Chủ Nhật, Tháng 8 9, 2026
* Email: bbt.dongnama@gmail.com *Tòa soạn: 0989011688 - 0768908888
spot_img
[gtranslate]

Một nhịp cầu quyền con người từ Khánh Hòa đến đất Mũi



ĐNA -

Ngày 8/8/2026, Văn phòng đại diện Trung tâm Nghiên cứu Quyền con người vùng dân tộc, miền núi (HRC) phía Nam tại TPHCM chính thức được thành lập tại số 103, đường số 4, phường Dĩ An, TPHCM. Việc thành lập văn phòng không chỉ mở thêm một đầu mối hoạt động nghiên cứu, mà còn hướng tới đưa khoa học, pháp luật và chính sách đến gần hơn với cơ sở. Trọng tâm hoạt động là khảo sát nhu cầu thực tiễn, kết nối chuyên gia, phổ biến pháp luật và đề xuất các giải pháp phù hợp với từng cộng đồng, góp phần bảo đảm sinh kế và quyền, lợi ích chính đáng của người dân thuộc diện dân tộc thiểu số từ Khánh Hòa đến các tỉnh Nam Bộ.

Thiếu tướng Nguyễn Hữu Dánh, Giám đốc Trung tâm phát biểu chỉ đạo tại Hội nghị. Ảnh: Lê Nguyễn

Xác lập đầu mối bám sát địa bàn
Văn phòng đại diện HRC phía Nam được thành lập theo Quyết định số 03/QĐ-HĐQL của Trung tâm Nghiên cứu Quyền con người vùng dân tộc, miền núi, đặt trụ sở tại số 103, Đường số 4, Trung tâm Hành chính Dĩ An, phường Dĩ An, TPHCM. Thượng tá Mai Văn Em, nguyên Phó Tổng Biên tập Báo Công an TPHCM, được giao nhiệm vụ Trưởng Văn phòng.

Dự lễ công bố có Thiếu tướng Nguyễn Hữu Dánh, Giám đốc Trung tâm HRC; Thượng tá Mai Văn Em, Trưởng Văn phòng đại diện; cùng cán bộ, nhân viên Văn phòng, đại diện chính quyền địa phương, Cục an ninh nội địa Bộ Công an, Tạp chí đông Nam ÁNgười lính Phương Nam và một số cơ quan doanh nghiệp đóng trên địa bàn.

Phát biểu giao nhiệm vụ, Thiếu tướng Nguyễn Hữu Dánh yêu cầu Văn phòng hoạt động đúng chức năng, nhiệm vụ và quy định pháp luật; đồng thời phải bám sát địa bàn, trực tiếp tiếp xúc với người dân để nhận diện những khó khăn, vướng mắc trong đời sống, sinh kế cũng như quá trình tiếp cận chính sách của đồng bào dân tộc, miền núi.

Theo đó, hoạt động của Văn phòng không dừng ở việc nghiên cứu trên cơ sở lý luận mà phải xuất phát từ thực tiễn cơ sở. Những vấn đề phát sinh từ đời sống người dân cần được khảo sát, phân tích, từ đó nghiên cứu và kiến nghị các giải pháp phù hợp. Cùng với đó, Văn phòng có nhiệm vụ đẩy mạnh tuyên truyền, phổ biến pháp luật, giúp người dân hiểu đúng về quyền con người, quyền và nghĩa vụ của công dân.

Các nhiệm vụ trọng tâm của Văn phòng gồm nghiên cứu khoa học; ứng dụng khoa học, kỹ thuật và công nghệ; tư vấn, phản biện; truyền thông, phổ biến pháp luật, quyền con người và các vấn đề liên quan đến công tác dân tộc, miền núi. Văn phòng đồng thời phối hợp nghiên cứu, đề xuất các đề tài, đề án, dự án phù hợp với yêu cầu thực tiễn; tăng cường phối hợp với cơ quan, tổ chức, đơn vị và chính quyền địa phương, bảo đảm mọi hoạt động đúng phạm vi, chức năng và thẩm quyền được giao.

