng tôi hạnh phúc nhất không phải là những lời khen hay thành tích đạt được, mà là khoảnh khắc những bó báo còn thơm mùi mực in đến tay cán bộ, chiến sĩ. Mỗi lần xe vừa về đến cổng đơn vị, thấy anh em hồ hởi chạy ra đón, chuyền tay nhau từng tờ báo, bao nhọc nhằn của những đêm thức trắng, những chuyến đi xuyên mưa rét dường như tan biến. Chính tình cảm chân thành của người lính nơi biên cương đã trở thành nguồn động lực để những người làm báo Quân khu bền bỉ vượt qua mọi gian khó.
Cùng với sự phát triển của đất nước và Quân đội, Báo Quân khu Một từng bước trưởng thành. Được sự quan tâm của Đảng ủy, Bộ Tư lệnh Quân khu và Cục Chính trị, đội ngũ những người làm báo ngày càng được kiện toàn; cơ sở vật chất, trang thiết bị từng bước được đầu tư đồng bộ. Từ một tờ báo in còn nhiều khó khăn, Báo Quân khu Một đã phát triển theo hướng đa phương tiện với đầy đủ các loại hình báo in, báo hình và báo điện tử. Đội ngũ phóng viên, biên tập viên được đào tạo bài bản, bản lĩnh hơn trong tác nghiệp, sẵn sàng có mặt ở những nơi khó khăn, nguy hiểm nhất để hoàn thành nhiệm vụ.
Tinh thần ấy được thể hiện rõ trong trận lũ lịch sử xảy ra tại Thái Nguyên tháng 7/2001. Toàn bộ cán bộ, phóng viên của Báo lập tức có mặt tại tâm lũ để ghi lại những hình ảnh chân thực nhất về công tác cứu hộ, cứu nạn của lực lượng vũ trang Quân khu 1. Nhiều khán giả đến nay vẫn còn nhớ hình ảnh những chiếc xe bọc thép BRDM-2 rẽ dòng nước lũ, đưa các thí sinh đến địa điểm thi đại học an toàn.
Để những hình ảnh ấy kịp thời đến với cả nước, anh em phóng viên đã sáng tạo phương thức tác nghiệp “song song cách hai”. Trong khi một tổ khẩn trương vượt đường ngập lũ đưa băng hình về Hà Nội, tổ còn lại hoàn thiện lời bình và gửi fax tới Đài Truyền hình Việt Nam. Chỉ hơn ba giờ sau khi sự kiện diễn ra, phóng sự “Lực lượng vũ trang Quân khu 1 cứu dân thoát khỏi vùng lũ” đã được phát sóng trên VTV1. Đó không chỉ là thành công về mặt nghiệp vụ, mà còn là minh chứng cho bản lĩnh, sự nhanh nhạy và tinh thần dấn thân của người chiến sĩ cầm bút.
Từ thực tiễn công tác, Báo Quân khu Một còn chủ động tham mưu với Đảng ủy, Bộ Tư lệnh Quân khu nhiều giải pháp tuyên truyền có chiều sâu, góp phần củng cố trận địa tư tưởng và xây dựng “thế trận lòng dân” vững chắc trên địa bàn. Nhiều chuyên đề được Tổng cục Chính trị đánh giá cao, khẳng định vai trò của cơ quan báo chí lực lượng vũ trang trong thực hiện nhiệm vụ chính trị.
Năm 2026, Báo Quân khu Một tròn 80 năm xây dựng và phát triển (19/8/1946 – 19/8/2026). Tám mươi năm là một hành trình đầy tự hào, từ những số báo “Chiến Khu” in trong khói lửa kháng chiến, những trang báo được chở bằng xe máy vượt mưa rét sau ngày tái lập, đến một cơ quan báo chí đa phương tiện hiện đại hôm nay. Dẫu thời gian đổi thay, phương thức làm báo không ngừng phát triển, nhưng điều không bao giờ thay đổi vẫn là bản lĩnh chính trị, lòng trung thành với Đảng, với Tổ quốc và Nhân dân, cùng ngọn lửa đam mê của các thế hệ người lính cầm bút.
Nhìn lại chặng đường đã qua, tôi càng thêm tin tưởng rằng truyền thống vẻ vang của tờ báo “Chiến Khu” năm xưa sẽ tiếp tục được các thế hệ cán bộ, phóng viên, biên tập viên Báo Quân khu Một gìn giữ, bồi đắp và phát huy, để tiếng nói của lực lượng vũ trang Quân khu mãi đồng hành cùng sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong giai đoạn mới.
Văn Học/ Nguyên TBT báo Quân khu Một