Tiếp thu chỉ đạo của lãnh đạo Trung tâm, Thượng tá Mai Văn Em, trưởng văn phòng đại diện cho biết nhiệm vụ trước mắt là ổn định tổ chức, xây dựng tinh thần đoàn kết, từng bước hình thành mạng lưới kết nối các chuyên gia, nhà khoa học, cộng tác viên và thiết lập cơ chế phối hợp với các địa phương trong khu vực.

Theo Trưởng Văn phòng, những vấn đề tác động trực tiếp đến đời sống người dân sẽ được ưu tiên khảo sát, trong đó tập trung vào khả năng tiếp cận pháp luật, giáo dục, y tế, sinh kế, môi trường và bảo tồn các giá trị văn hóa. Việc triển khai sẽ được thực hiện theo từng địa bàn, căn cứ vào nhu cầu và đặc điểm thực tế, qua đó tránh tình trạng dàn trải, hình thức.

Với định hướng này, Văn phòng đại diện HRC phía Nam xác định vai trò là đầu mối nghiên cứu, tư vấn và phối hợp, lấy thực tiễn cơ sở làm điểm xuất phát. Từ việc nhận diện vấn đề, tổ chức khảo sát, thu thập và phân tích dữ liệu đến huy động chuyên gia, kết quả nghiên cứu sẽ được chuyển hóa thành những kiến nghị có cơ sở, hướng tới các giải pháp thiết thực và phù hợp với từng địa bàn, từng cộng đồng dân cư.

Thượng tá Mai Văn Em nhận Quyết định bổ nhiệm Trưởng Văn phòng đại diện. Ảnh: Lê Nguyễn

Kết nối nghiên cứu với thực tiễn và truyền thông
Ở góc độ kết nối và phối hợp truyền thông, đại diện Tạp chí Đông Nam Á cho rằng đây là phần việc cần được triển khai song song với hoạt động nghiên cứu. Chính sách và kết quả nghiên cứu nếu chỉ dừng lại ở các báo cáo sẽ khó tiếp cận đầy đủ với cộng đồng. Vì vậy, sự phối hợp giữa hai đơn vị cần hướng tới việc cung cấp thông tin có căn cứ, giải thích chính sách theo cách dễ tiếp cận nhưng vẫn bám sát cơ sở lý luận; đồng thời tiếp nhận, phản ánh những vấn đề phát sinh từ đời sống để chuyển tải trở lại cơ quan nghiên cứu và các đơn vị có trách nhiệm.

Hiến pháp quy định các quyền con người, quyền công dân được công nhận, tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm; các dân tộc bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng, giúp nhau cùng phát triển, nghiêm cấm mọi hành vi kỳ thị, chia rẽ dân tộc. Để những nguyên tắc này thực sự đi vào đời sống, cần một quá trình liên tục từ xây dựng chính sách, tổ chức thực hiện đến theo dõi khả năng tiếp cận và thụ hưởng của người dân tại từng địa bàn.

Thiếu tướng Nguyễn Hữu Dánh, Giám đốc Trung tâm HRC trao quyết định bổ nhiệm nhân sự Văn phòng Đại diện.

Kết quả khảo sát điểm dân cư của đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi
Từ Khánh Hòa vào các tỉnh phía Nam, đặc điểm dân cư và điều kiện kinh tế – xã hội có sự khác biệt rõ rệt. Tại Nam Trung Bộ có các cộng đồng Raglai, Chăm và cư dân sinh sống ở khu vực miền núi, ven biển. Ở Đông Nam Bộ, quá trình đô thị hóa và di cư lao động tạo nên những biến động đáng kể về cơ cấu dân cư và nhu cầu xã hội. Trong khi đó, tại Đồng bằng sông Cửu Long, đồng bào Khmer, Hoa, Chăm cùng các dân tộc khác sinh sống đan xen ở khu vực nông thôn, đô thị và vùng ven biển, với nhu cầu tiếp cận giáo dục, y tế, pháp luật và việc làm không hoàn toàn giống nhau.

Kết quả Điều tra thu thập thông tin về thực trạng kinh tế – xã hội của 53 dân tộc thiểu số năm 2024 cho thấy cả nước có hơn 14 triệu người thuộc 53 dân tộc thiểu số. Riêng Đồng bằng sông Cửu Long có hơn 1,3 triệu người, trong đó gần 1 triệu người sinh sống ở khu vực nông thôn. Theo phạm vi và địa giới tại thời điểm điều tra, toàn vùng có 390 xã vùng dân tộc thiểu số với 2.899 thôn thuộc các xã này.

Quy mô dân cư lớn, địa bàn rộng và đặc điểm cộng đồng đa dạng đặt ra yêu cầu phải thay đổi cách tiếp cận trong nghiên cứu, truyền thông và phổ biến chính sách. Tại Hội nghị toàn quốc về Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế – xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2021-2025, Thủ tướng Phạm Minh Chính đánh giá việc triển khai các chương trình mục tiêu quốc gia còn manh mún, thiếu đồng bộ và trọng tâm. Trên cơ sở đó, ba chương trình về xây dựng nông thôn mới, giảm nghèo bền vững và phát triển vùng đồng bào dân tộc thiểu số, miền núi được hợp nhất trong giai đoạn 2026-2035; riêng giai đoạn 2026-2030 dự kiến bố trí khoảng 160.000 tỷ đồng.

Những con số trên cho thấy phạm vi triển khai chính sách không chỉ rộng về không gian mà còn đa dạng về đặc điểm dân cư và nhu cầu thụ hưởng. Một chương trình phổ biến pháp luật hay một cuộc khảo sát xã hội nếu chỉ được tổ chức tại trung tâm tỉnh, thành phố sẽ khó phản ánh đầy đủ những vấn đề đang đặt ra ở cơ sở.

Do đó, việc lựa chọn địa bàn khảo sát, phương thức tiếp cận, ngôn ngữ truyền đạt và thời điểm tổ chức cần được xác định trên cơ sở đặc điểm của từng cộng đồng. Cùng một chính sách nhưng cách truyền đạt và tổ chức thực hiện có thể cần những phương thức khác nhau để người dân hiểu, tiếp cận và thực sự thụ hưởng. Đây cũng là khoảng trống mà hoạt động nghiên cứu, tư vấn và truyền thông cần phối hợp để thu hẹp: đưa chính sách đến gần người dân hơn, đồng thời đưa tiếng nói và những vấn đề từ cơ sở trở lại quá trình nghiên cứu, kiến nghị và hoàn thiện giải pháp.

Trưởng Văn phòng Đại diện, Thượng tá Mai Văn Em phát biểu nhận nhiệm vụ

Đưa nghiên cứu và chính sách về gần địa bàn
Năm 2026, các chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới, giảm nghèo bền vững và phát triển kinh tế – xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số, miền núi bước vào giai đoạn triển khai mới. Chính phủ đã ban hành các cơ chế phân bổ nguồn lực, thành lập Ban Chỉ đạo Trung ương, hướng dẫn những nội dung thuộc lĩnh vực dân tộc, tôn giáo và giao bổ sung dự toán cho các địa phương. Trong quá trình này, yêu cầu xuyên suốt là bảo đảm nguồn lực được sử dụng đúng đối tượng, công khai và gắn với đánh giá kết quả thực chất.

Trong bối cảnh đó, Văn phòng đại diện HRC phía Nam có thể phát huy vai trò đúng với chức năng của một đơn vị nghiên cứu, tư vấn và phối hợp: khảo sát nhu cầu, thu thập và tổng hợp bằng chứng, tư vấn giải pháp, tham gia phản biện chương trình, đồng thời truyền thông và phổ biến pháp luật. Mỗi hoạt động cần được đặt trong một câu hỏi cụ thể: địa bàn đang thiếu dữ liệu gì, nhóm dân cư nào đang gặp trở ngại, vấn đề thuộc thẩm quyền của cơ quan nào và kết quả nghiên cứu sẽ được chuyển đến đâu.

Không dàn trải, bắt đầu từ những địa bàn đại diện. Một trong những nhiệm vụ có thể ưu tiên là khảo sát nhu cầu tại một số địa bàn đại diện, thay vì triển khai đồng loạt trên diện rộng. Có thể lựa chọn một khu vực miền núi tại Nam Trung Bộ, một địa bàn chịu tác động mạnh của đô thị hóa ở Đông Nam Bộ, một khu vực có đông đồng bào Khmer và một địa bàn ven biển Đồng bằng sông Cửu Long.

Điều quan trọng không chỉ là số lượng cuộc khảo sát mà là chất lượng thông tin thu được. Mỗi khảo sát cần xác định rõ đối tượng, phương pháp tiếp cận, thời gian thực hiện, nguồn dữ liệu và sản phẩm đầu ra. Khi dữ liệu đủ cụ thể, nghiên cứu mới có thể chỉ ra vấn đề nằm ở đâu, tác động đến nhóm nào và cần điều chỉnh giải pháp theo hướng nào.

Cùng với khảo sát, phổ biến pháp luật cần chuyển từ cách tiếp cận chung sang cách tiếp cận theo nhu cầu thực tế. Những nội dung gần với đời sống như đất đai, hộ tịch, hôn nhân và gia đình, bảo hiểm y tế, quyền trẻ em, phòng, chống bạo lực, an toàn trên môi trường mạng, vay vốn và dịch vụ công cần được ưu tiên.

Tài liệu tuyên truyền cần ngắn gọn, chính xác, đúng quy định và dễ sử dụng; đồng thời phải có kênh để người dân chuyển câu hỏi, phản ánh hoặc vướng mắc đến cơ quan có thẩm quyền. Ở những địa bàn cần thiết, hoạt động truyền đạt có thể phối hợp với người có uy tín trong cộng đồng, chức sắc tôn giáo, giáo viên hoặc cán bộ có khả năng sử dụng tiếng dân tộc. Đây không chỉ là lựa chọn về phương thức truyền thông mà còn là cách tăng khả năng chính sách được hiểu đúng và tiếp cận đúng đối tượng.

Kết nối chuyên gia với những vấn đề cụ thể. Một vấn đề phát sinh ở cơ sở thường không thuộc riêng một lĩnh vực. Tình trạng trẻ em bỏ học có thể liên quan đồng thời đến thu nhập gia đình, khoảng cách địa lý, ngôn ngữ và điều kiện sinh hoạt. Khó khăn trong khám, chữa bệnh có thể xuất phát từ thủ tục, giao thông, khả năng tiếp cận thông tin hoặc kỹ năng số.

Vì vậy, mạng lưới chuyên gia và cộng tác viên tại chỗ cần được xây dựng theo từng nhóm vấn đề. Bên cạnh chuyên gia pháp luật, cần có sự tham gia của các nhà nghiên cứu xã hội học, y tế, giáo dục, môi trường và những người am hiểu văn hóa, phong tục của từng cộng đồng. Sự kết nối này giúp một vấn đề được nhìn nhận đầy đủ hơn, thay vì chỉ xử lý từ một góc độ chuyên môn.

Vừa qua, Trung tâm đã phối hợp tổ chức hội nghị nâng cao đời sống kinh tế – xã hội cho người dân vùng đồng bào dân tộc, miền núi tại Thái Nguyên và hỗ trợ cơ sở vật chất cho Trường Phổ thông Dân tộc nội trú THCS Đồng Hỷ. Những hoạt động này có thể là kinh nghiệm tham khảo trong quá trình triển khai. Tuy nhiên, địa bàn phía Nam có đặc điểm dân cư, sinh kế, tôn giáo và văn hóa khác biệt, vì vậy cần những phương thức tổ chức phù hợp với từng vùng, từng cộng đồng.

Sinh kế phải gắn với điều kiện của từng vùng. Đối với Đồng bằng sông Cửu Long, nghiên cứu về sinh kế cần đặt trong mối quan hệ với nông nghiệp, thủy sản và việc làm nông thôn. Sáu tháng đầu năm 2026, toàn vùng gieo cấy hơn 1,25 triệu ha lúa đông xuân; đến ngày 20/6, đã xuống giống hơn 1,14 triệu ha lúa hè thu. Quy mô sản xuất này cho thấy một bộ phận lớn người dân vẫn phụ thuộc trực tiếp vào thị trường nông sản, nguồn nước, kỹ thuật canh tác và khả năng liên kết tiêu thụ.

Do đó, các đề xuất hỗ trợ sinh kế không nên chỉ dừng ở những giải pháp ngắn hạn. Nghiên cứu có thể tập trung vào khả năng tham gia hợp tác xã, đào tạo nghề theo nhu cầu của doanh nghiệp, thương mại điện tử, phát triển nghề truyền thống, sản phẩm bản địa và tiếp cận các nguồn tín dụng hợp pháp.

Mỗi mô hình thí điểm, nếu được triển khai, cần công khai nguồn lực, tiêu chí lựa chọn người tham gia, cơ quan phối hợp và phương pháp đánh giá. Đây là những yếu tố cần thiết để phân biệt một mô hình có thể nhân rộng với một hoạt động hỗ trợ đơn lẻ.

Chuyển đổi số cũng cần được nhìn từ quyền tiếp cận thông tin và dịch vụ công của người dân, nhất là đồng bào dân tộc thiểu số ở khu vực nông thôn, vùng sâu, nơi còn hạn chế về thiết bị, đường truyền và kỹ năng sử dụng. Dữ liệu phục vụ nghiên cứu phải có nguồn gốc rõ ràng, bảo đảm quyền riêng tư và bảo vệ thông tin cá nhân; đồng thời không để quá trình số hóa vô tình tạo thêm khoảng cách trong khả năng tiếp cận chính sách giữa các nhóm dân cư.

Tại Đồng bằng sông Cửu Long, môi trường và nguồn nước cũng là những vấn đề gắn trực tiếp với đời sống và sản xuất. Xâm nhập mặn, sụt lún và việc khai thác nước dưới đất tại một số nơi đặt ra yêu cầu quản lý chặt chẽ hơn. Đối với đồng bào dân tộc thiểu số, cần chú ý khả năng tiếp cận nguồn nước an toàn, ổn định, nhất là tại khu vực nông thôn, ven biển và những nơi sinh kế phụ thuộc nhiều vào nông nghiệp, thủy sản.

Đo hiệu quả bằng kết quả đến với người dân. Buổi lễ ra mắt không phải là điểm hoàn thành, mà là điểm bắt đầu của một chương trình công tác cần được kiểm chứng bằng kết quả cụ thể. Hiệu quả của Văn phòng không chỉ nằm ở số lượng hội nghị, cuộc khảo sát hay báo cáo được thực hiện, mà ở việc những vấn đề được phát hiện có được nghiên cứu đến nơi đến chốn, kiến nghị có được chuyển đúng cơ quan và cộng đồng có thực sự tham gia vào quá trình đó hay không.

Vì vậy, báo cáo định kỳ cần làm rõ những việc đã thực hiện, nguồn kinh phí, địa bàn, nhóm đối tượng thụ hưởng, kết quả đạt được, hạn chế và phương án khắc phục. Công khai những nội dung này cũng là cách tạo cơ sở để đánh giá khách quan hoạt động của Văn phòng và mức độ thiết thực của các chương trình nghiên cứu, tư vấn, phối hợp.

Các Đại biểu tham dự chụp hình lưu niệm.

Từ Khánh Hòa đến Cà Mau, khoảng cách trong tiếp cận chính sách không thể được thu hẹp chỉ bằng những thông điệp chung. Văn phòng đại diện HRC phía Nam chỉ có thể tạo dấu ấn khi thực hiện đúng chức năng, lựa chọn đúng vấn đề và làm việc cùng địa phương trên nền tảng dữ liệu, pháp luật và trách nhiệm nghề nghiệp.

Khi nghiên cứu bắt đầu từ một vấn đề cụ thể của người dân, kết thúc bằng một kiến nghị có địa chỉ; khi chính sách được chuyển tải bằng phương thức phù hợp với từng cộng đồng; và khi kết quả được công khai, kiểm chứng, những định hướng đặt ra tại buổi ra mắt mới có thể thực sự trở thành một nhịp cầu đưa nghiên cứu, pháp luật và chính sách đến gần hơn với đời sống.

Trọng Nguyễn – Lê Nguyễn